I Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài :
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế ngày nay, giáo dục được coi là một lĩnh
vực rất quan trọng và luôn đi trước một bước trong sự phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia. Vì vậy vấn đề chất lượng dạy - học nói chung và dạy học Hóa học nói
riêng ngày càng trở thành mối quan tâm chung của các nhà sư phạm cũng như
các nhà quản lý giáo dục và xã hội. Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo
dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Điều
đó đã được thể hiện trong các Nghị quyết của Trung ương.
- “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học;
bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh.”(mục 2 điều 28)
Như vậy, giáo dục phổ thông không phải là truyền thụ kiến thức đơn
thuần mà chú trọng hơn tới:
- Bồi dưỡng năng lực tự học, học suốt đời, học để nâng cao trình độ chuyên
môn, học để chuyển đổi nghề nghiệp….
- Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề nảy
sinh trong đời sống, lao động và sản xuất.
- Khích lệ học sinh phát huy tính chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, phát
huy tính sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống có vấn
đề nảy sinh trong học tập và trong thực tiễn.
Môn hoá học trường phổ thông cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kĩ
năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống. Nội dung chủ
yếu bao gồm cấu tạo chất, sự biến đổi của các chất, những ứng dụng và tác hại
của các chất trong đời sống, sản xuất, môi trường. Những nội dung này góp phần
giúp học sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thể tiếp tục học lên
đồng thời có thể giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hoá học trong đời
sống và sản xuất, mặt khác góp phần phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề cho học sinh
hệ đi trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ
bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ, lại có tác
dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học bên cạnh đó có
một số kiến thức mà học sinh học không thể thuộc , dễ nhầm lẫn thì tôi bày cho
học sinh cách nhớ bằng những câu đọc vui làm cho hóa học không khô khan, bớt
đi tính đặc thù và phức tạp.
Trong phạm vi đề tài tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề trong
thực tiễn để có thể để nâng cao hiệu quả dạy - học môn hóa học ở trường THPT
bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học mà chỉ nêu
lên một vài suy nghĩ, đề xuất của cá nhân coi đó là kinh nghiệm qua một số ví dụ
minh họa, với mong muốn góp phần tạo ra và phát triển phương pháp dạy hóa
học hiệu quả qua các bài giảng hóa học, góp phần cho học sinh học hóa dễ hiểu,
thiết thực, gần gũi với đời sống và lôi cuốn học sinh khi học; để hoá học không
còn mang tính đặc thù khó hiểu như một "thuật ngữ khoa học".
Đề tài này nghiên cứu và áp dụng cho đối tượng học sinh tại các lớp tôi
giảng dạy. Có thể áp dụng cho các tiết dạy Hóa học ở trường phổ thông.
3. Đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài này là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh
hơn về những tri thức, hiểu biết về thế giới quan , các hiện tượng tự nhiên thông
qua các bài học, giờ thực hành...của hoá học trong chương trình phổ thông ,đồng
thời là cơ sở phát huy tính sáng tạo đưa những ứng dụng phục vụ trong đời sống
của con người. Hóa học góp phần giải tỏa , xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm hại đến
đời sống, tinh thần con người...
2
1."Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên
và cuộc sống" nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học môn hóa học ở trường THPT
bằng việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học, bằng cách
nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường sau khi đã kết thúc
Trong đề tài này tôi đã thực hiện thiết kế kiểm tra sau tác động với các
nhóm ngẫu nhiên.
+ Nhóm 1 là các học sinh ở các lớp 11B1, 11B2: áp dụng thường xuyên trong bài
học việc “vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên
và cuộc sống”.
3
+ Nhóm 2 là các học sinh ở các lớp 11B4, 12C5 :áp dụng không thường xuyên
hoặc không áp dụng trong bài học việc “vận dụng kiến thức Hóa học để giải thích
các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống”.
Kết quả được đo thông qua việc so sánh độ chênh lệch về kết quả tiếp thu
kiến thức, kỹ năng, thái độ sôi nổi của học sinh trong giờ học.
Thiết kế này giúp tôi so sánh hiệu quả của hai phương pháp dạy học khác
nhau: một phương pháp áp dụng thường xuyên việc “vận dụng kiến thức Hóa học
để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống” trong các bài học Hóa
học và một phương pháp không áp dụng hoặc ít áp dụng .
Để tổ chức thực hiện được giáo viên có thể dùng nhiều phương tiện, nhiều
cách như: Bằng lời giải thích, bằng hình ảnh, đoạn phim, bài hát,… có thể tiến
hành dạy trong hoàn cảnh dùng máy chiếu hay không dùng máy chiếu… điều này
cần phụ thuộc vào giáo viên ở mỗi trường THPT, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể và
phong cách dạy khác nhau để huy động tối đa vì hiệu quả giáo dục với nội dung
đề tài này, có những kinh nghiệm có thể áp dụng cho nhiều người, nhưng có
những phong cách không thể áp dụng cho giáo viên khác. Vì phong cách dạy “nó
như tính cách của mỗi con người không thể ai cũng giống ai” nhưng đảm bảo
được nội dung dạy học theo yêu cầu của chương trình. Tôi nói như vậy không có
nghĩa người giáo viên không đổi mới phương pháp giảng dạy mà mỗi giáo viên
luôn phải tìm cách đổi mới trong phong cách dạy của mình theo yêu cầu của thực
tiễn hiện hành. Có thể nói “người giáo viên như một đạo diễn cho tiết dạy của
axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ). Các dòng chảy do mưa axit đổ vào
hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao
suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các thuỷ vực chết. Mưa axit ảnh
hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất làm tăng độ chua của đất, hoà
tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi (Ca),magiê (Mg),... làm
suy thoái đất, cây cối kém phát triển. Lá cây gặp mưa axit sẽ bị "cháy" lấm chấm,
mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp.
Mưa axit còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm,... làm
giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm lở loét bề mặt bằng đá của các công
trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến ( các loại đá
này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên những
hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển. Vấn đề ô
nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta đang rất
chú trọng đến vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những
hiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường. Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời
sau khi dạy xong phần Sản xuất axit sunfuric - bài “Axit sunfuric. Muối
sunfat”(Tiết 53, 54, 55 lớp 10 CB), bài “Hợp chất có oxi của lưu huỳnh” (tiết 68
– 71 10NC) hoặc áp dụng trong bài : “Axit nitric và muối nitrat” (tiết 14,15 lớp
11CB; tiết 18, 19, 20 lớp 11NC); bài “Hóa học và vấn đề môi trường” (tiết 67 lớp
12CB; tiết 85 lớp 12NC)
Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
* Chuẩn kiến thức:
5
Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề có ảnh hưởng
mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân và tác
hại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Giáo viên có
thể đặt vấn đề này khi dạy phần Cacbon đioxit - bài “Hợp chất của Cacbon”
(Tiết 24 lớp 11CB; tiết 30 lớp 11NC); bài “Hóa học và vấn đề môi trường” (tiết
67 lớp 12CB; tiết 85 lớp 12NC)
Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
* Chuẩn kiến thức:
−Vấn đề về ô nhiễm môi trường có liên quan đến hoá học.
−Vấn đề bảo vệ môi trường trong đời sống, sản xuất và học tập có liên quan đến
hoá học.
* Chuẩn kỹ năng:
6
− Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng
về vấn đề ô nhiễm môi trường. Xử lí các thông tin, rút ra nhận xét về một số vấn
đề ô nhiễm và chống ô nhiễm môi trường.
−Vận dụng để giải quyết một số tình huống về môi trường trong thực tiễn.
VẤN ĐỀ 3: Vì sao sau những cơn giông, không khí trở nên trong lành, mát
mẻ hơn ?
Sau những cơn mưa, nếu dạo bước trên đường phố, đồng ruộng, người ta
cảm thấy không khí trong lành, sạch sẽ. Sở dĩ như vậy là có hai nguyên nhân:
Nước mưa đã gột sạch bụi bẩn làm bầu không khí được trong sạch.
Trong cơn giông đã xảy ra phản ứng tạo thành ozon từ oxi:
tia löû
a ñieä
n
tia lửỷ
a ủieọ
n
3O 2
2O3
Vi mt lng ớt ozon trong khụng khớ thỡ cú tỏc dng dit khuõn, dit vi
trựng. Nhng nu lng ozon li vt qua gii hn cho phộp s gõy tn hi cho
i nóo, phỏ hoi kh nng min dch bnh, gõy mt trớ nh, bin i nhim sc
th, gõy quỏi thai ph n mang thai, v.v..Thm chớ ozon cũn l cht gõy ung th
nờn tỏc hi ca ozon khụng th k ht c.
Hin nhiờn l lng ozon do mỏy photocopy sinh ra rt bộ nờn nu ngu nhiờn
m tip xỳc vi nú cng cha cú th gõy nguy hi cho c th. Nhng nu tip xỳc
vi ozon trong thi gian di v nu khụng chỳ ý lm thụng giú cn phũng thỡ do
ozon tp hp nhiu trong phũng n mc vt tiờu chuõn an ton thỡ s cú nh
hng n sc
2.Biờn phap s dng gii quyờt vn
Giỏo viờn cú th cp vn trờn khi núi v tỏc hi ca ozon trong bi
Oxi - Ozon ( Tit 49 lp 10 CB); bi Ozon Hiropeoxit (tit 63 10NC).
Sau bi hc hc sinh s bit c s nguy him khi photocopy ti liu v
bit cỏch trỏnh c s nguy hi ny.
Chun kiờn thc k nng cn at cho hc sinh thụng qua vn :
* Chun kiờn thc:
- Ozon l dng thự hỡnh ca oxi, iu kin to thnh ozon.
- Tớnh cht vt lớ ca ozon, ozon trong t nhiờn v ng dng ca ozon.
* Chun k nng:
Vit cỏc phng trỡnh hoỏ hc minh ho cho tớnh cht hoỏ hc ca Ozon.
Vn dng kin thc Húa hc gii thớch mt s hin tng trong thc tin.
VN ấ 5: Vi sao cht CFC b cm s dng?
lớn hoát chất dạng freon bốc hơi bay lên phá huỷ tầng ozon. Qua đó chúng ta
thấy rằng, tầng zon bị thủng chính là do các chất khí thuộc dạng freon gây ra, các
hoá chất đó không tự có trong thiên nhiên mà do con người tạo ra. Rõ ràng, con
người là thủ phạm làm thủng tầng ozon, đe doạ sức khoẻ của chính mình.
Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng freon là biện pháp hữu
hiệu nhất để cứu tầng ozon. Nhiều hội thảo quốc tế đã bàn tính các biện pháp
khắc phục nguy cơ thủng rộng tầng ozon. 112 nước thuộc khối Cộng đồng Châu
Âu (EEC) đã nhất trí đến cuối thế kỷ này sẽ chấm dứt sản xuất và sử dụng các
hoá chất thuộc dạng freon. Vì vậy các nhà khoa học đang nghiên cứu sản xuất
loại hoá chất khác thay thế các hoá chất ở dạng freon, đồng thời sẽ chuyển giao
công nghệ sản xuất cho các nước đang phát triển. Có như vậy, việc ngừng sản
xuất freon mới trở thành hiện thực. Muốn đạt được yêu cầu thiết thực này, không
chỉ riêng một vài nước mà cả thế giới đều phải cố gắng thì mới có thể bảo vệ
được tầng ozon của Trái đất.
2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Lỗ thủng tầng Ozon” hiện nay đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm. Giáo
viên có thể nêu vấn đề này khi dạy về “Ứng dụng của flo” – Bài “ Flo – Brom –
Iot” (Tiết 42, 43 lớp 10 CB); bài “Flo” (tiết 55 lớp 10NC) hoặc bài “Dẫn xuất
halogen của Hiđrocacbon” (Tiết 55 lớp 11CB; tiết 69,70 lớp 11NC) hoặc bài
“Hóa học và vấn đề môi trường” (tiết 67 lớp 12 CB; tiết 85 lớp 12NC).
9
Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
* Chuẩn kiến thức:
−Vấn đề về ô nhiễm môi trường có liên quan đến hoá học.
− Vấn đề bảo vệ môi trường trong đời sống, sản xuất và học tập có liên
quan đến hoá học.
* Chuẩn kỹ năng:
Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Vận dụng kiến thức hóa học để áp dụng vào trong cuộc sống.
VẤN ĐỀ 7: Vì sao trước khi luộc rau muống cần cho thêm một ít muối ăn
NaCl ?
Dưới áp suất khí quyển 1atm thì nước sôi ở 100 oC. Nếu cho thêm một ít
muối ăn vào nước thì nhiệt độ sôi cao hơn 100 oC, khi đó luộc rau sẽ mau mềm,
10
xanh và chín nhanh hơn là luộc bằng nước không. Thời gian rau chín nhanh nên
ít bị mất vitamin
Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Đây là một vấn đề rất quen thuộc mà nếu không chú ý thì học sinh sẽ
không biết. Học sinh dễ dàng làm thí nghiệm ngay khi nấu ăn. Từ đó góp phần
tạo nên kinh nghiệm nấu ăn cho học sinh, rất thiết thực trong cuộc sống. Giáo
viên có thể nêu vấn đề trên sau khi kết thúc bài “Clo” ( Tiết 38 lớp 10 CB; tiết 48,
49 lớp 10NC) hoặc bài “Các hợp chất quan trọng của kim loại kiềm” (Tiết 46 lớp
12NC) bài “Kim loại kiềm và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm”(Tiết 41,42
lớp 12CB) .Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
* Chuẩn kiến thức:
- Biết được : Một số ứng dụng quan trọng của một số hợp chất như NaCl
* Chuẩn kỹ năng:
- Vận dụng kiến thức hóa học để áp dụng vào trong cuộc sống.
VẤN ĐỀ 8: Tại sao phải ăn muối iốt
1. Thực trạng của vấn đề
Trong cơ thể con người có tồn tại một lượng iot tập trung ở tuyến giáp trạng. Ở
người trưởng thành lượng iot này khoảng 20-50mg.
Hàng ngày ta phải bổ sung lượng iot cần thiết cho cơ thể bằng cách ăn
muối iot. Iôt có trong muối ăn dạng KI và KIO3. Nếu lượng iot không cung cấp
đủ thì sẽ dẫn đến tuyến giáp trạng sưng to thành bướu cổ, nặng hơn là đần độn,
vô sinh và các chứng bệnh khác.
Khi nồng độ OH- giảm, theo nguyên lí Lơ-Sa-tơ-li-ê, cân bằng (1) chuyển
dịch theo chiều nghịch và men răng bị mòn, tạo điều kiện cho sâu răng phát triển.
Biện pháp tốt nhất phòng sâu răng là ăn thức ăn ít chua, ít đường và đánh
răng sau khi ăn.
Người ta thường trộn vào thuốc đánh răng NaF hay SnF 2, vì ion F- tạo điều
kiện cho phản ứng sau xảy ra:
5Ca2+ + 3PO43- + F- → Ca5(PO4)3F
Hợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay thế một phần Ca5(PO4)3OH
Ở nước ta, một số người có thói quen ăn trầu, việc này rất tốt cho việc tạo
men răng theo phản ứng (1), vì trong trầu có vôi tôi Ca(OH) 2, chứa các ion Ca2+
và OH- làm cho cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận.
2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Vấn đề sâu răng và phòng ngừa sâu răng được mọi người quan tâm. Nhưng ít ai
biết rằng vì sao răng bị sâu và cơ chế phòng ngừa như thế nào. Học sinh sẽ rất tò
mò về vấn đề này. Giáo viên có thể đề cập vấn đề này trong phần giảng Khái
niệm về pH – bài “Sự điện ly của nước. pH. Chất chỉ thị axit – bazơ”( Tiết 5,6
lớp 11CB; tiết 6,7 lớp 11NC) hay ứng dụng của flo - bài “ Flo – Brom – Iot”
(Tiết 42, 43 lớp 10 CB); bài “Flo” (tiết 55 lớp 10NC) nhằm giúp cho học sinh có
thói quen bảo vệ răng bằng cách đánh răng sau các bữa ăn.
Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
* Chuẩn kiến thức:
- Ứng dụng của Flo và hợp chất của Flo.
* Chuẩn kỹ năng:
- Vận dụng kiến thức hóa học để áp dụng vào trong cuộc sống.
VẤN ĐỀ 10:Vì sao ta hay dùng bạc để “đánh gió” khi bị bệnh cảm ?
1.Thực trạng của vấn đề
Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng khí H 2S tương đối
cao. Chính lượng H2S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng Ag để đánh gió thì
Ag sẽ tác dụng với khí H2S. Do đó, lượng H2S trong cơ thể giảm và dần sẽ hết
bệnh. Miếng Ag sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám:
n
N 2 + O 2
→ 2NO
Sau đó:
2NO + O2 → 2NO2
Khí NO2 hòa tan trong nước:
4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3
HNO3 → H+ + NO3(Đạm)
Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất
được cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ.
2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp trong đời sống. Đây
là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những tháng năm canh tác nông
nghiệp. Học sinh cũng dễ dàng quan sát để kiểm nghiệm và giải thích được một
cách khoa học về vấn đề trên. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi trình bày phần
chu trình của nitơ trong tự nhiên ở bài “Axit nitric và muối nitrat” (tiết 14,15 lớp
11CB; tiết 18, 19, 20 lớp 11NC) hoặc đề cập trong phần “Phân đạm” – bài
“Phân bón hóa học” (Tiết 19 lớp 11 CB; tiết 24 lớp 11NC).
Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
13
* Chuẩn kiến thức:
- Chu trình của nitơ trong tự nhiên.
- Biết thành phần hóa học của phân đạm, tác dụng với cây trồng và cách
điều chế các loại phân này (bài “Phân bón hóa học” (Tiết 19 lớp 11 CB; tiết 24
lớp 11NC)).
* Chuẩn kỹ năng:
- Viết PTHH minh hoạ tính chất.
- Ứng dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên
Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống. Vậy thuốc
chuột là gì? Cái gì đã làm cho chuột chết? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có
nước uống thì chuột chết mau hay lâu hơn ?
Thành phần thuốc chuột là kẽm photphua Zn3P2. Sau khi ăn, Zn3P2 bị thủy
phân rất mạnh, hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm, nó khát và đi tìm nước.
Khi đó:
Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2 + 2PH3↑
Chính PH3 (photphin) đã giết chết chuột.
Càng nhiều nước đưa vào cơ thể chuột → PH3 thoát ra nhiều → chuột
càng nhanh chết. Nếu không có nước chuột sẽ lâu chết hơn.
2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Vấn đề diệt chuột đang được mọi người quan tâm vì chuột là con vật mang nhiều
mầm bệnh truyền nhiễm cho con người và hay phá hoại mùa màng. “Thuốc
chuột” đang được dùng với mục đích trên. Nhưng đây là loại thuốc rất độc nên dễ
ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vì vậy giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh
biết cơ chế diệt chuột của thuốc chuột nhằm biết cách sử dụng an toàn. Giáo viên
có thể đề cập vấn đề này trong phần nêu ứng dụng của photpho hoặc khi lấy ví dụ
để chứng minh tính oxi hóa của photpho thì giáo viên nên viết phương trình
photpho tác dụng của với kẽm, sau đó nêu ứng dụng của sản phẩm ( Zn 3P2) trong
bài “Photpho” ( Tiết 17 lớp 11CB; tiết 22 lớp 11NC).
Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
* Chuẩn kiến thức:
- Tính chất hoá học : Photpho vừa có tính oxi hoá (tác dụng với một số kim
loại K, Na, Ca…) vừa có tính khử (khử O2, Cl2, một số hợp chất).
* Chuẩn kỹ năng:
- Viết được PTHH minh hoạ cho tính chất.
- Ứng dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng trong cuộc sống
VẤN ĐỀ 14:Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra?
Thực trạng của vấn đề
Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí cacbonic
CO2 lỏng, đặc biệt là nước đá khô( không độc hại), được ứng dụng thích
hợp để bảo quản những sản phẩm kỵ ẩm và dùng làm lạnh đông thực phẩm.
Dùng đá khô để làm lạnh và bảo quản gián tiếp các sản phẩm có bao gói nhưng
có thể dùng làm lạnh và bảo quản trực tiếp. Chính chất tác nhân làm lạnh này
(CO2) đã làm ức chế sống của vi sinh vật, giữ được vị ngọt-màu sắc hoa quả.
Đồng thời hạn chế được tổn hao khối lượng tự nhiên của sản phẩm do sự bay hơi
từ bề mặt sản phẩm và các quá trình lên men, phân hủy.
2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Bảo quản thực phẩm bằng cồn khô là cách rất tốt hiện nay. Giáo viên có
thể hỏi học sinh về ứng dụng của CO 2 khi dạy phần tính chất vật lí của CO2 - bài
“Hợp chất của Cacbon” (Tiết 24 lớp 11CB; tiết 30 lớp 11NC).
Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
16
* Chuẩn kiến thức:
- Tính chất vật lí của CO2 .
* Chuẩn kỹ năng:
- Ứng dụng kiến thức hóa học để bảo quản thực phẩm
VẤN ĐỀ 16: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lâu ngày thấy xuất
hiện lớp cặn ở đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn này như thế nào?
Cặn trong đương ống nồi hơi công
nghiệp
Trong tự nhiên, nước ở một số vùng là nước cứng tạm thời - là nước có
chứa Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2. Khi nấu nước lâu ngày thì xảy ra phương trình
hóa học:
t°
Ca(HCO3)2
→ CaCO3↓ + CO2↑ + H2O
Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO 3. Khi trời mưa trong không
khí có CO2 tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi. Những giọt mưa
rơi xuống sẽ bào mòn đá thành những hình dạng đa dạng:
→ Ca(HCO3 ) 2
CaCO3 + CO 2 + H 2O ¬
Theo thời gian tạo thành các hang động. Khi nước có chứa Ca(HCO3)2 ở đá
thay đổi về nhiệt độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng:
→ CaCO3 + CO 2 + H 2O
Ca(HCO3 ) 2 ¬
Như vậy lớp CaCO3 dần dần lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành những
hình thù đa dạng.
2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Đây là một hiện tượng thường gặp trong các hang động núi đá, cụ thể là Phong
Nha Kẻ Bàng ( Quảng Bình), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)…là những di sản thiên
nhiên thế giới ở nước ta. Học sinh sẽ biết được quá trình hình thành các hang
động với những hình dạng phong phú là do thiên nhiên kiến tạo dựa trên các quá
trình biến đổi hóa học. Dựa vào tính chất của Canxi cacbonat giáo viên có thể đề
cập vấn đề trên ở bài “Kim loại kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại
kiềm thổ” (tiết 43 – 45 12CB; hay bài “Hợp chất quan trọng của kim loại kiềm
thổ” (tiết 48, 49 12NC).
Chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt cho học sinh thông qua vấn đề:
* Chuẩn kiến thức:
−Tính chất hoá học cơ bản, ứng dụng của CaCO3.
* Chuẩn kỹ năng:
kiện xảy ra sự ăn mòn kim loại.
−Các biện pháp chống ăn mòn kim loại.
* Chuẩn kỹ năng:
− Phân biệt được ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá ở một số hiện tượng
thực tế.
− Sử dụng và bảo quản hợp lí một số đồ dùng bằng kim loại và hợp kim dựa
vào những đặc tính của chúng.
VẤN ĐỀ 19: Vì sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đa
uống rượu?
1. Thực trạng của vấn đề
Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc tính của
rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với rượu
nhưng người chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO 3. Đây là một chất oxi
hóa rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu vàng da cam. Bột oxit
CrO3 khi gặp rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr 2O3 là một hợp chất có màu xanh
đen.
19
Các cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa
CrO3. Khi tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở có chứa
hơi rượu thì hơi rượu sẽ tác dụng với CrO 3 và biến thành Cr2O3 có màu xanh đen.
Dựa vào sự biến đổi màu sắc mà dụng cụ phân tích sẽ thông báo cho cảnh sát biết
được mức độ uống rượu của tài xế. Đây là biện pháp nhằm phát hiện các tài xế đã
uống rượu khi tham gia giao để ngăn chặn những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
2.Biện pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
Tai nạn giao thông luôn là nỗi ám ảnh của mọi người. Một trong những nguyên
nhân chính xảy ra tai nạn giao thông chính là rượu. Nhằm giúp cho học sinh thêm
hiểu biết về cách nhận biết rượu trong cơ thể một cách nhanh và chính xác của
Mức độ
Không khí
Lớp
áp dụng đề tài
lớp học
Giỏi khá
TB
yếu Kém
20
11B1
11B2
Thường xuyên
sôi nổi
3% 36.4% 60.6% 0%
0%
Thường xuyên
sôi nổi
2% 33.5% 64.5% 0%
0%
ít hoặc không
Trầm ít
11B4
0% 26.3% 45%
25% 2.7%
thường xuyên
phát biểu.
ít hoặc không
giáo viên, phát huy được tốt hiệu quả giờ dạy. Cũng như nên có sự qua tâm động
viên kịp thời tương xứng.
+ Với thực trạng học hóa học và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, có
thể coi đây là một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến vào việc nâng cao chất
lượng học hóa học trong thời kì mới.
Nếu có điều kiện tôi rất mong được phát triển sâu hơn về đề tài này, xây dựng
nhiều hơn nữa các dạng bài tập có liên quan đồng thời mở rộng cho tất cả các
chương bài trong toàn bộ chương trình hóa học phổ thông theo nhiều hướng khác
nhau như:
21
+ Xây dựng các bài tập thực tiễn theo các chương bài nhưng cụ thể cho
từng vấn đề:giải thích hiện tượng tự nhiên, bài tập về môi trường, bài tập liên
quan đến công nghiệp.....
+ Phát triển các đề tài về sử dụng bài tập thực tiễn trong giảng dạy hóa học
nhằm đưa ra những phương pháp sử dụng hiệu quả nhất hệ thống bài tập đã được
xây dựng; vừa đảm bảo nội dung sách giáo khoa, vừa tăng được hứng thú học tập
cho học sinh và đạt được mục tiêu kết hợp lý thuyết với thực hành, giáo dục gắn
liền với thực tiễn.
+ Xây dựng các hình thức tổ chức ngoại khóa về các vấn đề liên quan đến
hóa học trong nhà trường.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì thời gian
đầu tư có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên không thể tránh khỏi
những sai sót. Tôi kính mong thầy, cô giáo và các bạn thông cảm, đóng góp ý
kiến để đề tài được hoàn thiện hơn để có thể ứng dụng rộng rãi trong công tác
giảng dạy.
Xin chân thành cảm ơn.
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
( Nhà xuất bản Giáo Dục)
[8] SÁCH GIÁO VIÊN HÓA HỌC 10,11,12
( Nhà xuất bản Giáo dục)
[9] THƯ VIỆN BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ - VIOLET
23
MỤC LỤC
*** ***
Số TT
Mục
Trang
1
Lý do chọn đề tài
1
2
Mục đích nghiên cứu
2
3
Phụ lục
24
7
8
9
24