Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống trong dạy học nhằm nâng cao kết quả học hóa học của học sinh lớp 910 trường THCS Hùng Vương. - Pdf 50

MỤC LỤC
KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
2. GIỚI THIỆU
2.1 Hiện trạng
2.2 Giải pháp thay thế
2.3 Vấn đề nghiên cứu
2.4 Giả thuyết nghiên cứu
3. PHƯƠNG PHÁP
3.1 Khách thể nghiên cứu
3.2 Thiết kế
3.3 Quy trình nghiên cứu
3.4 Đo lường và thu thập dữ liệu
4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU THU ĐƯỢC VÀ BÀN LUẬN
4.1 Trình bày kết quả
4.2 Phân tích kết quả dữ liệu
4.3 Bàn luận
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
7. PHỤ LỤC

Trang: 1

Trang
2
4
5
5
6
7
8

vào giải thích một số hiện tượng trong thực tế khi dạy học hóa học
2. Giải pháp
thay thế

GV cho HS vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng
trong tự nhiên và cuộc sống nhằm tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam
mê; học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học hóa
học.
3.Vấn đề
1. Câu hỏi nghiên cứu: Việc vận dụng các kiến thức hóa học vào giải
nghiên cứu
thích một số hiện tượng trong thực tế trong dạy học hóa học có nâng
cao chất lượng học tập của HS không?
2. Giả thuyết nghiên cứu:
Có. Việc vận dụng các kiến thức hóa học vào giải thích một số hiện
tượng trong thực tế trong dạy học hóa học có nâng cao chất lượng
học hóa học của HS.
3. Xác định tên đề tài: Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các
hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống trong dạy học nhằm nâng
cao kết quả học hóa học của học sinh lớp 9 10 trường THCS Hùng
Vương.
4. Thiết kế
- Kiểm tra trước tác động và sau tác động
- Nhóm đối chứng (lớp 9/8) và nhóm thực nghiệm (lớp 9/10)
- Thời gian thu thập dữ liệu từ tuần 5 đến tuần 19 năm học 2014 –
2015. Dữ liệu thu thập là kết quả các bài kiểm tra một tiết của HS
5. Đo lường
Sử dụng công cụ là các bài kiểm tra định kì trên lớp
6. Phân tích - Mô tả dữ liệu: nội dung của các câu hỏi trong bài kiểm tra đảm
dữ liệu

động từ đó rút ra mức độ ảnh hưởng của tác động (so sánh với bảng
tiêu chí Cohen)
7. Kết luận - Có, Việc vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng
và kiến nghị trong tự nhiên và cuộc sống trong dạy học có nâng cao kết quả học
hóa học của học sinh lớp 910 trường THCS Hùng Vương.
- Kết luận và khuyến nghị.

1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Trang: 3


Thực tế ở trường trung học cơ sở Hùng Vương chất lượng học tập môn hóa của
HS chưa cao vì: Nhiều em không có ý thức tự giác học, nhiều em nhận thấy môn hóa
khó nên nản không học, nhiều em không nắm được những kiến thức cơ bản, nhiều em
không nhận thấy được vai trò của kiến thức hóa học với thực tế nên không hứng thú
học; phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa thật tích cực...
Môn Hóa học ở trường phổ thông nếu không có những bài giảng và phương
pháp hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp
thu, cảm nhận. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phát
huy tính thực tế. Có những vấn đề Hóa học giúp học sinh giải thích những hiện tượng
trong
tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hóa
học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong
thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không
gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú
trong môn học.Trong việc dạy môn hoá học ở trường trung học, người giáo viên phải
có vốn kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra
được những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học tập
của học sinh. Giải pháp mà tôi chọn trình bày trong đề tài này là: “Vận dụng kiến
thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống trong dạy học

5,651
5,059
5,637
5,987
Độ lệch giá trị trung
-0,015
bình trước tác động
Độ lệch giá trị trung
0,927
bình sau tác động
Độ lệch chuẩn p1
0,489
Độ lệch chuẩn p2
0,016
Chênh lệch giá trị
trung bình chuẩn
0,504
SMD sau tác động
Qua bảng dữ liệu trên ta thấy sau tác động p 2 = 0,016
phần, tác dụng, chế biến, bảo quản lương thực - thực phẩm, các quy trình sản xuất
(sản xuất, chế biến các nguồn nguyên liệu thô thành các nguyên liệu có thể sử dụng
trong đời sống sản xuất, chế biến các loại nông sản, chế tạo ra các đồ dùng, vật dụng
hằng ngày).
* Tác dụng của các kiến thức thực tế về hóa học :
- Giúp học sinh nắm được cơ sở hóa học, nắm vững và củng cố kiến thức cơ bản về
hóa học.
- Nắm nhanh và kĩ các kiến thức đã học trong bài. Hóa học là ngành khoa học thực
nghiệm, học lý thuyết và kiểm tra lại bằng các thí nghiệm. Chính việc tiến hành các
thí nghiệm sẽ phát sinh các vấn đề để các em có thể hiểu sâu và kĩ các kiến thức đã
học, qua đó các em hiểu bài hơn.
- Các kiến thức hóa học thực tế làm cho học sinh hiểu được vai trò to lớn của hóa học
trong đời sống : kinh tế, quốc phòng, sinh hoạt,… thúc đẩy sự ham học hỏi của học
sinh.
- Giúp học sinh hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng trong đời sống hằng ngày
một cách đúng đắn. Các em sẽ nhận thức được những gì có ích, những gì có hại để
điều chỉnh hành vi của mình.
* Tác dụng của việc liên hệ thực tế trong giảng dạy :
a) Với người thầy :
Phát huy khả năng truyền thụ kiến thức của người thầy. Khi mở rộng kiến thức
hóa học thực tế trong bài giảng sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy.
Mở rộng kiến thức hóa học thực tế rèn luyện một số kỹ năng dạy học : Kỹ năng
diễn đạt, kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học, kỹ năng tiến hành thí nghiệm, kỹ
năng phân bố thời gian, kỹ năng giao tiếp.
Kích thích lòng ham thích học tập của học sinh

Trang: 6


Tạo ra giờ học lý thú bổ ích. Khi mở rộng kiến thức hóa học thực tế sẽ có rất

nhất, mà để có được kỹ năng này thì đầu tiên người giáo viên phải có kiến thức sâu,
rộng, phải luôn cung cấp cho học sinh lượng kiến thức “Đủ, đúng, mới và thiết thực”.
Thời gian thực hiện giải pháp thay thế: Từ tuần 5 đến tuần 19 của chương trình
hóa học 9 trong năm học 2014 – 2015.
2.3 Vấn đề nghiên cứu:
Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và
cuộc sống trong dạy học nhằm nâng cao kết quả học hóa học của học sinh lớp 9 7
trường THCS Hùng Vương.
2.5 Giả thuyết nghiên cứu là:
Trang: 7


"Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và
cuộc sống" nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học môn hóa học ở trường THPT bằng việc
giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học, bằng cách nêu hiện
tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường sau khi đã kết thúc bài học. Cách
nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách
giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy
nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? hay những lúc đọc một số câu thơ vui
trong hoá, học sinh sẽ suy nghỉ vì sao lại như vậy , điều đó có ý nghĩa như thế nào ...
Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo.
"Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và
cuộc sống" bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua
các phương trình phản ứng hóa học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể
sẽ mang tính cập nhập, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học.
Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học sinh mặc dù vấn đề được
giải thích có tính chất rất phổ thông.
"Vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và
cuộc sống" bằng cách nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường
thay cho lời giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất

Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng về sĩ số học
sinh:
Số học sinh
Tổng số
Nam
Nữ
Lớp 9/8
37
21
16
Lớp 9/10
38
11
27
Ý thức học tập của nhiều học sinh khá tốt, yêu mến thầy cô giáo. Giáo viên chủ
nhiệm có chú ý nhiều đến rèn luyện nâng cao kết quả học tập của học sinh, đến việc
rèn luyện đạo đức của học sinh.
Đa số các em đều ngoan, được các bậc phụ huynh quan tâm. Điều kiện học tập
của các em tương đối tốt.
Số ít học sinh chưa chấp hành tốt nội qui, chưa tích cực trong.
3.2 Thiết kế:
Lựa chọn thiết kế: Kiểm tra trước và sau tác động với hai nhóm tương đương.
Tôi dùng bài viết số 1 (Học kì I) làm bài kiểm tra trước tác động. Kết quả kiểm tra
cho thấy điểm trung bình của hai lớp 9/8 và 9/10 có sự tương đương nhau. Tôi dùng
phép kiểm chứng T-Test độc lập để kiểm chứng sự tương đương điểm số trung bình
của hai lớp trước khi tác động.
* Bảng kiểm chứng để xác định hai lớp tương đương:
Thực nghiệm (Lớp 9/10)

Đối chứng (lớp 9/8)



3.3 Quy trình nghiên cứu:
* Chuẩn bị bài dạy của giáo viên:
Giáo viên dạy Hóa lớp 9/8 là lớp đối chứng: soạn bài, chuẩn bị đồ dùng thí
nghiệm và tiến hành dạy học có sử dụng phương pháp dạy học nhằm truyền đạt được
các chuẩn kiến thức kĩ năng theo qui định.
Giáo viên dạy Hóa lớp 9/10 là lớp thực nghiệm: soạn bài, chuẩn bị đồ dùng thí
nghiệm và tiến hành dạy học có sử dụng phương pháp dạy học nhằm truyền đạt được
các chuẩn kiến thức kĩ năng theo qui định nhưng bên cạnh đó GV thường xuyên đưa
ra những bài tập, câu hỏi hay tình huống, hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống mà
HS phải vận dụng kiến thức hoá học để giải quyết vấn đề.
* Tiến hành dạy thực nghiệm: Tuân theo giáo án đã thiết kế, kế hoạch giảng dạy của
nhà trường, phân phối chương trình và thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan.
3.4 Đo lường và thu thập dữ liệu:
* Sử dụng công cụ đo, thang đo: Bài kiểm tra viết của học sinh, điểm của các bài
kiểm tra.
Sử dụng bài kiểm tra trước tác động: Bài kiểm tra Hóa một tiết số 1 (học kì I),
bài kiểm tra sau tác động: bài thi hóa học 9 kì I
Ra đề, kiểm tra và chấm bài viết số 1 (tiết 10 theo PPCT) của 2 lớp. Giáo viên
dạy Hóa 9 của trường chấm bài theo đáp án đã được xây dựng và theo phân công
của ban giám hiệu.
Sau khi áp dụng đề tài nghiên cứu thì tiến hành cho học sinh làm bài thihọc kì
I theo phân phối chương trình và lịch thi của phòng giáo dục. Giáo viên dạy Hóa 9
của trường chấm bài theo đáp án đã được xây dựng và theo phân công của ban giám
hiệu.
* Kiểm chứng độ giá trị nội dung của dữ liệu:
Kiểm chứng độ giá trị nội dung của các bài kiểm tra bằng cách trực tiếp kiểm
tra lại nội dung đề kiểm tra ra. Nhận xét của giáo viên để kiểm chứng độ giá trị nội
dung của dữ liệu:

5,651
5,059
5,637
5,987
Độ lệch giá trị trung
-0,015
bình trước tác động
Độ lệch giá trị trung
0,927
bình sau tác động
Độ lệch chuẩn p1
0,489
Độ lệch chuẩn p2
0,016
Chênh lệch giá trị
trung bình chuẩn
0,504
SMD sau tác động
4.2 Phân tích kết quả dữ liệu:
* Kiểm chứng để xác định nhóm tương đương trước tác động: p1 = 0,489 > 0,05
Sự chênh lệch điểm số trung bình cộng trước tác động của 2 nhóm thực nghiệm
và đối chứng là không có ý nghĩa. Hai nhóm được coi là tương đương.
* Phân tích dữ liệu và kết quả sau tác động:
Như trên đã chứng minh rằng hai lớp trước tác động là tương đương. Phép
kiểm chứng T-test độc lập cho kết quả: p 2 =0,016
Qua quá trình theo dõi thái độ học tập của học sinh : đa số đều tỏ ra thích thú
và tập trung hơn trong tiết học.
Trang: 12


Sau một thời gian áp dụng giải pháp của đề tài thì đa số các em đã thấy đây là phương
pháp học hiệu quả, kết quả học của các em cũng được cải tiến đáng kể.
Tóm lại các kết quả trong nghiên cứu cho thấy việc vận dụng kiến thức hoá
học để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống trong dạy học hóa học 9
là phương pháp tốt, hỗ trợ cho học sinh lớp 910 trường trung học cơ sở Hùng Vương
nâng cao kết quả học tập bộ môn hóa học.
5.2 Khuyến nghị:
Tôi xin đề xuất một số khuyến nghị sau đây với các cấp lãnh đạo, nhà trường và giáo
viên giảng dạy:
Quan tâm nhiều hơn về cơ sở vật chất như: trang thiết bị máy tính, máy chiếu
Projector hoặc màn hình ti vi cho phòng thực hành.
Tăng cường và bổ sung dụng cụ và hóa chất cho phòng thí nghiệm.
Đối với giáo viên: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để hiểu biết về công nghệ
thông tin, biết khai thác thông tin trên mạng Internet, có kĩ năng sử dụng thành thạo
các trang thiết bị dạy học hiện đại, có kĩ năng thực hành tốt, thường xuyên cập nhật
thông tin nhất là các thông tin lien quan đến bộ môn mình dạy.
Giáo viên tích cực cho vận dụng kiến thức hoá học để giải thích các hiện tượng
trong tự nhiên và cuộc sống trong giảng dạy hóa học.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Tài liệu “Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của Bộ Giáo dục và đào tạo –
Dự án Việt Bỉ”.
- Tài liệu tập huấn “Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trong trường trung học
cơ sở” của phòng giáo dục huyện Trảng Bom
Ngô Ngọc An – hóa học cơ bản và nâng cao 9 – NXB Giaó Dục – Năm 2005.
Ngô Ngọc An – 400 bài tập hóa học 9 – NXB Giaó Dục – Năm 2006.

a/ H2SO4 đặc tác dụng với Cu
b/ H2SO4 tác dụng với CuO
c/ H2SO4 tác dụng với Cu2O
d/ H2SO4 tác dụng với Cu(OH)2
5: Các dung dịch: NaOH, HCl, H2SO4, Na2SO4, dung dịch làm quỳ tím đổi thành màu
đỏ là:
a/ NaOH và HCl
b/ HCl và H2SO4
c/ H2SO4 và Na2SO4
d/ Na2SO4 và NaOH
6: Khí nào là nguyên nhân gây ra mưa axit?
a/ H2
b/ O2
c/ SO3
d/ SO2
7: Hãy chỉ ra dãy gồm toàn các oxit bazơ:
a/ Al2O3, CuO, BaO
b/ CaO, Na2O, K2O
c/ CO2, ZnO, SO3
d/ P2O5, FeO, Fe2O3.
8: Khí làm đục nước vôi trong:
a/ H2
b/ O2
c/ HCl
d/ CO2.
9: Phản ứng giữa axit với bazơ là phản ứng:
a/ Kết hợp
b/ Phân hủy
c/ Trao đổi
d/ Trung hòa.

b. CO2, SO2, MgO
c. SO2, CO2, K2O
d. SO2, MgO, CaO
2. CaO thể hiện tính chất hóa học của:
a. Oxit bazơ
b. Oxit axit
Trang: 14


c. Oxit trung tính
d. Oxit lưỡng tính
3. Phản ứng giữa axit với bazơ là phản ứng:
a. Hóa hợp
b. Trung hòa
c. Trao đổi
d. Phân hủy
4. Cặp chất nào sau đây là oxitaxit:
a. CO , CO2
b. Na2O, SO2
c. SO2, CaO
d. CO2, SO2
5. Nhỏ 1- 2 ml dung dịch HCl vào ống nghiệm chứa CuO ta thấy hiện tượng:
a. CuO khơng tan
b. CuO tan và có khí thốt ra
c. CuO tan, tạo thành dung dịch màu xanh
d. Tạo thành kết tủa trắng
6. Khí H2 sinh ra khi cho dung dịch HCl phản ứng với:
a. MgO
b.Mg
c. Mg(OH)2

c. 1,2 g
d. 0,6 g
II. Phần tự luận:
Câu 1: Hãy thực hiện chuyển đổi hóa học sau bằng cách viết những phương trình
phản ứng hóa học (ghi điều kiện phản ứng nếu có)
S à SO2 à SO3 à H2SO4 à SO2
Câu 2: Có 3 lọ khơng nhãn, mỗi lọ đựng một dung dịch khơng màu là: H 2SO4;
Na2SO4; NaCl. Hãy nêu cách nhận biết dung dịch đựng trong mỗi lọ bằng phương
pháp hóa học. Viết phương trình hóa học.
Câu 3: Hòa tan 5,6 gam Canxi oxit vào nước tạo thành 40 gam dung dịch bazơ.
a) Viết phương trình phản ứng hoá học.
b) Tính khối lượng bazơ thu được.
c) Tính nồng độ phần trăm của dung dòch bazơ thu
được.
( Ca = 40, H = 1, O= 16 )
3- Đề bài kiểm tra sau tác động

Trang: 15


Trang: 16


Trang: 17


Trang: 18


Trang: 19

Sau đó:
2NO +
O2 à
2NO2
Khí NO2 sẽ tan vào trong nước mưa:
4NO2 + O2 + 2H2O à 4HNO3
Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6 − 7 kg N cho mỗi mẫu đất. Ngày nay,
người ta đã điều chế Ure [(NH2)2CO] từ không khí để chủ động bón cho cây trồng.
Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang một ý nghĩa thực tiễn, thấy rõ trong đời
sống. Vấn đề này có thể xen vào trong tiết dạy phân bón hóa học. Tạo cho học sinh
khu vực làm nông nghiệp có thể tiện kiểm nghiệm trong đời sống, tự quan sát.
Ví dụ 3: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng lại có lớp cặn ở dưới đáy ấm?
Cách tẩy lớp cặn này?
Trong tự nhiên nước ở một số vùng nước có chứa muối Ca(HCO3)2, Mg(HCO3)2.
Khi nấu sôi sẽ xảy ra phản ứng hoá học :
Ca(HCO3)2 →
CaCO3 ↓ + 2CO2
+ H2O
Mg(HCO3)2 → MgCO3↓ + 2CO2 + H2O
CaCO3, MgCO3 sinh ra đóng cặn.
Áp dụng: Giáo viên có thể xen vào trong bài giảng về muối cacbonat. Mục đích
cung cấp mẹo vặt trong đời sống cũng góp phần cho học sinh hiểu bản chất của vế đề
có trong đời sống hàng ngày, học sinh có thể ứng dụng trong đời sống gia đình mình,
tạo sự hưng phấn trong học tập. Đó là một thí nghiệm tự làm được.
Trang: 20


Ví dụ 4: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí cacbonic CO 2.
Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép CO 2 hòa tan vào

Do than củi xốp có tính hấp phụ, nên hấp phụ được mùi khê của cơm làm cho cơm
đỡ mùi khê.
Áp dụng: Đây là tính chất vật lí quan trọng của C, nó có khả năng hấp phụ màu và
mùi. Giáo viên có thể đưa vấn đề này khi dạy về cacbon.
Ví dụ 8: Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng chổi quét
mà nên rắc bột S lên trên?
Thủy ngân (Hg) là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là một chất
độc. Vì vậy khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì thủy ngân sẽ
bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi và làm cho quá trình thu gom khó khăn
hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác dụng với thủy
ngân ở điều kiện thường tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi.
Trang: 21


Hg +
S

HgS↓
Quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài tính chất hóa học của kim
loại
Ví dụ 9: Nhôm lại được dùng làm dây dẫn điện cao thế? Còn dây đồng lại được
dùng làm dây dẫn điện trong nhà?
Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng của nhôm là
2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 8,7 g/cm 3) Do đó, nếu như
dùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột điện sao cho
chịu được trọng lực của dây điện. Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế. Còn trong
nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn lắm. Vì vậy ở trong
nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài Tính chất vật lý của kim

viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời trong phần lồng ghép bảo vệ môi
trường.
Ví dụ 11: “Hiệu ứng nhà kính” là gì ?
Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia hồng ngoại ( tức là
những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước sóng từ 50000 đến
100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ
mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO 2 hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất
làm cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toán của các nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO 2
trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 4oC.
Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO 2 ở trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh của
các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện tượng làm cho Trái
Đất ấm lên bởi khí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Áp dụng: Giáo viên có thể đặt vấn đề này khi dạy phần Cacbon đioxit, hay lồng ghép
vào phần bảo vệ môi trường.
Ví dụ 12: Tại sao nước máy ở các thành phố lại có mùi khí clo ?
Trong hệ thống nước máy, người ta cho vào một lượng nhỏ khí clo vào để có tác dụng
diệt khuẩn. Một phần khí clo gây mùi và một phần tác dụng với nước:
��
� HCl + HClO
Cl 2 + H 2O ��

Axit hipoclorơ HClO sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có tác dụng khử trùng, sát
khuẩn nước.
Áp dụng: Vấn đề này đang được sử dụng làm sạch nước hiện nay ở các nhà máy
nước cung cấp nước cho các thành phố, thị xã, thị trấn. Giải thích được hiện tượng
này giúp học sinh hiểu được vai trò và ứng dụng của clo trong cuộc sống mà học sinh
có thể kiểm nghiệm thật dể dàng. Giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh suy nghĩ
để trả lời trong phần ứng dụng của clo trong bài “Clo”
Ví dụ 13: Tại sao phải ăn muối iot ?
Trong cơ thể con người có tồn tại một lượng iot tập trung ở tuyến giáp trạng. Ở người

dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh.
Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric cần luôn luôn nhớ là “ phải đổ từ từ”
axit vào nước và khuấy nhẹ bằng đũa thủy tinh; không nên pha trong các bình thủy
tinh. Bởi vì thủy tinh dễ vỡ do sự gia tăng nhiệt độ lớn đột ngột khi pha.
Áp dụng: Vấn đề an toàn khi làm thí nghiệm được đặt lên hàng đầu trong những tiết
dạy có sử dụng hóa chất. Đặc biệt khi tiếp xúc với axit H 2SO4 đặc thì rất nguy hiểm.
Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời về cách pha loãng axit H 2SO4
khi dạy phần tính chất vật lí của axit sunfuric đặc
Ví dụ 16: “Nước đá khô” là gì và có công dụng như thế nào ?
Nước đá khô (hay còn gọi là tuyết cacbonic) được điều chế từ khí CO 2 hoặc CO2 hóa
lỏng. Đây là các tác nhân lạnh ở thể rắn cung cấp hơi lạnh bằng cách biến đổi trạng
thái: đá khô thăng hoa thành hơi, không qua trạng thái lỏng.
CO2 lỏng, đặc biệt là nước đá khô( không độc hại), được ứng dụng thích hợp để bảo
quản những sản phẩm kỵ ẩm và dùng làm lạnh đông thực phẩm. Dùng đá khô để làm
lạnh và bảo quản gián tiếp các sản phẩm có bao gói nhưng có thể dùng làm lạnh và
bảo quản trực tiếp. Chính chất tác nhân làm lạnh này (CO 2) đã làm ức chế sống của vi
sinh vật, giữ được vị ngọt-màu sắc hoa quả. Đồng thời hạn chế được tổn hao khối
lượng tự nhiên của sản phẩm do sự bay hơi từ bề mặt sản phẩm và các quá trình lên
men, phân hủy.
Áp dụng: Bảo quản thực phẩm bằng cồn khô là cách rất tốt hiện nay. Giáo viên có thể
hỏi học sinh về ứng dụng của CO2 khi dạy phần ứng dụng CO2 - bài “Các oxit của
Cacbon”
Ví dụ 17: Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ ở vườn quốc gia Phong Nha –
Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long với những hình dạng phong phú đa dạng được hình
thành như thế nào?
Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO 3. Khi trời mưa trong không khí
có CO2 tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi. Những giọt mưa rơi
xuống sẽ bào mòn đá thành những hình dạng đa dạng:
Trang: 24


ra sẽ bám vào bề mặt nhôm, nồi nhôm sẽ bị đen.
Để hoàn thành được điều trên phải có 3 điều kiện: lượng muối sắt trong nước phải đủ
lớn, thời gian đun sôi phải đủ lâu, nồi nhôm phải là nồi mới
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên khi dạy về bài “Nhôm” . Học
sinh dựa vào những kiến thức đã học để giải thích hiện tượng nồi nhôm bị đen.
Ví dụ 19: Giải thích tại sao vôi có thể khử chua đất trồng?
Đất chua là đất có hàm lượng axit vượt quá mức
Các loại vôi: có khả năng trung hòa độ chua (tác dụng với axit) của đất gồm canxi
oxit CaO (vôi bột, vôi nung, vôi sống); canxi hiđroxit Ca(OH)2 (Vôi tôi), Canxi
cacbonat CaCO3 (đá vôi nghiền) …
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu vấn đề này khi dạy về phần Canxi oxit, canxi
hiđroxit, muối cacbonat. Học sinh dựa vào những kiến thức đã học để giải thích
Ví dụ 20: Phân đạm và những câu hỏi liên hệ thực tế
- Tại sao không bón phân đạm cho đất chua?
Giải thích: Đất chua là đất có độ pH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status