UBNDTỈNH ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đồng Nai, ngày 27 tháng 5 năm 2013
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
VỀ QUẢN LÝ DẠY THÊM, HỌC THÊM TRONG GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
Họ và tên: Phan Đình Chương
Chức vụ: Chánh Văn phòng
Đơn vị công tác : Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng,
toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có
vai trò quan trọng.
2. Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh Đồng Nai đã có
những bước phát triển bền vững, chất lượng giáo dục đào tạo luôn luôn ổn định
nhiều mặt. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng phát triển, có
phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng
được nâng cao. Đáp ứng được yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
3. Để tăng cường quản lý Nhà nước về Giáo dục và Đào tạo, những năm gần
đây, Đảng và nhà nước ban hành nhiều chính sách rất quan trọng, trong đó có luật
giáo dục 2005 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật giáo dục năm 2009,
Thông tư số 17/2002/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 Ban hành về qui định dạy thêm,
học thêm. đã cụ thể hoá việc quản lý bằng pháp luật. Việc thực hiện quản lý nhà
nước về Giáo dục và Đào tạo bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, tạo ra hành lang pháp lý để cho các tổ chức và cá nhân có thêm cơ hội để
đầu tư và hưởng thụ giáo dục ngày một đầy đủ. Từ Luật Giáo dục, các cơ quan
hành chính nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản dưới luật để hướng dẫn các tổ
viên. Hiện tượng này ngày càng phát triển ở tất cả các cấp học từ tiểu học, trung
học cơ sở đến trung học phổ thông. Tuy nhiên, hồi mới đầu, thầy, Cô giáo chỉ chủ
yếu là kèm cặp cho học sinh, qua đó các phụ huynh bồi dưỡng cho thầy, Cô làm
thêm giờ này một ít thù lao do tuỳ tâm từng người, chưa có quy định cụ thể và học
sinh đi học lúc ấy là tự giác và không hề có sự bắt buộc nào hết. Nhưng càng sau
này, hiện tượng trên càng phổ biến, các lớp học ngày càng có quy mô lớn hơn và
được tổ chức chặt chẽ, có lịch và thời khoá biểu cụ thể. Các phòng học được bố trí
ngăn nắp hơn, có đủ bàn ghế, có quy cách có ánh sáng, âm thanh phù hợp, và đặc
biệt là được bố trí phòng riêng độc lập với sinh hoạt của gia đình. Học sinh đến học
được ghi danh, có thể là học sinh do chính giáo viên dạy trên lớp được phân công,
có thể là học sinh của lớp khác trong trường hoặc học sinh của trường khác trong
khu vực. Đặc biệt học phí được quy định rõ ràng, mức học phí phụ thuộc vào thời
gian học, bộ môn dạy và rất phụ thuộc vào trình độ của giáo viên. Các lớp học này
phổ biến đặt ở ngoài nhà trường, có thể ngay tại nhà giáo viên dạy, thuê địa điểm
2
ngoài nhà trường, cá biệt một nhóm giáo viên tự tổ chức và thuê địa điểm tập trung
để dạy.
Trong số đó không ít giáo viên đã bằng mọi cách yêu cầu hầu như tất cả học
sinh mình dạy trên lớp đến học, đối tượng học thêm cả học sinh giỏi cũng như học
sinh học yếu đều được dạy thêm như nhau, lúc này hiện tượng dạy thêm tràn lan
xuất hiện. Hiện tượng này bắt đầu phổ biến và gây bức xúc dư luận từ những năm
cuối 1990 và từ năm 2000 trở đi, đặc biệt phức tạp từ 2005 đến nay. Cũng từ thời
điểm này quan hệ giữa giáo viên và học sinh bị việc dạy thêm có thu tiền chi phối.
Một bộ phận không nhỏ giáo viên đã có thu nhập ngoài lương cao hơn lương nhà
nước trả “chân ngoài dài hơn chân trong” đã trở thành khá phổ biến, không ít giáo
viên đã lấy mục tiêu dạy thêm làm động cơ vào nghề.
Phần thứ hai
XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Như vậy rõ ràng, hiện tượng dạy thêm học thêm là vấn đề xã hội, chúng ta
cần phân tích và tìm ra bản chất của sự việc, các mặt tích cực của nó để nhận dạng,
của người giáo viên Thế nhưng, nếu nhìn nhận một cách khách quan hơn,
liệu việc dạy thêm, học thêm có thật sự là vấn nạn mà xã hội đã và đang kịch
liệt lên án?
Học tập là một quá trình phấn đấu và rèn luyện không ngừng, "Học, học
nữa, học mãi", một bài học nếu dạy một lần trên lớp chính khoá, nhiều học sinh có
thể chưa thấm nhuần, chưa tiếp thu hết ngay được. Nếu kiểm tra sẽ có ngay các tỷ
lệ phần trăm số học sinh nắm vững hoặc chưa nắm vững bài học, tỷ lệ ấy dao động
tuỳ thuộc vào năng lực, trình độ, tư duy, phẩm chất trí tuệ của từng học sinh. Một
tập thể lớp học sẽ có sự phân loại từng nhóm khác nhau, và đó là điều tất yếu.
Những đồng tiền giáo viên có được từ việc dạy thêm là thu nhập chính đáng
từ công sức trí tuệ, tâm huyết của mình. Vậy thì dạy thêm, học thêm có gì là xấu,
có gì là "ghê gớm" mà một số người phải nặng lời lên án nó như bấy lâu nay? Xã
hội đừng bao giờ nhìn nhận cực đoan rằng, giáo viên bày trò dạy thêm, học thêm
để kiếm tiền từ học sinh. Nếu chỉ suy nghĩ theo hướng này thì thật oan cho nhà
giáo.
Theo tôi, để hạn chế những tiêu cực của việc dạy thêm, học thêm, trước hết,
phải khẳng định rằng, đây là một nhu cầu của xã hội. Có cung ắt có cầu theo quy
luật của cuộc sống, vì vậy, không nên cấm đoán, không nên chỉ nói một chiều với
những mặt trái của vấn đề. Yêu cầu đặt ra ở đây là gia đình và nhà trường cần có
sự phối hợp hài hoà, có phương pháp định hướng quản lí cho phù hợp, để dạy
thêm, học thêm có thể phát huy được những mặt tích cực góp phần nâng cao kiến
thức giúp học sinh nắm chắc kiến thức khoa học, kiến thức phổ thông.
Ngành giáo dục cần có cơ chế, quy chế cụ thể nhằm tăng cường quản lí theo
hướng quy định rõ số buổi mà từng môn học được phép tổ chức dạy thêm tại
trường. Ban giám hiệu nhà trường nên định rõ số buổi mà từng môn học phải quản
lí theo chương trình giáo án đăng kí dạy thêm của giáo viên. Tuyệt đối không dạy
trước chương trình đào tạo chính khoá, việc dạy thêm chỉ nhằm mục tiêu phụ đạo
bài giảng chính khoá mang tính hệ thống, giảng thêm cho học sinh chậm hiểu hoặc
nâng cao kiến thức bồi dưỡng thêm cho học sinh giỏi Ngành giáo dục cần có quy
định mức tối thiểu, tối đa việc thu tiền học trên nguyên tắc trả tiền công cho giáo
không có lý do gì để xử lý nhà trường. Nếu các phụ huynh không muốn con mình
đi học thêm thì phải bày tỏ quan điểm rõ ràng, không đi học thì không làm đơn xin
cho con đi học thêm. Cơ chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo bây giờ là mọi vấn đề
đều công khai tự nguyện nên nếu phụ huynh nào không bằng lòng thì phải có phản
ánh thì cơ quan quản lý giáo dục mới dễ dàng trong việc xử lý.
"Mầm non, tiểu học thì không nên học thêm"
Nhiều học sinh tiểu học thậm chí là mầm non đã phải học thêm nhiều môn
như: Môn múa (với học sinh mầm non), học rèn chữ, học toán, học tiếng anh (với
học sinh tiểu học) Liệu với độ tuổi như vậy học thêm có phù hợp không?
Với những học sinh mầm non và tiểu học, thời gian học ở lớp gồm cả buổi
sáng và buổi chiều thì thời gian ở nhà chỉ dành để chơi đùa thư giãn. Lứa tuổi này
là lứa tuổi vừa học vừa chơi, vì thế nếu học ở nhà và còn học thêm nữa thì sẽ đi
ngược với các phương pháp giáo dục, nó không đem lại kiến thức cho trẻ nhỏ.
5
Để hạn chế tình trạng dạy thêm, học thêm, về công tác chuyên môn, như trên
đã nói, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo đổi mới trong cách thi cử kiểm tra. Tạo ra
bộ đề thi chung khiến giáo viên không thể giấu kiến thức đồng thời chấm thi công
bằng, chấm chéo nhau giữa các lớp, các trường. Đồng thời tăng cường công tác
quản lý.
Căn cứ Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16/5/2012 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc ban hành qui định về dạy thêm, học thêm; Giám đốc Sở Giáo
dục và Đào tạo có tờ trình số 253/TTr-SGDĐT ngày 06/2/2013 về việc Ban hành
quy định dạy thêm, học thêm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Theo tờ trình, UBND
tỉnh đã có Quyết định số 25/2013-QĐ-UBND về việc Ban hành Quy định dạy
thêm, học thêm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với nội dung như sau:
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1.Văn bản này qui định về dạy thêm, học thêm có thu tiền bao gồm: điều
kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục tổ chức dạy thêm, học thêm; hồ sơ, thủ tục cấp giấy
phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm trách nhiệm quản lý hoạt động dạy
thêm, học thêm; thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm.
công lập.
a) Không được tổ chức dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường nhưng có thể
tham gia dạy thêm ngoài nhà trường;
b) Không được dạy thêm ngoài nhà trường đối với học sinh mà giáo viên
đang dạy chính khóa khi chưa được sự cho phép của Thủ trưởng cơ quan quản lý
giáo viên đó.
Phần thứ ba
PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
I. Nguyên nhân
Từ các phân tích như trên ta có thể thấy rằng:
- Một là: nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó là do các bậc phụ huynh.
Chính họ bị áp lực bởi thành tích. Ai cũng muốn con của mình phải đứng thứ nhất
thứ nhì của lớp, vì thế mà họ ép con, bắt con phải học.
- Hai là: có thể do học sinh muốn nâng cao kiến thức của mình. Các em
muốn được học những kiến thức nâng cao hơn, lạ hơn những kiến thức trong sách
giáo khoa nên các em tìm đến các lớp học thêm là điều dễ hiểu.
Trước đây thì có hiện tượng giáo viên chỉ dạy một phần kiến thức ở trên lớp
và "để dành" kiến thức để dạy ở lớp học thêm, khi kiểm tra các em không đi học
thêm sẽ không làm được bài. Nhưng những năm gần đây, nhà trường chỉ đạo việc
ra đề kiểm tra. Quyền ra đề thi không phải là giáo viên như trước mà nhà trường sẽ
có ngân hàng đề thi và hiệu trưởng sẽ bốc một đề thi bất kỳ. Thậm chí có trường
còn chấm chéo hoặc giữa các lớp với nhau. Nên nếu giáo viên muốn giấu nội dung
học cũng sẽ khó. Đó là việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá. Phương pháp
này sẽ giúp hạn chế những bất cập trong giáo dục và chặn bớt tình trạng học thêm,
dạy thêm.
- Ba là: từ chương trình giảng dạy bậc THCS trở lên, đặc biệt là THPT rất
quan trọng, nội dung đa dạng phong phú, rất nhiều học trò chưa thể tiếp thu hết
được kiến thức của từng môn học từ số tiết dạy chính khoá. Mặc dù trong chương
7
trình chính khoá, ban giám hiệu tại các trường học đều có sự quản lí chặt chẽ, thời
hiểu rằng, khi thầy giáo đòi tiền học sinh một cách trực tiếp thì không thể có quan
hệ trong sáng. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự mai một truyền thống “tôn sư
trọng đạo ngày nay”.
- Để thu hút học sinh lớp mình quản lý học thêm, đã không ít giáo viên vi
phạm quy chế chuyên môn, cụ thể làm rò rỉ thông tin trước khi cho học sinh làm
bài kiểm tra, cá biệt đã xảy ra sự trù dập học sinh không học thêm, không trung
thực trong đánh giá học sinh. Tuy nhiên đây là vấn đề nhạy cảm, ngành giáo dục
khó xử lý vì các căn cứ thường được cung cấp bởi các thông tin nặc danh.
8
Như vậy, theo tôi việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định dạy thêm
- học thêm là chưa thể giải quyết tận gốc vấn đề, cho dù chúng ta thực hiện rất tốt
quy định này, bởi tính khả thi thấp.
Phần thứ tư
CÁC GIẢI PHÁP VÀ LỰA CHỌN
I. Các phương án đề xuất
Từ những phân tích và dẫn chứng trên đây, thực tế đòi hỏi ngành giáo dục
và toàn xã hội cần tập trung giải quyết vấn đề nêu trên như thế nào. Trong phạm vi
đề tài này, tôi xin đưa ra một số phương án giải quyết như sau:
Các phương án đề xuất xử lý tình huống
Phương án 1:
Tất cả các nhà trường tổ chức kiểm tra kiến thức văn hoá của học sinh đầu
năm học, phát hiện các học sinh yếu kém, phân loại học sinh khá giỏi, lập danh
sách và phân làm hai đối tượng: học yếu kém và học khá giỏi, tổ chức học phụ đạo
cho học sinh yếu, kém và bồi dưỡng nâng cao cho học sinh khá giỏi. Các học sinh
trung bình có thể tự lựa chọn lớp để học. Việc tổ chức học thêm do nhà trường tổ
chức, học phí thu theo thoả thuận với Ban đại diện cha mẹ học sinh. Việc chi trả
tiền công giờ dạy cho giáo viên theo quy chế chi tiêu nội bộ, theo nguyên tắc bù
đắp sức lao động cho người dạy, người quản lý và hao mòn tài sản nhà trường.
Tuyệt đối không cho giáo viên tổ chức lớp học ngoài nhà trường.
Phương án 2:
mức bình quân thu nhập thực tế hiện nay của người lao động có đào tạo trình độ
tương đương trong các ngành nghề khác. Đảm bảo cho nhà giáo đủ sống, làm việc,
học tập, tái tạo sức lao động bằng đồng lương của mình. Nếu giáo viên nào tổ chức
dạy thêm trái quy định xử lý thật nặng, có thể cấm hành nghề, coi việc làm đó là
trái đạo đức nghề nghiệp.
II. Lựa chọn phương án
1. Đánh giá ưu, nhược điểm từng phương án
Phương án 1:
-Ưu điểm: Thực hiện được nguyên tắc công bằng trong lao động giữa các
giáo viên trong một đơn vị; giữa giáo viên và học sinh chỉ quan hệ thông qua chất
lượng giảng dạy. Đảm bảo mối quan hệ thầy trò trong sáng, không ép học sinh học
thêm để thu tiền;
- Nhược điểm: Học sinh đã đi học chính khóa, còn phải đi thêm buổi, nói là
tự nguyện, nhưng nếu nhà trường tổ chức thì sẽ trở nên bắt buộc. Việc bố trí thời
gian học tập của học sinh gò bó, phụ thuộc nhà trường; bản thân giáo viên chưa
được động viên đầy đủ, nên thiếu nhiệt tình.
Phương án 2:
-Ưu điểm: Việc quản lý nhà nước về giáo dục sẽ thống nhất, các quy định về
điều kiện mở lớp, phạm vi hành nghề công khai, chính quyền địa phương sẽ cùng
với ngành GDĐT tham gia quản lý. Giáo viên được hoạt động công khai vì đã
được cấp thẩm quyền cấp phép. Việc quản lý của các cơ quan giáo dục, trường học
sẽ thuận lợi hơn.
-Nhược điểm: Cơ quan quản lý sẽ phải thêm bộ phận quản lý cấp phát công
kềnh, không có thu nhập thêm cho quản lý trong khi mất thêm thời gian quản lý.
Việc cấp phát giấy phép theo quy định tại quyết định của Bộ khá rườm rà, hình
10
thức, thực chất có cấp phép là chiếu lệ, vì ai cũng được cấp nên nó trở thành tràn
lan. Trên diện rông không thể kiểm tra quản lý các cơ sở dạy thêm vì không có lực
lượng, mà tổ chức rồi không kiểm tra trở nên phản tác dụng, cấp phép ở đây thực
tế là tháo khoán. Mặt khác theo quy định học phí là thỏa thuận, đây lại là vấn đề
thức của trẻ em hay người học nói chung không đồng đều, muốn nhận thức được
đầy đủ nội dung theo quy định bài học, mỗi học trò cần có quỹ thời gian khác
nhau, mổi học trò có mong muốn tiếp thu lượng kiến thức khác nhau, tất yếu phải
cần sự hướng dẫn khác nhau. Theo nguyên tắc giáo dục, mỗi cá thể khác nhau để
có hành vi như nhau cần có sự giáo dục khác nhau cũng như mỗi cây xanh cần
11
lượng ánh sáng, dinh dưỡng, nước khác nhau để cho cùng một sản lượng tăng
trưởng như nhau.
Nhưng hưởng thụ giáo dục phải công bằng, mọi người có quyền hưởng thụ
như nhau, cơ hội học tập cũng phải bình đẳng. Theo tôi để loại bỏ các phiền phức
mà xã hội đang quan ngại, nhà trường nói riêng, ngành giáo dục nói chung tạo ra
sân chơi bình đẳng ngay trong nhà trường. Học sinh đến trường là để học tập, được
giáo dục và rèn luyện cả đức, trí, thể, mỹ, lúc về nhà các em có quyền được vui
chơi, học các kiến thức xã hội khác rất cần cho các em, giúp học sinh hình thành
nhân cách đầy đủ. Phương án tôi chọn là phương án 1, vì tôi cho rằng, đây là mục
đích của giáo dục đích thực, nếu không được như vậy thì đó là sự bất bình đẳng, từ
bất bình đẳng trong nhà trường, trong giáo dục sẽ tạo nên con người chỉ biết sống
cho riêng mình, vươn lên bằng mọi cách. Muốn vậy chúng ta phải triển khai kế
hoạch như sau:
1. Giảm tải nội dung và chương trình của giáo dục phổ thông là việc làm
trước hết. Lựa chọn lại các môn học cần thiết cho lứa tuổi phổ thông. Đưa một số
nội dung giáo dục hiện nay trong nhà trường phổ thông lên cấp học trên, đưa ra
môi trường khác để người học tiếp cận. Nói cách cụ thể là: giảm số môn học và
giảm dung lượng kiến thức mỗi môn để chương trình tinh gọn hơn. Khi đó giáo
viên có đủ thời gian chuyển tải kiến thức. Trong quá trình cải cách giáo dục, càng
ngày phải đưa càng nhiều nội dung vào nhà trường. Do vậy học sinh không đủ thời
gian để “tiêu hóa” kiến thức, không hiểu hết bài trên lớp nên phải học thêm quá
nhiều, càng học càng thiếu thời gian.
2. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh
làm trung tâm, biến quá trình truyền thụ kiến thức của thầy thành quá trình tìm
thầy càng phải rèn đạo đức nghề nghiệp. Phải làm cho người thầy hiểu rằng, thầy
hưởng lương của xã hội trả là đồng tiền đóng thuế của nhân dân và phải có trách
nhiệm dạy con em nhân dân nên người theo sự phân công của xã hội.
7. Việc đánh giá học sinh của giáo viên phải công khai, minh bạch, phải được
kiểm tra giám sát, kết quả học tập của học trò phải được cung cấp thường xuyên
cho cha mẹ học sinh. Phải tư vấn cho cha mẹ trong việc giúp các em tự học…
8. Phải tăng cường đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng, đảm
bảo kiến thức tối thiểu được quy định mỗi giai đoạn giáo dục học sinh, hướng dẫn
học sinh có kế hoạch phấn đấu vươn lên trong học tập, phải biết động viên các em,
phải biết gieo vào lòng các em: mọi học trò đều có thể tiếp thu kiến thức như nhau
nếu có phương pháp học tập đúng.
Nếu thực hiện được các nội dung trên, việc dạy thêm học thêm sẽ đơn giản
rất nhiều: ai cần bổ sung kiến thức đến đâu, nhà trường phân loại và công khai tổ
chức lớp, học sinh nộp thêm học phí đối với các cấp được thu học phí, nhà trường
tổ chức lớp, phân công giáo viên dạy và tổ chức kiểm tra đánh giá khách quan…
Khi đó nhà giáo chỉ tập trung vào viêc nâng cao trình độ chuyên môn, tập trung
thời gian trí tuệ thực hiện nhiệm vụ giáo dục của mình.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Cùng với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước ta trong giai
đoạn vừa qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã có những tiến bộ rất to lớn, nó đã
thực sự làm tốt nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, giáo dục công
dân và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trong thành tựu chung của giáo dục và
đào tạo, chúng ta có quyền tự hào rằng, giáo dục phổ thông của Việt Nam không
thua kém nhiều nước trên thế giới. Chúng ta đạt rất nhiều giải học sinh giỏi trong
các kỳ thi Olimpic quốc tế các môn khoa học tự nhiên. Học sinh Việt Nam khi đi
du học luôn ở tốp đầu so với các nước khác. Quy mô giáo dục ngày càng được đầu
13
tư mạnh, hệ thống trường lớp của Việt Nam được tổ chức thế giới Unesco đánh giá
rất cao, chúng ta đã đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ về giáo dục đã cam kết.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách đầy đủ, chúng ta chưa đáp ứng được sự mong
bổ sung, nhưng về cơ bản, đây là những định hướng tháo gỡ để phát triển của Ngành
Giáo dục và Đào tạo địa phương.
Người viết SKKN
Ý kiến đánh giá của
Thủ trưởng đơn vị
14
Phan Đình Chương
TAÌ LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Giáo dục 2005 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật
Giáo dục ngày 25/11/ 2009;
2. Quy chế kiểm tra đánh giá học sinh;
3. Quyết định 03/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo ngày 31 tháng 01 năm 2007 Quy định về dạy thêm, học thêm;
4. thông tư số 17/ 2012/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về dạy thêm,
học thêm;
5. Quyết định của UBND tỉnh Ban hành Quy định về dạy thêm, học
thêm;
6. Giáo trình Quản lý nhà nước Ngạch Chuyên viên chính;
7. Luật công chức;
8. Dự thảo “Luật Viên chức”.
15
SỞ GD& ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VĂN PHÒNG Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Đồng Nai, ngày 27 tháng 5 năm 2013
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012-2013
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm về Quản lý dạy thêm, học thêm
trong giáo dục phổ thông Ngành Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai
Họ và tên tác giả: Phan Đình Chương. Đơn vị (Tổ): Văn Phòng Sở GD & ĐT
Lĩnh vực: