CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
******
BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM 05
STT Họ và tên
Điểm tự đánh giá của các
thành viên
Điểm
trưởng
nhóm
chấm
Ghi chú
Điểm Ký tên
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1
1
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………… 4
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI
SUẤT CỦA NHNN VIỆT NAM…………………………………………. 5
I. Tìm hiểu về lãi suất……………………………………………………………………. 5
1. Khái niệm………………………………………………………………………… 5
2. Phân loại lãi suất………………………………………………………………… 5
CỦA NHNN VIỆT NAM……………………… ………………………… 23
1. Cụ thể những việc cần làm trước mắt của NHNN trong giai đoạn hiện nay ……… 24
2. Đề xuất những giải pháp lâu dài những giải pháp lâu dài……………………………. 25
a. Củng cố, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng……………. 25
b. Phát huy vai trò của các công cụ gián tiếp…………………………………… 26
c. Phát triển thị trường tài chính đặc biệt là thị trường chứng khoán………… 27
d. Nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản lý và năng lực kiểm soát rủi ro của
các TCTD ………… ………………………………………………………… 28
e. Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý……………………………………… 29
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………… 30
3
3
Lời mở đầu
Đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, lãi suất là một công cụ quan trọng trong
điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô. Lãi suất ảnh hưởng tới quan hệ cung- cầu về vốn, đến
việc phân bổ các nguồn tài chính của nền kinh tế, tác động đến thị trường tiền tệ, từ đó
ảnh hưởng đến tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Lãi suất cũng là cơ sở để các cá
nhân, doanh nghiệp quyết định sử dụng vốn như thế nào, chi tiêu hay tiết kiệm, đầu tư
vào cái này hay cái khác.
Ở Việt Nam, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, lãi suất chưa được sử dụng một
cách đầy đủ như đòn bẩy kinh tế, nhằm kích thích kinh tế phát triển. Từ khi chuyển sang
nền kinh tế thị trường, lãi suất đã phần nào phát huy vai trò của mình. Tuy nhiên, để có
một chính sách lãi suất phù hợp với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong thời gian tới,
làm “hạt nhân” thúc đẩy thị trường tài chính phát triển còn là vấn đề đáng được quan tâm,
nghiên cứu. Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã đưa ra các cơ chế lãi suất ở từng thời kỳ
khác nhau nhằm mục tiêu ổn định nền kinh tế. Vậy thì, câu hỏi được đặt ra ở đây là: Cơ
chế lãi suất nào là phù hợp với tình hình kinh tế của Việt Nam hiện nay?
Bài thảo luận của chúng tôi tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng của các cơ
chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam qua các giai đoạn với những tác động tích
cực và hạn chế. Việc nghiên cứu cũng nhằm đề xuất các giải pháp trước mắt cũng như lâu
Lãi suất tiền gửi
Lãi suất cho vay: lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cầm cố thế chấp hay lãi suất tái cấp
vốn và lãi suất cho vay qua đêm
Trong bài thảo luận này chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về cách phân loại lãi suất theo
quan hệ giữa NHTW – NHTM.
Lãi suất tiền gửi: Là lãi suất áp dụng để tính lãi cho NHTM khi NHTM gửi tiền tại
NHTW. Gồm có lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi thanh toán. Lãi suất
tiền gửi có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào thời hạn gửi và quy mô tiền gửi. Sự biến
động ở mức độ lớn của lãi suất tiền gửi không chỉ ảnh hưởng tới quy mô nguồn vốn của
các ngân hàng mà còn ảnh hưởng tới lượng cung, cầu tiền và qua đó ảnh hưởng tới lạm
5
5
phát. Chính vì vậy, việc áp dụng chính sách tăng mạnh lãi suất tiền gửi có hiệu quả cao
trong kiềm chế, đẩy lùi lạm phát.
Lãi suất cho vay: là lãi suất ngân hàng trung ương áp dụng khi cho các tổ chức tín
dụng vay đáp ứng các nhu cầu tạm thời về vốn theo các điều kiện do ngân hàng trung
ương qui định. Lãi suất cho vay do NHTW ấn định căn cứ vào mục tiêu của chính sách
tiền tệ (CSTT) trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trường tiền
tệ. Đây là 1 trong những kênh phát hành tiền của NHTW. Sự thay đổi lãi suất cho vay tác
động đến khả năng cung ứng tiền của hệ thống NHTM và quy mô cho vay, lãi suất cho
vay của NHTM đối với nền kinh tế. Vì vậy, NHTW có thể thực hiện mục tiêu nới lỏng
hoặc thắt chặt cung ứng tiền thông qua công cụ lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay bao
gồm:
Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi NHTW tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới
hình thức chiết khấu lại các thương phiếu hay các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn
thanh toán cho các ngân hàng . Nó được tính bằng tỉ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có
giá và cũng được khấu trừ ngay khi NHTW cấp vốn tiền vay cho NHTM.
Lãi suất tái cấp vốn (lãi suất cầm cố, thế chấp): áp dụng khi NHTW tái cấp vốn
cho các ngân hàng dưới hình thức cho vay cầm cố hoặc thế chấp giấy tờ có giá.
Lãi suất cho vay qua đêm: là lãi suất vay nóng giữa các NHTM với nhau hoặc
+ lãi suất thấp ═> khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng ═> tăng tổng cầu
═> sản lượng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm giá so với
ngoại tệ.
+ lãi suất cao ═> hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng ═> giảm tổng cầu ═> sản lượng
giảm, giá cả giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.
Như vậy bằng cách giảm lãi suất, NHNN có thể tạo điều kiện cho các hoạt động
kinh tế phát triển. Tương tự, NHNN có thể tăng lãi suất khi muốn thực hiện chính sách
thắt chặt tiền tệ, giảm bớt lượng khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu dùng.
c. Là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả:
Khi Nhà nước muốn khuyến khích phát triển một ngành nghề quan trọng nào đó
trong nền kinh tế, Nhà nước có thể thực hiện bằng cách ưu đãi về lãi suất cho vay
(như giảm lãi suất cho vay ), và ngược lại khi muốn hạn chế sự phát triển của các ngành
chưa cần thiết để dành nguồn lực cho các ngành khác thì Nhà nước có thể tăng lãi suất
cho vay của ngành đó. Như vậy, những ngành được hỗ trợ sẽ phát triển hơn còn các
ngành bị hạn chế sẽ ít phát triển hơn. Do đó chính sách lãi suất là một công cụ để phân
phối cơ cấu của nền kinh tế nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực.
d. Là công cụ đo lường tình trạng sức khỏe của nền kinh tế:
Nhìn vào đường cong lãi suất, có thể thấy được xu hướng biến động của lãi suất và
tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế. Lãi suất lại là một biến số thường xuyên biến động
trong nền kinh tế. Căn cứ vào sự biên động của lãi suất người ta có thể dự báo được các
yếu tố khác của nền kinh tế như tính sinh lời của các dự án đầu tư, mức độ lạm phát, mức
độ thiếu hụt ngân sách và qua đó còn có thể dự báo được tình hình nền kinh tế trong
tương lai .
e. Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:
Trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta từng bước nới lỏng các rào cản mang
tính hành chính để trả về cho nền kinh tế vận hành theo đúng quy luật vốn có của nó. Và
một trong những lĩnh vực thể hiện rõ cơ chế này là chính sách điều hành lãi suất của
NHNN. Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của lãi suất làm cho nó trở thành công cụ
quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
giá…) đối với các tổ chức tín dụng.
Cơ chế này được thực hiện theo 2 nguyên tắc: NHTW chỉ công bố các mức lãi suất
áp dụng đối với các khoản cho vay tái chiết khấu hoặc cho vay cầm cố các chứng từ có
giá của mình đối với các tổ chức tín dụng. Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể
theo từng kỳ hạn, từng đối tượng của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế sẽ do tổ
chức tín dụng tự ấn định, dựa trên cơ sở cung-cầu về vốn và sự cạnh tranh trên thị trường,
từ đó mà hình thành nên các mức lãi suất phản ánh đúng yêu cầu của thị trường.
Cơ chế điều hành lãi suất này được áp dụng phổ biến đối với các nền kinh tế có hệ
thống tài chính phát triển. Cơ chế này cũng trở nên linh hoạt hơn khi bên cạnh các loại lãi
suất trên, NHTW chấp nhận lãi suất do thị trường hình thành và tác động vào lãi suất này
để duy trì ở mức mong.Vai trò điều hành lãi suất của NHTW chỉ mang tính định hướng
cho thị trường tiền tệ theo mục tiêu của CSTT từng giai đoạn. Đối với các quốc gia có
nền kinh tế chưa phát triển thì cơ chế này là một khó khăn.
Ưu điểm của cơ chế điều hành lãi suất gián tiếp là không có sự can thiệp trực tiếp
của NHTW vào lãi suất thị trường tiền tệ, lãi suất trên thị trường được hình thành và vận
8
8
động linh hoạt hoàn toàn phụ thuộc vào cung - cầu về vốn, mà không mang tính chủ
quan, áp đặt của Nhà nước. Vai trò điều hành lãi suất của NHTW chỉ mang tính định
hướng cho thị trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ từng giai đoạn.
b. Cơ chế điều hành trực tiếp
NHTW quản lý thống nhất lãi suất đối với nền kinh tế, thông qua các hình thức
quản lý lãi suất của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế quy định mức lãi suất cho
vay tối đa hoặc tiền gửi tối thiểu của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế. Trong
phạm vi lãi suất được phép, các tổ chức tín dụng được quyền ấn định mức lãi suất kinh
doanh phù hợp. Khi có các thay đổi về kinh tế vĩ mô, NHTW có thể xem xét để điều
chỉnh giới hạn lãi suất tối đa ở mức hợp lý. Theo cách thức điều hành lãi suất, cơ chế điều
hành trực tiếp gồm:
Cơ chế ấn định lãi suất: Nhà nước quản lý trực tiếp lãi suất bằng cách công bố tất cả
các loại lãi suất. Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng đều phải thực hiện một cách tuyệt
hiện tự do hóa lãi suất huy động và linh hoạt trần lãi suất cho vay. Mức lãi suất tái cấp
vốn được quy định cụ thể và điều chỉnh phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu -
vốn trên thị trường.
Năm 1996-1997, NHNN khống chế về mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi
suất tiền gửi là 0,35%/ tháng. Quy định này đã gây mất công bằng giữa các tổ chức tín
dụng, bởi vì mỗi tổ chức có đặc thù riêng về chi phí huy động vốn. Vì vậy, đến năm 1998,
quy định này bị bãi bỏ. Đầu năm 1998, theo quyết định 39/1998/QĐ-NHNN, của Thống
đốc NHNN, trần lãi suất cho vay đã tăng thêm 1%/tháng lên 1,2%/ tháng, cho vay trung
và dài hạn tăng từ 1,10%/tháng lên 1, 25%/tháng. Việc điều hành nâng trần lãi suất cho
vay của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế là cơ sở để các tổ chức tín dụng tăng lãi
suất huy động vốn tương ứng, tạo điều kiện huy động vốn đủ đáp ứng các nhu cầu cho
vay, phát triển kinh tế xã hội.
Sang năm 1999, nền kinh tế có dấu hiệu thiểu phát, nhằm kích cầu NHNN liên tục
điều chỉnh giảm trần lãi suất, lãi suất cuối năm giảm 0,35%-0,4% so với đầu năm và ở
mức thấp so với những năm trước:
+ Cho vay khu vực thành thị : 0,85% /tháng
+ Cho vay khu vực nông thôn : 1%/tháng
11/1999, nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá được bổ sung vào
các công cụ điều hành lãi suất. Đến 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường
mở với lãi suất được hình thành qua các phiên giao dịch theo quan hệ cung – cầu.
Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát,
ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có
khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á. Song cơ chế này vẫn có
những hạn chế nhất định.
- Chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn thời kỳ này rất nhỏ, thậm chí
lãi suất cho vay thời kỳ hiện tại thấp hơn lãi suất huy động vốn của thời kỳ trước đó đang
còn số dư có. Khi NHNN quyết định không giảm lãi suất đối với các khoản cho vay trước
đây, người vay lập tức đến vay ở một ngân hàng khác có lãi suất thấp hơn để trả nợ cũ với
lãi suất cao. Kết cục rủi ro lãi suất luôn đặt gánh nặng lên vai các NHTM.
- Một hạn chế nữa của chính sách lãi suất thời kỳ này là các NHTM quốc doanh vẫn
4-5/2001
6-9/2001
10/2001-7/2002
8-12/2002
0,750
0,725
0,700
0,650
0,600
0,620
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Biên độ trên được quy định hợp lý để đảm bảo cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi
suất một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện kinh doanh và mức độ rủi ro cụ thể đồng
thời NHNN kiểm soát được lãi suất cho vay. Biên độ trên không phân biệt đối với lãi suất
áp dụng giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các loại hình tổ chức tín dụng (trừ
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở) mà chỉ quy định có sự phân biệt giữa lãi suất ngắn hạn và
lãi suất trung, dài hạn. Biên độ trên bao gồm cả các khoản phí liên quan đến khoản vay
nhằm tránh việc tổ chức tín dụng lợi dụng để thu phí nâng lãi suất cho vay lên quá mức
biên độ cho phép.
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các tổ
11
11
chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung
cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ.
Có thể thấy chính sách lãi suất thời kỳ này đã tiến gần đến các nguyên tắc lãi suất
thị trường hơn, NHNNVN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa
và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới.
Việc sử dụng LSCB làm tham chiếu khi cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng chính
là bước chuẩn bị cho tự do hóa lãi suất hoàn toàn sau này.
3. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002 – 5.2008)
đó mỗi NHTMQD hiện đang quản lý một khối tài sản tương đương 15 - 20% GDP với
các khách hàng chính là các DNNN. Trong khi đó, Chính phủ hạn chế việc tiếp cận thị
trường ngân hàng của các Ngân hàng liên doanh và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài ở
Việt Nam. Do vậy 4 “đại gia” này dễ dàng chi phối lãi suất trên thị trường. Thêm vào đó,
quá nhiều ưu đãi về lãi suất của Chỉnh phủ thông qua con đường cho vay chỉ định cũng
làm mất đi tính thị trường của lãi suất.
Mặt khác, các tác động tiêu cực của tốc độ tăng trưởng nhanh cũng dần bộc lộ. Lạm
phát phi mã (lạm phát ở mức 2 con số) năm 2007 (được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng cuối
năm so với cuối năm 2006) là 12,63%, cao nhất trong hơn chục năm trước đó khiến cho
các mặt hàng đua nhau tăng giá, đặc biệt một số mặt hàng tăng giá 1 cách chóng mặt (như
trong tháng 9/2007 ,tại các chợ đầu mối rau quả, một số loại như cải ngọt, gừng nội địa,
hành củ đỏ, khoai lang, xà lách búp… tăng 200 đồng đến 1.000 đồng/kg. Riêng giá cải
thảo tăng 1.100 đồng/kg lên 5.500 đồng/kg). Chính sách thắt chặt tiền tệ được đua ra để
đối phó với lạm phát. Theo Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN, NHNN sẽ mở rộng diện
các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ
hạn, thay cho việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ
24 tháng trở xuống trong thời gian qua. Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc
phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bằng tiền đồng dưới hình thức bắt buộc đối với
các tổ chức tín dụng nhằm thu hút 20.300 tỉ đồng.
Tình trạng khan hiếm tiền đồng trên thị trường tiền tệ xuất hiện và ngày càng trầm
trọng trong 6 tháng đầu năm 2008 (do các khoản thanh toán của doanh nghiệp tăng mạnh
trong thời gian này; sự thiếu hỗ trợ trong cơ chế tái cấp vốn của và những hoạt động rút
tiền khỏi hệ thống liên NH trên thị trường mở của NHNN) khiến cho lãi suất tiền gửi
VND liên ngân hàng tăng dữ dội, có thời điểm lên tới 30 - 40%/năm, đẩy các NHTM vào
cuộc chạy đua lãi suất huy động như một phản ứng tự nhiên nhằm huy động đủ một
lượng vốn lớn trong thời gian ngắn đáp ứng hàng loạt các yêu cầu thắt chặt tiền tệ của
NHNN như dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu bắt buộc…
Và chỉ sau vài ngày chạy đua, lãi suất huy động của các NHTM (lên đến 15%-
16%/năm) đã cao hơn khá nhiều so với lãi suất tái cấp vốn của NHNN (13%/năm) và lãi
suất tái chiết khấu (11%/năm) mà NHNN cũng vừa nâng lên, đã tạo ra một làn
tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các NHTM bằng cách đẩy lãi suất lên
cao .
Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động
của các NHTM đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong
những tháng đầu năm 2009 tương đối ổn định. CPI bình quân năm 2009 chỉ tăng 6,88%
so với năm 2008, mức thấp nhất trong 6 năm trở lại đây (CPI bình quân năm 2004 t ăng
7,71%; năm 2005 tăng 8,29%; năm 2006 tăng 7,48%; năm 2007 tăng 8,3%; năm 2008
tăng 22,97%).
Cơ chế truyền dẫn của các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả
đối với hoạt động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường, thể hiện là lãi suất thị
trường liên ngân hàng đã biến động xoay quanh các mức lãi suất chủ đạo của NHNN; lãi
suất huy động và cho vay của các NHTM biến động theo cung – cầu vốn và tăng, giảm
theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của NHNN, đã tác động làm cho thu hẹp
hoặc mở rộng tín dụng.
Việc điều hành linh hoạt LSCB, vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái
phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN là “thắt chặt” hay “nới lỏng” tiền tệ. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009,
tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với chủ trương thắt chặt
hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng. Từ tháng 10/2008 đến nửa đầu năm 2009,
NHNN chuyển hướng điều hành chính sách tiền tệ từ “thắt chặt” để chống lạm phát sang
“nới lỏng” nhằm mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh giảm mạnh
lãi suất cơ bản từ 14% – 13% – 11% – 8,5% – 7%/năm. Tính đến cuối tháng 5/2009, tăng
trưởng tín dụng tăng 14,01% so với cuối năm 2008.
14
14
Trong 10 tháng đầu năm 2010, lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn ổn
định ở mức 8%/năm, kết hợp với điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường
mở và giám sát việc thực hiện các tỷ lệ an toàn của TCTD, đã điều tiết lãi
suất huy động và cho vay giảm dần theo chỉ đạo của Chính phủ (đến cuối
tháng 10, lãi suất huy động VND bình quân 10,44%/năm, cho vay
tướng và đẩy lên rất cao so với mức khống chế 10,5%/năm bởi nhiều chiêu khuyến mãi
phá rào.
Các điều chỉnh lãi suất của NHTW còn chưa linh hoạt , thường chậm hơn so với các
diễn biến của nền kinh tế và do đó chưa đạt được hiệu quả như mong muốn . Lấy ví dụ
như tình trạng lạm phát diễn ra trong năm 2007 với mục tiêu kiềm chế tốc độ lạm phát
thấp hơn tăng trưởng kinh tế , tuy nhiên khi tình trạng lạm phát diễn ra ( lên đến 12.63% )
thì NHNN vẫn duy trì mức lãi suất cơ bản như năm 2006 là 8,25% trong khi mức độ lạm
phát năm 2006 chỉ là 6,6% . Tiếp đó vào thời điểm lạm phát được kiểm soát vào khoảng
cuối năm 2008 thì lãi suất cơ bản không những không giảm mà còn tiếp tục tăng lên ( lên
đến 14% năm ) , điều này đã đẩy nhiều doanh nghiệp vào thế khó khi lãi suất quá cao gây
khó khăn cho việc vay vốn trong khi giá sản phẩm đã giảm xuống do tác động của lạm
phát đã được đẩy lùi . Mặt khác, nếu NHNN thi hành ngay việc tăng lãi suất cơ bản vào
cuối năm 2007 thì lạm phát đã không thể bùng phát mạnh mẽ như vậy và kéo dài sang cả
năm 2008 .
Thêm vào đó, quy định trần lãi suất như nhau cho mọi loại hình kinh tế là điều chưa
hợp lý. Nếu áp dụng cùng một mức lãi suất thì khả năng tiếp cận vốn của vay tiêu dùng bị
xếp sau thứ tự ưu tiên, làm ảnh hưởng tiêu cực và là nguyên nhân đẩy khách hàng cá
nhân ra khỏi hệ thống ngân hàng, họ phải tìm tới thị trường không chính thức với lãi suất
cao, nạn cho vay nặng lãi xuất hiện.
Chính sách lãi suất cơ bản chưa khuyến khích được các tổ chức tín dụng cho vay
trung và dài hạn . Trên thực tế, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng số
nguồn vốn cho vay của các ngân hàng . Do đó các dự án trung và dại hạn thường gặp rất
nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn vốn từ Ngân hàng .
Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối với lãi suất kinh
doanh của NHTM,do đó gây ra hạn chế nhất định trong việc thử nghiệm và đưa ra thị
trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường
của các NHTM.
16
16
Cơ chế LSCB phải chăng chỉ là giải pháp tình huống để giữ lãi suất thị trường theo
phí hoạt động, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận vốn vay để phát triển sản xuất –
kinh doanh, nhất là khu vực nông nghiệp và nông thôn, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Sự điều chỉnh này đã mang lại những lợi ích cụ thể như sau:
- Thứ nhất, hình thành mặt bằng lãi suất cho vay minh bạch, rõ ràng và phản ánh
đúng tín hiệu của thị trường, chấm dứt tình trạng phí “ngầm” mà Ngân hàng Nhà nước
cũng khó kiểm soát.
- Thứ hai, tạo điều kiện cho các NHTM chủ động xác định mức lãi suất cho vay
dựa trên các yếu tố: chi phí vốn đầu vào của ngân hàng; mức độ rủi ro của từng khách
hàng; lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của họ và một số yếu tố liên quan khác. Sự phân
hóa khách hàng sẽ diễn ra rõ hơn: Khách hàng có uy tín sẽ được hưỡng lãi suất thấp, còn
khách hàng kém uy tín phải chịu lãi suất cao với mức độ khác nhau rõ rệt.
17
17
- Thứ ba, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới để huy
độngvốn với mức lãi suất phù hợp; đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh
tế. Khi các ngân hàng chủ động hơn trong xác định lãi suất và quy mô huy động với thời
hạn hợp lý, rủi ro thanh khoản sẽ giảm.
- Thứ tư, chính sách lãi suất thỏa thuận làm tăng sức ép lên việc đổi mới cách thức
điều hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên thị trường tài chính- ngân
hàng Việt Nam.
- Thêm vào đó, hạn chế đối với các khoản vay trung và dài hạn khi áp dụng cơ chế
lãi suất cơ bản được giải quyết. Cụ thể theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư
Tp.HCM, đến cuối tháng 9/2010, cho vay trung dài hạn có mức tăng trưởng cao hơn cho
vay ngắn hạn, dư nợ tín dụng trung và dài hạn chiếm 44,7% và tăng 30,1%; dư nợ tín
dụng ngắn hạn tăng 17,4% so với cùng kỳ.
Đồng thời việc thực hiện cho vay theo lãi suất thỏa thuận cũng có những tác
động tiêu cực:
Thứ nhất, việc chưa gỡ bỏ trần lãi suất huy động trong khi thực hiện cơ chế lãi suất
cho vay thỏa thuận làm xuất hiện những vấn đề phát sinh:
trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm phát.
• Lãi suất góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung, kích thích sự tiết kiệm và
khuyến khích đầu tư. Việc xóa dần chính sách ưu đãi về lãi suất đã dần dần tạo điều kiện
cho các ngân hàng thương mại thực hiện tốt công tác hạch toán kinh tế và kinh doanh của
mình được chủ động và thuận lợi.
• Chính sách lãi suất qua các lần biến đổi đã tiến dần đến tự do hóa lãi suất, chuẩn bị cho
sự hội nhập về lãi suất với nền kinh tế thế giới. Những phản ứng tích cực của thị trường
là cơ sở khẳng định tính đúng đắn của Thông tư 07, 13. Và những phản ứng này là một
tín hiệu tốt để NHNN thực hiện những bước tiếp theo nhằm tự do hóa hoàn toàn lãi suất.
2. Hạn chế
• Hiệu lực, hiệu quả của các cơ chế điều hành LS chưa cao
Nguyên nhân: Năng lực tài chính, năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh của các
thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều, tính bền vững trong phát triển chưa
cao.
Nguồn: NHNN
Trên thị trường có sự cạnh tranh không lành mạnh. Biểu hiện là tình trạng đua nhau
tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các NHTM. Khi NHNN thực hiện cơ chế
lãi suất thỏa thuận đối với cho vay trung hạn, các NHTM đã đẩy mức lãi suất cho vay rất
cao, khoảng 18%. Những động thái tiêu cực đó là nguyên nhân gây ra sự bất ổn trong hệ
thống tài chính. Các dự án trung và dài hạn gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm kiếm
các nguồn vốn từ Ngân hàng. Điều này là 1 trở ngại đối việc phát huy hiệu lực, hiệu quả
của các chính sách do NHNN đưa ra.
Bên cạnh đó, đối với nhóm ngân hàng lớn, thông qua vị thế mạnh của mình trong hệ
thống, những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gây ảnh hưởng tới
tác động tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính sách lãi suất nói riêng.
19
19
• Mức độ tự do của LS còn hạn chế: Một trong những lý do là thị phần tín dụng áp dụng
mức lãi suất chính sách là không nhỏ. Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi
suất trong thời gian qua, thì chúng ta cũng có không ít các dự án, các lĩnh vực sản xuất
• Tính kỷ luật trong hoạch định các chính sách vĩ mô chưa cao, tình trạng mâu thuẫn của
các mục tiêu của các chính sách vẫn thường xảy ra.
Là một nền kinh tế đôla hóa, lãi suất đồng nội tệ, lãi suất ngoại tệ và tỷ giá có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, với mức chênh lệch quá lớn giữa lãi suất nội tệ với lãi suất
đồng ngoại tệ cộng với mức kỳ vọng về tỷ giá sẽ làm dịch chuyển sự nắm giữ giữa đồng
nội tệ và đồng ngoại tệ của các thành viên trong thị trường, điều này sẽ gây ra những rối
loạn thị trường, tạo áp lực lên tỷ giá. Do vậy, chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải
quyết hài hòa mối quan hệ này. Trong năm 2009, vấn đề tỷ giá nổi lên như một điểm nhấn
của sự ổn định, chính sách lãi suất của NHNN cùng hàng loạt các chính sách khác (như
yêu cầu các tổng công ty lớn bán ngoại tệ cho NHNN, điều chỉnh tỷ giá công bố, điều
20
20
chỉnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, qui định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các doanh
nghiệp ) đã phải hướng tới sự ổn định này.
Chương III
Giải pháp hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất của
NHNN Việt Nam
Chính sách lãi suất là một công cụ của CSTT, vì vậy, mục tiêu theo đuổi của chính
sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của CSTT, quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi
suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ,
kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đó có
nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú sốc thị trường,
đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế.
Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ.
Thực trạng của nền kinh tế nước ta hiện nay đang phải đối mặt với áp lực lạm phát
và với sức phục hồi nền kinh tế còn thiếu vững chắc: Mặc dù tăng trưởng kinh tế quý
I/2010 đạt 5,83%, cao hơn nhiều mức tăng trưởng quý I/2009, vốn đầu tư toàn xã hội
tăng 26,23%, cao hơn rất nhiều mức tăng 9% của quý I/2009, song nhập siêu vẫn ở mức
đáng lo ngại (xuất khẩu đạt 14 tỷ USD, nhập khẩu đạt 17,5 tỷ USD, nhập siêu đạt 3,5 tỷ
USD), lạm phát tuy vẫn trong tầm kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng trở lại.
liên ngân hàng, thị trường tiền tệ là một việc cần thiết phải thực hiện trong thời gian này.
• Trên cơ sở mức lãi suất cơ bản, hình thành đồng bộ các mức lãi suất chỉ đạo, như lãi suất
tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất nghiệp vụ thị trường
mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi cho vay, đi vay của các
thành viên trên thị trường tiền tệ. Lượng tiền cung ứng sẽ được điều tiết hợp lý để đảm
bảo các mức lãi suất mục tiêu.
• Đối với lãi suất huy động, do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay làm nảy sinh
tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh, cũng như là diễn biến của lãi suất thực huy
động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi suất trần
trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất.
• Đồng thời trong thời gian này, NHNN cần tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với
kỳ hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây, hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán
đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và
điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế. Tuy nhiên, về lâu dài, khi các
xu hướng đầu tư đã rõ nét, nền kinh tế dần ổn định thì việc tháo dỡ trần lãi suất huy động
cũng sẽ được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con đường tự do hóa lãi suất
đã lựa chọn.
• Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chế điều hành lãi suất, ổn định mặt bằng lãi suất để kiểm soát
lạm phát hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm của ngành
Ngân hàng trong năm 2010. Để thực hiện nhiệm vụ đó, ngành Ngân hàng đang triển khai
những giải pháp ứng phó kịp thời. Tuy nhiên, để hỗ trợ cho các giải pháp ngắn hạn này có
22
22
hiệu quả, có cơ sở đầy đủ cho việc xây dựng các giải pháp điều hành trong dài hạn, bên
cạnh sự nỗ lực của toàn ngành Ngân hàng, cũng rất cần thiết phải có sự chỉ đạo sát sao
của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành hữu quan trong việc cơ cấu lại
thị trường tài chính, giảm dần cho vay với lãi suất ưu đãi, phát triển các thị trường nợ một
cách có hiệu quả, từ đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho khu vực ngân hàng trong việc cung
cấp vốn phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước.
2. Về lâu dài đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, góp sức của cả NHNN và hệ thống
thành Ngân hàng Trung ương hiện đại với mô hình tổ chức và quản lý mới; chú trọng
phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn nghiệp vụ cao
Về những giải pháp cụ thể:
+ Nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong điều kiện hội nhập, trong đó
chú trọng:
· Tăng cường công tác dự báo những diễn biến về kinh tế thế giới, nhất là những
23
23
biến động của kinh tế Mỹ, các nước EU; sự biến động của đồng USD, Euro và những vấn
đề liên quan khác.
· Tham mưu cho Chính phủ thực hiện việc quản lý luồng vốn nước ngoài vào Việt
Nam (cả ngắn và dài hạn); theo dõi chặt chẽ cán cân thanh toán, hoạt động xuất nhập
khẩu của Việt Nam.
· Tiếp tục triển khai có hiệu quả sự chỉ đạo của Chính phủ về chống lạm phát tại
văn bản số 75/TTg-KTTH ngày 15/01/2008 và văn bản số 319/TTg-KTTH ngày
03/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ ưu tiên chống lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, tiếp
tục ổn định và tăng trưởng kinh tế.
+ Tiếp tục củng cố hệ thống ngân hàng, chú trọng việc ổn định hệ thống, tiến hành
cơ cấu lại để tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện mới
+ Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về ngân hàng, trong đó chú trọng việc
hoàn thiện các quy định về đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng phù hợp với thông lệ
quốc tế; bổ sung, sửa đổi các quy định về cấp phép thành lập, ngân hàng mới một cách
chặt chẽ, tăng mức vốn điều lệ, yêu cầu về năng lực quản trị cao hơn…
+ Củng cố tổ chức và hoạt động giám sát và kiểm soát hoạt động của Ngân hàng
thương mại chuyển từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra, giám sát, kiểm toán nội bộ theo
định hướng rủi ro
+ Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, tiếp tục hiện đại hoá ngân hàng, đẩy mạnh
các hoạt động ngân hàng mới…
b. Phát huy vai trò của các công cụ gián tiếp
Công cụ dự trữ tối thiểu bắt buộc (dự trữ bắt buộc): Về mặt lý thuyết khi thực
Từ năm 1997 đến nay Ngân hàng nhà nước từng bước điều chỉnh và biến lãi suất
cho vay thành công cụ của chính sách tiền tệ. Đối tượng được vay NHTW không chỉ bó
hẹp trong khuôn khổ các Ngân hàng thương mại quốc doanh mà được mở rộng đến các
loại hình tổ chức tín dụng khác, làm tài sản cầm cố cho khoản vay không chỉ các hoạt
động tín dụng cho vay có chất lượng tốt mà còn có các chứng từ có giá của tổ chức tín
dụng.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở là việc ngân
hàng trung ương mua hoặc bán các chứng từ có giá trên thị trường chứng khoán (chủ yếu
là thị trường OTC) thông qua đó thực hiện việc cung ứng hoặc rút khối lượng tiền khỏi
lưu thông. Tín phiếu và trái phiếu kho bạc sẽ là công cụ chủ yếu của thị trường mở hiện
nay có thêm trái phiếu chính phủ.
Như vậy khác với cho vay là hoạt động trong nội bộ hệ thống ngân hàng, trong hoạt
động thị trường mở Ngân hàng nhà nước can thiệp trực tiếp vào thị trường chứng khoán,
trong đó ngoài các tổ chức tín dụng còn có sự tham gia của các khu vực ngoài ngân hàng,
tức là các đơn vị kinh tế và dân cư. Về nguyên tắc khi ngân hàng trung ương bán chứng
khoán còn người mua bất kỳ có thể là tổ chức tín dụng, các tổ chức khác hay cá nhân thì
cũng đều làm giảm tiền dự trữ của các tổ chức tín dụng, bởi vậy sẽ làm tăng nhu cầu vay
mượn giữa các tổ chức tín dụng dẫn đến lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng lên.
Ngược lại, khi ngân hàng trung ương mua chứng khoán sẽ làm tăng tiền dự trữ của các tổ
chức tín dụng, giảm nhu cầu vay mượn của các tổ chức tín dụng và dẫn đến giảm lãi suất
cho vay trên thị trường liên ngân hàng.
Các NHTW đều cố gắng để điều hành lãi suất trên cơ sở phân tích, đánh giá các
chỉ số vĩ mô trong nền kinh tế để có thể xác định được lãi suất trên thị trường là cao
hay thấp, có tương ứng so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì việc lãi suất được
hình thành tự do trên thị trường cũng chưa phải là lãi suất tối ưu. Điều đó được lý
giải tại sao những nước có nền kinh tế thị trường phát triển ở mức cao Ngân hàng
trung ương cũng phải có những biện pháp để tác động điều chỉnh lãi suất thị trường
thông qua các công cụ gián tiếp. Chính vì thế ngoài các biện pháp can thiệp trên thì để
có được các mức lãi suất cơ bản công bố phù hợp với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thì
Ngân hàng nhà nước cần phải có sự điều chỉnh thích hợp được tính toán dựa trên