Đề tài : Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 - Pdf 20

Đề tài : Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam giai
đoạn 2005 – 2010
Lời mở đầu 3
1. Tổng quan tình hình kinh tế xã hội giai đoạn 2005 – 2010 4
2. Thực trạng cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 5
2.1. Diễn biến lãi suất và sự điều chỉnh của NHNN năm 2005 5
2.2. Diễn biến lãi suất và sự điều chỉnh của NHNN năm 2006 6
2.3. Diễn biến lãi suất và sự điều chỉnh của NHNN năm 2007 6
2.4. Diễn biến lãi suất và sự điều chỉnh của NHNN năm 2008 7
2.5. Diễn biến lãi suất và điều chỉnh của NHNN năm 2009 8
2.6. Diễn biến lãi suất và sự điều chỉnh của NHNN năm 2010 9
3. Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 10
3.1. Giai đoạn 2005 – 5/2008: Cơ chế lãi suất thỏa thuận, Ưu – nhược điểm 10
3.2. Cơ chế lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam (5/2008 – nay) 12
a. Nhằm hạn chế cuộc chạy đua lãi suất huy động của các NHTM, NHNN đã quy định
trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 12
b. Sự phục hồi của nền kinh tế và cơ chế lãi suất thỏa thuận 15
Kết luận 18
Lời mở đầu
Trong thời gian qua , Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu to lớn nhất là
trong lĩnh vực kinh tế với chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN .Trong sự phát triển đó , NHTW đóng vai trò cực kỳ quan trọng
trong việc định hướng nền kinh tế , điều tiết các mối quan hệ trong nền kinh tế ,
chống lạm phát , thiểu phát và các nhược điểm phát sinh trong nền kinh tế thị
trường . Một trong những công cụ được NHTW sử dụng nhiều nhất để thực hiện
các chức năng của mình là công cụ lãi suất . Đây là một công cụ của chính sách
tiền tệ được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm và được nhiều quốc gia sử dụng
như một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế . Đồng thời , đây cũng được coi là
một công cụ nhạy cảm nhất và là vấn đề nóng bỏng thu hút được nhiều sự quan tâm
của các thành phần dân cư trong xã hội . Là một công cụ có vai trò quan trọng như
vậy , nên lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ vì nó

loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo
cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường
xuất khẩu.
+ Đã chú trọng đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ
cao.
+ Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định.
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch tích cực. Cụ thể là: Tỉ trọng khu
vực công nghiệp trong cơ cấu GDP từ 41% (năm 2005) tăng lên 41,1% (năm 2010);
khu vực dịch vụ từ 38% (năm 2005) tăng lên 38,3% (năm 2010); khu vực nông
nghiệp từ 21% (năm 2005) giảm xuống 20,6% (năm 2010); Cơ cấu lao động trong
nông nghiệp từ 57,1% (năm 2005) giảm xuống 48,2% (năm 2010); trong công
nghiệp và xây dựng từ 18,2% (năm 2005) tăng lên 22,4% (năm 2010); dịch vụ từ
24,7% (năm 2005) tăng lên 29,4% (năm 2010).
- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây
dựng và hoàn thiện; chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế
hóa thành luật pháp, cơ chế, chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn; môi trường
đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu tố thị trường và các loại thị trường tiếp
tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần có bước phát triển mạnh.
- Việc kiện toàn các tổng công ty, thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế nhà
nước đạt một số kết quả. Giai đoạn 2005-2010 doanh nghiệp nước ta tăng hơn 2,3
lần về số doanh nghiệp và 7,3 lần về số vốn so với 5 năm trước. Doanh nghiệp cổ
phần trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến.
Như vậy, trong giai đoạn 2005 - 2010, nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn,
thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và
quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Chính sự
phục hồi và đạt mức tăng trưởng khá, tạo cơ sở vững chắc để thực hiện kế hoạch 5
năm 2011- 2015 đạt kết quả vững chắc hơn.
Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010

suất tiền gửi của đồng Việt Nam.
Trong năm 2006, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất theo hướng thận trọng,
linh hoạt nhằm ổn định mặt bằng lãi suất. Các mức lãi suất của NHNN công bố
trong năm 2005: Lãi suất tái cấp vốn 6,5%/năm, lãi suất tái chiết khấu 4,5%/năm,
lãi suất cơ bản 8,25%/năm.
2.3. Diễn biến lãi suất và sự điều chỉnh của NHNN năm 2007
Trong năm 2007, NHNN điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt
tiền tệ để rút mạnh tiền từ lưu thông về, giảm tốc độ tăng tổng phương tiện thanh
toán và tín dụng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Theo đó, để tránh tác động không thuận lợi đối với tăng trưởng kinh tế,
NHNN tiếp tục giữ ổn định lãi suất mức lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, lãi suất tái
cấp vốn là 6,5%/năm và lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm. Lý do chủ yếu của việc
giữ ổn định lãi suất này là nhằm phát tín hiệu định hướng ổn định lãi suất thị trường
để hạn chế tác động tăng lãi suất cho vay và cộng hưởng làm tăng chi phí sản xuất,
từ đó góp phần kiểm soát lạm phát. Đối với việc kiểm soát mức tăng tiền tệ để kiềm
chế lạm phát, thì chủ yếu sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, còn lãi
suất chỉ đóng vai trò bổ trợ cho các công cụ này.
Riêng đối với lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD, kể từ ngày
01/03/2007, NHNN bỏ quy định trần lãi suất tiền gửi bằng USD đối với pháp nhân,
các TCTD đã được phép ấn định lãi suất tiền gửi bằng USD của pháp nhân theo cơ
chế thoả thuận, phù hợp với nhu cầu vốn kinh doanh, cung cầu vốn ở thị trường
trong nước và lãi suất thị trường quốc tế.
2.4. Diễn biến lãi suất và sự điều chỉnh của NHNN năm 2008
Đầu năm 2008, trong một loạt các biện pháp kiềm chế lạm phát, NHNN đã
đưa ra Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm
rút bớt tiền trong lưu thông, mở rộng dần các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc; tiếp
theo đó phát hành tín phiếu NHNN bằng tiền đồng dưới hình thức bắt buộc đối với
các tổ chức tín dụng. Các NHTM đối mặt với khó khăn thiếu nguồn cung tiền đồng
dẫn đến lãi suất huy động vốn tăng cao.
Trước tình hình đó, NHNN đã ra công văn số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008

bằng VNĐ từ 7% lên 8%/năm, bắt đầu thực hiện từ 31/12/2009.
2.6. Diễn biến lãi suất và sự điều chỉnh của NHNN năm 2010
Diễn biến của lãi suất năm 2010 đi theo kịch bản của năm 2009: Lãi suất điều
hành ổn định trong một thời gian dài và sau đó tăng lên vào cuối năm nhằm kiềm
chế lạm phát; lãi suất thị trường có xu hướng giảm vào giữa năm và tăng cao trở lại
những tháng cuối năm.
Năm 2010, một năm đầy biến động của thị trường tiền tệ trong nước cũng như
trên thế giới, một năm mà nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong giai
đoạn phục hồi sau những ảnh hưởng từ biến động kinh tế thế giới 2008 – 2009.
Trước những biến động đó, để thực hiện đồng bộ với các giải pháp của Chính phủ,
NHNN thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt nhằm tạo điều
kiện hỗ trợ tích cực cho thị trường tiền tệ - tín dụng hoạt động ổn định, góp phần hỗ
trợ tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát gia tăng những tháng cuối năm một
cách hiệu quả. Theo đó, NHNN đã duy trì lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ổn
định ở mức 8% trong suốt 10 tháng đầu năm và thực hiện điều chỉnh lên mức 9%
trong hai tháng cuối năm trước sức ép của lạm phát.
Nguồn: NHNN
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ hoạt động theo quy luật thị
trường, có sự quản lý của nhà nước, NHNN từng bước bố các quy định ràng buộc
về các loại lãi suất của các TCTD. Cụ thể là trong năm, NHNN đã ban hành Thông
tư số 03/2010/TT-NHNN; Thông tư 07/2010/TT-NHNN; Thông tư 12/2010/TT-
NHNN cho phép TCTD được thực hiện cho vay bằng VND theo cơ chế lãi suất
thoả thuận. Tuy nhiên trong năm vừa qua, chính sách điều hành cũng như chính
sách lãi suất vẫn bị chi phối bởi chính sách kinh tế đa mục tiêu, chịu áp lực lớn từ
biện pháp kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Vì vậy, đã tạo ra những khó khăn nhất định
trong công tác điều hành ổn định mặt bằng lãi suất của NHNN.
3. Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam giai đoạn 2005
– 2010
3.1. Giai đoạn 2005 – 5/2008: Cơ chế lãi suất thỏa thuận, Ưu – nhược điểm
Việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đã tạo điều kiện cho các ngân hàng

chặt tiền tệ của NHNN như dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu bắt buộc
Và chỉ sau vài ngày chạy đua, lãi suất huy động của các NHTM (lên đến 15 –
16%/năm) đã cao hơn khá nhiều so với lãi suất tái cấp vốn của NHNN (13%/năm)
và lãi suất tái chiết khấu (11%/năm) mà NHNN cũng vừa nâng lên, đã tạo ra một
làn sóng chuyển tiền từ ngân hàng lãi suất thấp sang ngân hàng lãi suất cao, mà đi
kèm với đó là áp lực lạm phát. Lãi suất huy động liên tục tăng dẫn đến lãi suất cho
vay cũng tăng theo tỷ lệ thuận khiến hệ thống tài chính – ngân hàng mất an toàn,
các doanh nghiệp đều phải cân nhắc lại cơ cấu vốn của mình cũng như các dự định
sản xuất.
Cùng với đó là dấu hiệu của những tác động của cuộc đại suy thoái kinh tế thế
giới mà khởi nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ diễn ra vào tháng 8/2007
ngày càng rõ nét.
Như vậy, hiện thời chưa thể phát huy hiệu quả của cơ chế lãi suất thỏa thuận
bởi các yếu tố nền tảng của cơ chế này vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Do đó
đòi hỏi phải có sự điều chỉnh trong cơ chế điều hành cho phù hợp với tình hình hiện
tại.
3.2. Cơ chế lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam (5/2008 – nay)
a. Nhằm hạn chế cuộc chạy đua lãi suất huy động của các NHTM, NHNN đã
quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện 02/CĐ-
NHNN ngày 26/02/2008
Đến ngày 17/05/2008, NHNN thông báo những điều chỉnh trong chính sách
điều hành lãi suất. Đó chính là Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều
hành LSCB bằng Đồng Việt Nam. Theo Quyết định này, các tổ chức tín dụng ấn
định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động và lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam
không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố áp dụng trong từng
thời kỳ; quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về việc thực
hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VNĐ của
tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành. Việc huy động vốn bằng
VNĐ của các TCTD phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức
trần lãi suất huy động 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008

Tuy công cụ LSCB của NHNN đã phát huy hiệu quả trong năm 2008 và 6
tháng đầu năm 2009 ở bối cảnh kinh tế vĩ mô có nhiều biến động, góp phần kiềm
chế lạm phát rồi chống suy giảm kinh tế cơ chế LSCB cũng có những hạn chế nhất
định.
Việc khống chế biên độ lãi suất làm cho các TCTD không thể phản ánh kịp
thời để phòng tránh rủi ro về lãi suất và thanh khoản khi lãi suất thị trường tiền tệ
trong nước và ngoài nước có biến động, chênh lệch lãi suất huy động và cho vay bị
thu hẹp do lãi suất huy động tăng nhưng lãi suất cho vay không thể tăng được nữa.
Thực tế hoạt động ngân hàng thời gian qua cho thấy, do vướng trần lãi suất cơ
bản, quan hệ cung cầu vốn và lãi suất đã bị biến dạng nghiêm trọng. Về nguyên tắc
kinh doanh, khi cho vay, ngân hàng không thể cho vay với mức lãi suất thấp hơn
chi phí và người gửi tiền sẽ không gửi vào ngân hàng nếu các cơ hội đầu tư tương
tự có mức sinh lời tốt hơn. Do vậy, khi phải chịu khống chề bởi trần lãi suất các
ngân hàng đã có những phản ứng tiêu cực để có một mức lãi suất huy động cũng
như cho vay sao cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có được mức sinh lợ cao
nhất, chẳng hạn như việc lách lãi suất trần bằng việc thu phí dịch vụ “bất thành văn”
khác từ các doanh nghiệp đi vay để đảm bảo khả năng sinh lời. Những khoản phí
phụ trội này khiến cho lãi suất cho vay thực vượt xa 150% LSCB, cộng dồn lại có
lúc một số nơi lên đến 18 – 20%, trong khi trần lãi suất là 12%. Thanh khoản ngân
hàng thường xuyên bị căng thẳng, lãi suất huy động bị biến tướng và đẩy lên rất cao
so với mức khống chế 10,5%/năm bởi nhiều chiêu khuyến mãi phá rào.
Các điều chỉnh lãi suất của NHTW còn chưa linh hoạt, thường chậm hơn so
với các diễn biến của nền kinh tế và do đó chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
Lấy ví dụ như tình trạng lạm phát diễn ra trong năm 2007 với mục tiêu kiềm chế tốc
độ lạm phát thấp hơn tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên khi tình trạng lạm phát diễn ra
(lên đến 12,63%) thì NHNN vẫn duy trì mức LSCB như năm 2006 là 8,25% trong
khi mưc độ lạm phát năm 2006 chỉ là 6,6%. Tiếp đó vào thời điểm lạm phát được
kiểm soát vào khoảng cuối năm 2008 thì LSCB không những không giảm mà còn
tiếp tục tăng lên (lên đến 14%/năm), điều này đã đẩy nhiều doanh nghiệp vào thế
khó khi lãi suất quá cao gây khó khăn cho việc vay vốn trong khi giá sản phẩm đã

và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro.
Ngày 26/2/2010, Thống đốc NHNN chính thức có văn bản mở lại cơ chế cho
vay theo lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn theo Thông tư
số 07.
Ngày 14/4/2010, NHNN ban hành Thông tư 13 hướng dẫn tổ chức tín dụng
cho vay bằng VNĐ đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận. Với thông tư này,
chỉ đạo của Chính phủ về việc mở cơ chế thỏa thuận lãi suất đối với các khoản vay
ngắn hạn chính thức được triển khai. Theo nội dung thông tư, các tổ chức tín dụng
thực hiện cho vay bằng VNĐ phải niêm yết công khai lãi suất cho vay ở mức hợp
lý, trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của
khách hàng vay, tiết kiệm chi phí hoạt động, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận
vốn vay để phát triển sản xuất – kinh doanh, nhất là khu vực nông nghiệp và nông
thôn, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Sự điều chỉnh này đã mang lại những lợi ích cụ thể như sau:
- Thứ nhất, hình thành mặt bằng lãi suất cho vay minh bạch, rõ
ràng và phản ánh đúng tín hiệu của thị trường, chấm dứt tình trạng phí “ngầm” mà
NHNN cũng khó kiểm soát.
- Thứ hai, tạo điều kiện cho các NHTM chủ động xác định
mức lãi suất cho vay dựa trên yếu tố: chi phí vốn đầu vào của ngân hàng; mức độ
rủi ro của từng khách hàng; lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của họ và một số yếu
tố liên quan khác. Sự phân hóa khách hàng sẽ diễn ra rõ hơn: Khách hàng có uy tín
sẽ được hưởng lãi suất thấp, còn khách hàng kém uy tín phải chịu lãi suất cao với
mức độ khác nhau rõ rệt.
- Thứ ba, tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng mạng lưới để
huy động vốn với mức lãi suất phù hợp; đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn của
nền kinh tế. Khi các ngân hàng chủ động hơn trong xác định lãi suất và quy mô huy
động với thời hạn hợp lý, rủi ro thanh khoản sẽ giảm.
- Thứ tư, chính sách lãi suất thỏa thuận làm tăng sức ép lên
việc đổi mới cách thức điều hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên
thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam.

nhằm giữ ổn định cho thị trường .Việc thay thế cơ chế LSCB bằng lãi suất thoả
thuận thực sự là một bước tiến mới trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN,
các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ chỉ điều hành thực sự có hiệu quả khi cơ
chế lãi suất thoả thuận được thực hiện và phát huy hiệu quả.Tuy nhiên cơ chế điều
hành lãi suất ở nước ta hiện nay vẫn chưa hoàn hảo, còn nhiều bất cập tác động đến
toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy cần phải nhìn nhận chính sách lãi suất là một trong
những chính sách tiền tệ chung và phải kết hợp chặt chẽ , nhịp nhàng với các chính
sách tiền tệ khác.
Với vốn kiến thức và thời gian có hạn, bài tiểu luận không tránh khỏi còn
những thiếu sót. Rất mong thầy giáo và các bạn đóng góp ý kiến để bài viết được
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Tài chính Ngân hàng và sự phát triển - Miskin
2. Một số trang web:
 www.mof.gov.vn
 www.sbv.gov.vn
 www.vneconomy.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status