BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
o0o KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TỔ CHỨC LÃNH THỔ KHÔNG GIAN DU LỊCH THEO HƯỚNG
BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thế Vinh
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Ngọc Diệp
Khóa : 1
Ngành : Kinh tế phát triển
Chuyên ngành : Quy hoạch phát triển
Phạm Thị Ngọc Diệp MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU 2
MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.2.3. Hiện trạng TCLTDL tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững 52
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TCLTDL TỈNH QUẢNG NINH
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG ĐẾN NĂM 2020 61
4.1. Định hướng phát triển TCLDL tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững đến
năm 2020 61
4.1.1. Cơ sở của định hướng phát triển TCLDL tỉnh Quảng Ninh theo hướng
bền vững đến năm 2020 61
4.1.2. Định hướng phát triển TCLDL tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững
đến năm 2020 63
4.2. Giải pháp TCLTDL bền vững ở tỉnh Quảng Ninh 72
KẾT LUẬN 81
PHỤ LỤC 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSLL Cơ sở lý luận
CSTT Cơ sở thực tiễn
DL Du lịch
DHĐB Duyên hải Đông Bắc
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
HST Hệ sinh thái
KCN Khu công nghiệp
KT - XH Kinh tế - xã hội
KTTĐ Kinh tế trọng điểm
LS - VH Lịch sử, văn hóa
TCLT Tổ chức lãnh thổ
TCLTKT Tổ chức lãnh thổ kinh tế
TCLTCN Tổ chức lãnh thổ công nghiệp
trang 48
11 Hình 3.8.Cơ cấu khách du lịch đến Quảng Ninh theo lãnh thổ
năm 2012
trang 51
12 Hình 3.9. Đánh giá mức hiệu quả và mức độ tác động trong mối
quan hệ giữa các hình thức TCLTDL và kinh tế, xã hội, môi
trường
trang 53
13 Hình 3.10. Bản đồ hiện trạng phân bố các KCN và cảng biển
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
trang 58
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ninh được biết đến là một địa phương giàu tiềm năng du lịch, là một
đỉnh trong tam giác tăng trưởng du lịch Bắc Bộ. Quảng Ninh có nhiều danh thắng
đẹp, nổi tiếng trong đó không thể không nhắc tới Vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên
thế giới được UNESCO công nhận. Nhận thức được những lợi thế so sánh của
mình, tỉnh đã xác định du lịch là động lực và trụ cột tăng trưởng chính trong nền
kinh tế Quảng Ninh. Và sự thật là sự phát triển của ngành du lịch góp phần vào sự
tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tạo việc làm và
nâng cao đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, sau một thời kỳ dài tăng trưởng với tốc độ cao, du lịch Quảng
Ninh đang phải đối mặt với những vấn đề có liên quan đến tổ chức không gian du
lịch bền vững. Thực tế cho thấy trong khi nguồn lực có hạn, mỗi ngành, lĩnh vực
đều đòi hỏi các điều kiện phát triển nên xảy ra mâu thuẫn về lợi ích, cách bố trí
không gian giữa du lịch và các ngành, lĩnh vực khác. Vậy làm thế nào để các khu du
lịch phát triển có trật tự, đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao; đồng
4.1. Phương pháp duy vật biện chứng
Tác giả sử dụng quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng để nghiên
cứu đề tài. Tác giả tôn trọng thực tế khách quan, tôn trọng lịch sử phát triển và căn
cứ vào các quan điểm, phương pháp duy vật biện chứng để phân tích đối tượng
nghiên cứu, tìm ra xu thế phát triển của chúng và cụ thể là tìm ra xu thế phát triển
của các hình thức TCLTDL mà được xã hội công nhận trên lãnh thổ tỉnh Quảng
Ninh, đồng thời với nền tảng của phép tư duy biện chứng tác giả dự đoán sự phát
triển của các hình thức này trong tương lai.
4.2. Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Trong quá trình thu thập và xử lí tài liệu thì rất cần thiết phải sử dụng
phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp. Nhờ có phương pháp này mà ta có thể
tìm thấy bản chất các sự sự vật, hiện tượng được phản ánh. Đây là phương pháp có
tính khoa học cao, áp dụng thiết thực vào qúa trình nghiên cứu địa lí học, vì trong
5
địa lí học, các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội của một địa phương cụ thể nếu
không áp dụng phương pháp này thì sẽ không tìm thấy sự khác biệt với các địa
phương khác, bởi thế sẽ khó xác định là địa phương đó phát triển hay lạc hậu.
4.3. Phương pháp thống kê
Các số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nói chung, du lịch
nói riêng của tỉnh là những thông tin dữ liệu đầu vào cho việc nghiên cứu đề tài.
Nguồn dữ liệu được thu thập bao gồm: thống kê qua các tài liệu báo cáo và so sánh
lưu trữ tại các cơ quan hữu quan, thống kê qua các số liệu khảo sát ngoài thực địa,
thống kê qua đo đạc và tính toán trên bản đồ, thống kê qua các bảng tra với hệ thống
dữ liệu đã định,… Thực tế cho thấy rằng đây là phương pháp không thể thiếu được,
số liệu thu thập theo phương pháp này có tính đồng bộ cao và giảm bớt thời gian đi
thực địa.
4.4. Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý GIS
Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý là phương pháp hữu hiệu
được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong những vấn đề có liên
NỘI DUNG
Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TỔ CHỨC
KHÔNG GIAN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. Tình hình nghiên cứu vấn đề TCLTDL trên thế giới
Nền móng của việc nghiên cứu, tìm ra tính quy luật về không gian lãnh thổ
của các hoạt động kinh tế ra đời từ giữa thế kỉ XIX và đã trở thành một khoa học
quản lý lãnh thổ. TCLT có liên quan rất chặt chẽ với kết quả nghiên cứu của các
nhà khoa học trên thế giới về việc tìm ra các quy luật TCLT ở một địa phương cụ
thể, từ đó tiến hành xem xét về việc bố trí một cách hợp lí các hoạt động kinh tế và
các điểm dân cư. Một trong những viên gạch đầu tiên chính là những nghiên cứu về
lí thuyết phát triển không gian của các nhà khoa học ở phương Tây, tiêu biểu như:
- Lý thuyết vành đai nông nghiêp của V. Thunen (1883) xác lập mô hình toán
học về không gian của hệ thống vùng nông nghiệp đang hình thành dưới ảnh hưởng
của thành phố. Theo lý thuyết này, xung quanh một thành phố trung tâm có thể tồn
tại và phát triển 5 vành đai sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng. Tùy theo điều
kiện cụ thể và tự nhiên, tập quán sản xuất của dân cư và quy mô của thành phố
trung tâm mà xác định số lượng vành đai, cũng như bán kính mỗi vành đai;
- Lý thuyết định vị công nghiệp của A. Weber ra đời từ đầu thế kỉ XX, giải
thích sự tập trung công nghiệp ở một địa phương. Weber coi thành phố, các cửa ra
vào là những nút trọng điểm của lãnh thổ. Sức lan tỏa của chúng có ảnh hưởng lan
tỏa của chúng có ảnh hưởng rất lớn xung quanh thành phố là các vành đai với các
chức năng khác nhau, nhưng đều phục vụ cho một trung tâm. Lý thuyết phù hợp với
một nền kinh tế mà quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa chưa mạnh;
- Lý thuyết điểm trung tâm của W. Christaller (1933) đã khám phá ra quy luật
phân bố không gian, phát hiện một trật tự được tính toán trong phân bố các thành
phố và vùng nông thôn. Lí thuyết là cơ sở để bố trí các điểm đô thị được đồng đều
trên lãnh thổ thông qua lực hút từ trung tâm.
8
- Nghiên cứu một cách tổng thể vấn đề đặt ra liên quan đến phát triển du lịch
bền vững trên quy mô quốc gia rồi sau đó tiến tới xây dựng các mô hình về du lịch
bền vững như ở Australia, Mỹ, Malaysia,
- Tiến hành xây dựng, triển khai các mô hình điểm về phát triển mô hình du
lịch bền vững để làm cơ sở xây dựng các chính sách triển khai trên toàn quốc như ở
Nepal, Ecuado, Senegan [16, trang 9]
1.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề TCLTDL ở Việt Nam
Trong những thập niên gần đây, khi đã xác định du lịch là một ngành mũi
nhọn trong nền kinh tế quốc dân và mang lại những lợi ích to lớn thì những nghiên
về địa lý du lịch nói chung và vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch trên phạm vi cả nước
ngày càng được phát triển. Đặc biệt từ những năm đầu thế kỷ 21, Việt Nam đang
dần chuyển từ phát triển chiều rộng sang phát triển chiều sâu và lấy bền vững là
mục tiêu xác định theo đuổi trên mọi mặt của nền kinh tế. Không nằm ngoài xu thế
khách quan đó, những nghiên cứu về phát triển của nước cũng mang hơi hướng của
quan điểm phát triểm bền vững. Việt Nam đã xây dựng phát triển du lịch thông qua
các đề án như " Dự án quy hoạch tổng thể phá triển Việt Nam ( 1995- 2010)", " Quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng
2020", "Báo cáo điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch và hành động (2001-
2010)". Đáng chú ý là các công trình quy hoạch du lịch của các tác giả Vũ Tuấn
Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Nguyễn Trần Cầu, [16, trang
10] đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu du lịch trên phạm vi cả nước. Nội dung
nghiên cứu bao gồm những vấn đề thuộc các phạm trù như đánh giá tài nguyên du
lịch, cơ sở lí luận của tổ chức lãnh thổ du lịch, hệ thống phân vị và chỉ tiêu trong
phân vùng du lịch. Ở giai đoạn này, các địa phương cũng đã lần lượt triển khai các
nghiên cứu phát triển du lịch gắn liền với nhiệm vụ quy hoạch cũng như định hướng
lớn cho việc sử dụng các tài nguyên du lịch như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
Hải Phòng, Bà Rịa- Vũng Tàu, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Quảng
Nam Đà Nẵng,
Kế thừa những cơ sở lý luận và thực tiễn từ giai đoạn trước, gần đây Việt
- Chuyên đề “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường
kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” ( Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh
2012) được xây dựng nhằm đánh giá những kết quả tích cực và hạn chế, đưa ra
11
nguyên nhân hạn chế của hoạt động dịch vụ du lịch để từ đó đưa ra những giải pháp
phát triển du lịch trên địa bàn Quảng Ninh.
Các nghiên cứu nêu trên ra ở trên chưa làm sâu sát và rõ TCLTDL tỉnh
Quảng Ninh. Và trong phạm vi hiểu biết, tác giả chưa thấy nghiên cứu nào tương tự
hoặc đã nghiên cứu về vấn đề này. Cho đến thời điểm hiện tại, đề tài không bị trùng
lắp với các nghiên cứu trước đó.
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tác giả xem những nguồn tư
liệu trên đây là hết sức quý giá, liên quan đến lĩnh vực của khóa luận tốt nghiệp. Tác
giả đã thừa kế những kết quả nghiên cứu của các chuyên gia đi trước để tiếp cận cơ
sở lý luận và thực tiễn của TCLT nói chung và TCLTDL nói riêng, và áp dụng vào
địa phương cụ thể là Quảng Ninh. Tác giả đã tiếp cận một số tài liệu cụ thể làm cơ
sở để đánh giá thực trạng và đưa ra định hướng phát triển TCLTDL theo hướng bền
vững trên lãnh thổ tỉnh Quảng Ninh thời gian tới. 12
TCLT nền sản xuất bao gồm hàng loạt các hình thức TCLT cấp thấp hơn với
tư cách là các ngành kinh tế như: Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, tổ chức lãnh thổ
công nghiệp, tổ chức lãnh thổ dịch vụ Các hình thức này nếu được tổ chức hợp lý
sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Du lịch theo khái niệm theo Pháp lệnh Du lịch công bố ngày 20/2/1999 trong
Chương I Điều 10 được hiểu "là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định" . Nếu xét trên
khía cạnh kinh tế, xã hội, dịch vụ là một ngành kinh tế, dịch vụ, có nhiệm vụ phục
vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với chữa bệnh,
thể thao, nghiên cứu khoa học và nhu cầu khác.
Trong việc nghiên cứu du lịch, TCLTDL là một vấn đề được quan tâm hàng
đầu. TCLTDL là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các
cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn lực du lịch, cơ
sở cật chất, hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả cao nhất [8, trang 75] .
Là một hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội cho nên bản chất của TCLTDL là sự
sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ cùng ngành du lịch, và liên
ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị
trí địa linh tế, chính trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ tạo dựng để đem lại hiệu
quả KT - XH cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững
của một lãnh thổ.
2.1.2.2. TCLTDL theo hướng phát triển bền vững
Bền vững là yêu cầu cao nhất và bắt buộc đối với mọi hoạt động phát triển,
hay nói một cách khác là phải dựa trên quan điểm bền vững để thực thi các hoạt
động phát triển. Chính bởi vậy, TCLTDL phải tuân theo nguyên tắc và yêu cầu bền
vững; tức là phải bao gồm bền vững về ba mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường sinh
thái. Trên thực tế, để đảm bảo TCLTDL theo hướng phát triển bền vững phải giải
quyết được các mối quan hệ:
- Tăng trưởng ngành du lịch đi đôi với đảm bảo tiến bộ xã hội.
cầu thực tiễn bởi không gian lãnh thổ đa lợi ích và tồn tại quan hệ cơ bản giữa an
ninh quốc phòng, bảo tồn môi trường sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội. Quan
15
hệ này biểu hiện hai tính chất : hỗ trợ và phát sinh mâu thuẫn lợi ích và tính chất
của nó. Theo đó, giữa các hoạt động giao thông, các hình thức TCLTKT (nông
nghiệp, công nghiệp, du lịch) và các hoạt động sống khác có phát sinh mâu thuẫn
lợi ích sử dụng trong khi môi trường là thành tố hỗ trợ trực tiếp phát triển cả
TCLTKT và các hoạt động khác, và các hoạt động an ninh, quốc phòng thì bảo đảm
sự tồn tại của của tất cả. Sự phát triển của các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
phải coi trọng yêu cầu hài hòa với các hệ thống xung quanh. Mâu thuẫn QH hỗ trợ
Hình 2.2. Sơ đồ lợi ích sử dụng tiềm năng không gian lãnh thổ
(Nguồn: Vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam và tiềm năng sử dụng)
Tương tác là sự kết hợp, trao đổi lẫn nhau giữa các hình thức TCLTDL với nhau và
với các TCLTKT khác trong hệ thống lãnh thổ.
Các hình thức TCLTDL cần phải bổ sung, hỗ trợ cho các hình thức TCLT xung
quanh nó.
Hài hòa, tương tác, hỗ trợ được coi chính là yếu tố cơ bản nhất trong nguyên tắc bền
Vùng du lịch.
a. Điểm du lịch
Theo điều 4, chương 1, Luật du lịch, Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du
lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.
17
Một điểm du lịch được công nhân là điểm du lịch quốc gia khi đảm bảo đủ
các điều kiện sau:
- Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với nhu cầu của khách du lịch.
- Có cở sở hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, đảm bảo phục vụ ≥ 10 nghìn
lượt khách/ năm.
b. Tuyến du lịch
Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung
cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy,
đường hàng không.
Tuyến du lịch quốc gia là nơi có các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có
các khu du lịch, điểm du lịch quốc gia, tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các
cửa khẩu quốc tế; đồng thời có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường, cơ sở dịch
vụ, khách du lịch dọc theo tuyến.
Tại Việt Nam hiện nay, các tuyến du lịch gắn với mạng lưới giao thông gồm
có: tuyến du lịch đường bộ, tuyến du lịch đường không, tuyến du lịch đường biển và
tuyến du lịch đường sông. Các tuyến du lịch chuyên đề: tuyến du lịch biển đảo,
tuyển du lịch sản, tuyến du lịch sinh thái, tuyến du lịch về nguồn, tuyến du lịch làng
nghề, tuyến du lịch MICE, tuyến du lịch tâm linh, tuyến du lịch lễ hội,
c. Khu du lịch
Khu du lịch được quan niệm là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế
về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu
cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi
trường.
Điều kiện để trở thành khu du lich quốc gia:
Trong vùng du lịch, hoạt động du lịch là một bộ phận hoạt động kinh tế của
vùng; mà trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo vùng. Các vùng khác
nhau phân biệt ở số lượng, chất lượng, đặc trưng về tài nguyên du lịch của mỗi
vùng. Hơn hết, với mỗi vùng cần có trung tâm tạo vùng và có đáp ứng đủ cơ sở hạ
tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật thuận lợi để liên kết du lịch ở các địa phương trong
vùng.
19
2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTDL
2.1.4.1. Tài nguyên du lịch
Nhóm nhân tố này bao gồm toàn bộ các nhân tố về tài nguyên du lịch tự
nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn có bên trong lãnh thổ. Đây chính là các nhân
tố có ảnh hưởng lớn đến TCLTDL. Bởi vì, sự phát triển ở một ngành lĩnh vực nào
trên một không gian, đòi hỏi phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và điều
kiện sản xuất. Những đặc trưng về tài nguyên du lịch tự nhiên như địa hình, khí hậu,
nước, sinh vật hay về tài nguyên du lịch nhân văn như di tích lịch sử, lễ hội, văn hóa
trên lãnh thổ được coi là đầu vào, lợi thế so sánh để tổ chức không gian du lịch.
Chính nó cũng quy định việc lựa chọn các hình thức và sản phẩm du lịch.
2.1.4.2. Kinh tế - chính trị - xã hội
Xét riêng trên lĩnh vực du lịch, các điều kiện về kinh tế - chính trị - xã hội có
tác động lớn đến việc phát triển TCLTDL. Khi có nền kinh tế phát triển, xã hội ổn
định, đương nhiên người dân sẽ có nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch. Hơn nữa, sự phát
triển kinh tế, ổn định xã hội và nguồn dân cư, lao động có tác động quy định lẫn
nhau. Ở một xã hội phát triển và ổn định, chất lượng dân cư và nguồn lao động sẽ
được cải thiện; điều này quyết định trực tiếp cách thức quản lý, tổ chức cũng như
đầu ra của TCLTDL.
2.1.4.3. Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ
thống cung cấp điện, nước có ảnh hưởng rõ rệt đến việc sắp xếp và tổ chức các hình
thức tổ chức không gian du lịch, tạo khả năng hấp dẫn nhà đầu tư và khách du lịch,
Theo số liệu thống kê năm 2011, ngành du lịch đã đóng góp 5% vào giá trị tổng sản
phẩm quốc nội cả nước, và chiếm 58,9 % giá trị sản xuất khối ngành du lịch, dịch
vụ. Chỉ trong vòng hơn 1 thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã nâng con số 17.400 tỷ đồng
tổng thu từ khách du lịch năm 2000 lên thành mức 160.000 tỷ năm 2012 và 200.000
tỷ năm 2013. Tốc độ tăng trưởng trung bình cao đạt 21,86 %, có những năm con
này tăng lên là 41,2% như năm 2010. Nếu như năm 2000, Việt Nam có khoảng
300.000 khách du lịch nước ngoài thì đến năm 2013, Việt Nam đã chào đón