nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động tư vấn tại công ty chứng khoán sài gòn – hà nội - Pdf 25


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Bƣớc sang năm 2014, những diễn biến của nền kinh tế, những tín hiệu tích
cực từ thị trƣờng chứng khoán đã đƣa ra những tín hiệu về sự phục hồi của nền
kinh tế. Đây sẽ là giai đoạn bản lề quan trọng để các công ty, các doanh nghiệp
xây dựng nền móng vững vàng nhằm hƣớng đến sự bứt phá mạnh mẽ trong
tƣơng lai. Chính vì thế, các dịch vụ tƣ vấn về tài chính doanh nghiệp sẽ có thời
cơ tăng trƣởng mạnh mẽ.
Hoạt động tƣ vấn là hoạt động đem lại tỷ suất lợi nhuận cao cho các CTCK,
bên cạnh đó tính an toàn cao, ít rủi ro cũng là đặc trƣng của hoạt động này. Là
mảnh đất màu mỡ và đầy tiềm năng, cho nên hoạt động tƣ vấn luôn đƣợc các
CTCK đầu tƣ mạnh mẽ về nhân lực và vật lực nhằm nâng cao chất lƣợng dịch
vụ, cải thiện khả năng cạnh tranh.
CTCK Sài Gòn – Hà Nội (SHS) là 1 công ty chứng khoán đã có thời gian dài
hoạt động trên thị trƣờng, có nền tảng tài chính mạnh và cũng có nhiều kinh
nghiệm trong lĩnh vực tƣ vấn tài chính doanh nghiệp. Tuy nghiên quy mô hoạt
động tƣ vấn của công ty vẫn chƣa đáp ứng đƣợc định hƣớng mà công ty đề ra,
vẫn còn lại nhiều không gian, vấn đề có thể cải tiến và hoàn thiện nhằm đón đầu
xu hƣớng của thị trƣờng. Yêu cầu đặt ra cho hoạt động tƣ vấn tại SHS hiện tại là
làm thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh và
mở rộng thị phần của công ty.
Vì vậy em đã chọn đề tài : “Nâng cao hiệu quả và chất lƣợng hoạt động tƣ
vấn tại Công ty chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội”.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Thứ nhất: Làm rõ các vấn đề và khái niệm liên quan đến hoạt động nghiệp vụ
tƣ vấn tại công ty chứng khoán.

2
Thứ hai: Phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động tƣ vấn tại công ty cổ phần

ĐỘNG TƢ VẤN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Khái quát về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm công ty chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp
vụ trên thị trƣờng chứng khoán.
Tại Việt Nam, theo quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán
quy định: “Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm
hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, đƣợc Ủy ban Chứng khoán Nhà nƣớc
(UBCKNN) cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh
chứng khoán: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành
chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán…”
Các công ty chứng khoán hiện nay đƣợc tổ chức theo 2 mô hình là:
- Mô hình đa năng: đƣợc tổ chức dƣới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính
tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài
chính:
- Mô hình công ty chứng khoán đa năng một phần
- Mô hình công ty chứng khoán đa năng toàn phần
- Mô hình chuyên doanh: hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập và chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân
hàng không đƣợc tham gia kinh doanh chứng khoán.
1.1.1.2. Đặc điểm
Công ty chứng khoán là 1 trung gian tài chính:
- Đối với tổ chức phát hành: trên lý thuyết, khi doanh nghiệp cần huy động
vốn từ các nguồn bên ngoài bằng cách phát hành chứng khoán, họ có thể tự chào
bán đến tận tay các nhà đầu tƣ. Tuy nhiên, hiệu quả của việc này rất thấp, do họ

4
không có kinh nghiệm và mạng lƣới nhà đầu tƣ lớn để thực hiện công việc này.
Chính vì vậy cần có những nhà chuyên nghiệp mua bán chứng khoán cho họ.

và thị trƣờng thứ cấp. Từ đó, các nhà đầu tƣ có thể dễ dàng chuyển đổi chứng
khoán thành tiền mặt và ngƣợc lại, làm tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài
chính.
- Đối với cơ quan quản lý: CTCK thực hiện các giao dịch mua bán chứng
khoán, nắm giữ các tài khoản giao dịch của khách hàng, vì vậy nó có đƣợc thông
tin về các giao dịch trên thị trƣờng, thông tin về các loại cổ phiếu, trái phiếu,
thông tin về tổ chức phát hành và nhà đầu tƣ CTCK có nghĩa vụ phải cung cấp
các thông tin đó cho các cấp có thẩm quyền khi có yêu cầu. Dựa vào nguồn
thông tin này, các cơ quan quản lý thị trƣờng có thể theo dõi giám sát toàn cảnh
hoạt động trên TTCK để từ đó đƣa ra các quyết định, chính sách đúng đắn, phù
hợp, kịp thời đảm bảo cho thị trƣờng diễn ra một cách trật tự, khuôn khổ và có
hiệu quả.
Công ty chứng khoán là 1 tổ chức kinh doanh có điều kiện:
- Có phƣơng án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế,
xã hội và phát triển ngành chứng khoán.
- Có đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho kinh doanh chứng khoán.
- Có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định. Vốn pháp định thƣờng
đƣợc quy định củ thể cho từng loại hình nghiệp vụ.
- Giám đốc, Phó giám đốc (Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc), các nhân
viên kinh doanh của CTCK phải đáp ứng đầy đủ điều kiện để đƣợc cấp chứng
chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do UBCKNN cấp.
- Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ đƣợc cấp cho công ty có giấy phép tự doanh.
- Quy định về vốn đối với công ty chứng khoán: Theo khoản 1 điều 18 Nghị
định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007 của Chính phủ quy định:
Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, công
ty chứng khoán có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, chi nhánh công ty chứng khoán nƣớc
ngoài tại Việt Nam là:
+ Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;

6

7
1.2. Hoạt động tƣ vấn ở công ty chứng khoán
1.2.1. Khái niệm về hoạt động tƣ vấn.
1.2.1.1. Khái niệm
Hoạt động tƣ vấn là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt động nghiệp vụ
phân tích các tình huống để đƣa ra các lời khuyên và có thể thực hiện một số
công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tƣ cho các đối tƣợng khách
hàng là tổ chức hoặc nhà đàu tƣ cá nhân.
Theo đó các công ty chứng khoán có thể cung cấp cho khách hàng các loại
hình tƣ vấn sau: tƣ vấn cổ phần hóa, tƣ vấn bán đấu giá cổ phần, tƣ vấn phát
hành chứng khoán, tƣ vấn niêm yết đăng kí giao dịch, tƣ vấn tái cơ cấu tài chính
doanh nghiệp, tƣ vấn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, tƣ vấn mua bán sát
nhập hợp nhất doanh nghiệp. Tùy thuộc vào năng lực mỗi công ty cũng nhƣ
nhu cầu của khách hàng mà các công ty chứng khoán có thể cung cấp một trong
số các dịch vụ trên hoặc là tất cả.
1.2.1.2. Các nguyên tăc cơ bản của hoạt động tư vấn
Hoạt động tƣ vấn là việc ngƣời tƣ vấn sử dụng kiến thức, kinh nghiệm của
mình để đƣa ra những lời khuyên nhằm đem lại lợi nhuận cho khách hàng. Với
những lời khuyên đó khách hàng có thể thu về lợi nhuận lớn hoặc thua lỗ, thậm
chí phá sản, mặc dù quyết định cuối cùng là thuộc về khách hàng, tuy nhiên là
một nhà tƣ vấn chuyên nghiệp thì đòi hỏi phải hết sức khách quan và thận trọng.
Ngƣời tƣ vấn sẽ thu về cho mình khoản thu phí về dịch vụ tƣ vấn( bất kể tƣ vấn
đó thành công hay không). Do đó hoạt động tƣ vấn đòi hỏi phải tuân thủ một số
nguyên tắc cơ bản:
- Không đảm bảo chắc chắn về giá chứng khoán: không thể dự đoán một
cách chính xác giá của chứng khoán vì nó biến động liên tục theo các yếu tố
kinh tế, tâm lý và diễn biến thực tiễn của thị trƣờng. Do đó giá chứng khoán
không phải là một số cố định
- Luôn luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tƣ vấn đƣợc đƣa ra dựa trên
cơ sở phân tích đánh giá những diễn biến trong quá khứ của thị trƣờng kết hợp

động trong công ty (phân chia lao động, bổ sung lao động hay đào tạo lại lao

9
động, phƣơng án trả tiền lƣơng cho ngƣời lao động…) cho phù hợp với thực
trạng của công ty và kế hoạch phát triển mở rộng sản xuất cho công ty.
- Tƣ vấn xây dựng phƣơng án điều lệ dự thảo cho công ty cổ phần mới. Trong
đó bao gồm cả việc tƣ vấn xây dựng vốn điều lệ theo hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty cổ phần…
- Tƣ vấn xây dựng phƣơng thức phát hành cổ phần, lựa chọn bán đấu giá trực
tiếp tại công ty hay tại các CTCK
Vai trò: Đây là khâu vô cùng quan trọng trong tiến trình cổ phần hoá doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc cổ phần hoá của
mình nếu thiếu khâu này. Vì vậy để hoàn thiện nhanh chóng và đáp ứng đầy đủ
các yêu cầu về pháp lý, các doanh nghiệp cần đƣợc tƣ vấn về phƣơng án cổ phần
hoá từ những tổ chức chuyên nghiệp.
1.2.2.2. Tư vấn bán đấu giá cổ phần ra bên ngoài doanh nghiệp
CTCK sau khi thực hiện tƣ vấn cổ phần hoá thành công, tiếp đến sẽ là tìm
kiếm nhà đầu tƣ, sắp xếp đối tƣợng mua cũng nhƣ cơ cấu cổ phần để tổ chức
bán đấu giá. Mục đích của việc bán đấu giá đó là để các nhà đầu tƣ bên ngoài
nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp qua đó thay đổi cơ cấu vốn sở hữu và ngƣời
quản lý doanh nghiệp tạo cơ hội mới cho doanh nghiệp phát triển.
Quy trình thực hiện theo sơ đồ sau:
liền kề cho đến hết số cổ phần chào bán. Nếu các nhà đầu tƣ trả giá bằng nhau
nhƣng số cổ phần chào bán ít hơn.

Tiếp cận khách hàng, ký hợp
đồng
Xây dựng hồ sơ bán đấu giá cổ
phần
Nhận đăng ký tham gia đấu giá,
thu tiền đặt cọc
Thu tiền mua cổ
phần
Công bố thông tin
Hoàn trả tiền đặt
cọc
Báo cáo kết quả đấu giá
Tổ chức đấu giá

11
1.2.2.3. Tư vấn phát hành chứng khoán
Lƣợng vốn và chất lƣợng nguồn vốn luôn là vấn đề sống còn của doanh
nghiệp. Tuy nhiên việc tìm kiếm những nguồn vốn có chất lƣợng và ổn định
không phải là việc dễ dàng đối với mỗi doanh nghiệp. Ngoài huy động vốn từ
việc đi vay các Ngân hàng thƣơng mại, thì huy động huy động vốn qua TTCK
(thông qua phát hành các loại chứng khoán) là kênh huy động vốn nhanh chóng
và hiệu quả đối với doanh nghiệp khi có nhu cầu sử dụng thêm vốn. Việc tự thực
hiện huy động vốn thông qua TTCK là khó đối với doanh nghiệp, do đó họ cần
đƣợc sự tƣ vấn, chỉ dẫn của các chuyên gia có trình độ nhất định về vấn đề này.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, các CTCK đã triển khai nghiệp vụ tƣ vấn phát
hành chứng khoán.
- Khái niệm:“Tư vấn phát hành chứng khoán là việc các CTCK thực hiện các

niêm yết của các CTCK.
Các CTCK căn cứ vào các quy định của pháp luật, các yêu cầu về niêm yết do
các sở, trung tâm giao dịch chứng khoán đề ra để giúp doanh nghiệp hoàn thành
các thủ tục trƣớc và sau khi niêm yết. Đồng thời cũng đƣa ra các kiến nghị và
giải pháp sao cho chứng khoán của doanh nghiệp sẽ đƣợc giao dịch ở mức giá
có lợi và ổn định nhất.
- Quy trình thực hiện:
Bƣớc 1: ký kết hợp đồng tƣ vấn niêm yết với công ty cổ phần.
Bƣớc 2: CTCK tƣ vấn cho khách hàng chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, giấy tờ và các
điều kiện cần thiết để tham gia niêm yết.
Bƣớc 3: Tƣ vấn lập hồ sơ xin niêm yết
Bƣớc 4: Tƣ vấn về công bố niêm yết
ƣớc 5: Giúp doanh nghiệp trong việc công bố niêm yết.
+ Lập hồ sơ đăng ký niêm yết nộp cho trung tâm giao dịch chứng khoán
+ Sau khi đƣợc trung tâm giao dịch chứng khoán chấp thuận, CTCK phối hợp
với phòng lƣu ký, phòng giao dịch để tiến hành các thủ tục cần thiết chuẩn bị
cho việc giao dịch chứng khoán.

13
1.2.2.5. Tư vấn tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp ( mua bán sáp nhập
doanh nghiệp, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp)
Trong quá trình hoạt động, cấu trúc doanh nghiệp cần có những thay đổi sao
cho phù hợp với thị trƣờng, phù hợp với năng lực quản lý của bộ máy lãnh đạo,
và với tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Tái cấu trúc doanh nghiệp là một hoạt động tài chính của doanh nghiệp, bao
gồm việc mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp và chuyển đổi loại hình doanh
nghiệp.
Đây là một hoạt động rất quan trọng để daonh nghiệp có thể tồn tại và phát
triển. Vì vậy một sự tƣ vấn kịp thời và chính xác sẽ đem lại lợi ích lớn nhất cho
doanh nghiệp. Do đó cần có một tổ chức chuyên nghiệp, có chuyên môn sâu

trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ( nhân lực, tài lực, vật lực,
vốn) để đạt đƣợc mục tiêu xác định”. Từ khái niệm khái quát trên, phạm trù hiệu
quả kinh tế có thể đƣợc biểu diễn qua công thức sau :
H = K/C
H là hiệu quả kinh tế của một hiện tƣợng (quá trình kinh tế) nào đó;
K là kết quả thu đƣợc từ hiện tƣợng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí toàn
bộ để đạt đƣợc kết quả đó.
Hay cũng có thể hiểu bằng khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh
chất lƣợng hoạt động kinh tế và đƣợc xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt đƣợc
với chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó.
Quan điểm này đã đánh giá đƣợc tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở
mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm nhƣ thế hoàn toàn
có thể tính toán đƣợc hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không
ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến
động khác nhau của chúng.
Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt
động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế
trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lƣợng của các hoạt
động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị

15
máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng của
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận.
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế đã đƣợc trình bày ở phần trên ta có thể hiểu
Hiệu quả hoạt động tƣ vấn của CTCK là một khái niệm biểu hiện mối quan hệ
giữa chất lƣợng của dịch vụ đầu ra (hoạt động tƣ vấn cho khách hàng) với các
nguồn lực cho trƣớc hữu hạn (nguồn vốn kinh doanh, nguồn nhân lực, cơ sở vật
chất…) của CTCK. Hiệu quả hoạt động tƣ vấn đƣợc sử dụng làm tiêu chuẩn để
đánh giá tính hiệu quả của CTCK trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực của

Chỉ tiêu này đƣợc xác định bằng tỷ lệ giữa doanh thu từ hoạt động tƣ vấn trên
tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty. Tỷ trọng doanh thu hoạt động
tƣ vấn trong tổng doanh thu cho biết quy mô, khả năng đóng góp của hoạt động
tƣ vấn vào tổng doanh thu của CTCK. Khi doanh thu từ hoạt động tƣ vấn tăng
thì giá trị chỉ tiêu trên cũng tăng, phản ánh hiệu quả hoạt động tƣ vấn đƣợc nâng
cao. Ngƣợc lại khi doanh thu hoạt động tƣ vấn giảm, tỷ trọng giảm, hoạt động tƣ
vấn đƣợc xem là không hiệu quả.
Lợi nhuận hoạt động tư vấn
Lợi nhuận hoạt động tƣ vấn đƣợc hiểu là phần chênh lệch giữa tổng số tiền
thu đƣợc từ các hợp đồng tƣ vấn (doanh thu hoạt động tƣ vấn) với chi phí mà
CTCK phải bỏ ra khi thực hiện hoạt động tƣ vấn.
Lợi nhuận hoạt động tƣ vấn tăng lên khi doanh thu hoạt động tƣ vấn tăng lên
hoặc chi phí giảm đi hoặc đồng thời tăng doanh thu và giảm chi phí. Tuy nhiên
do tƣ vấn là hoạt động sử dụng kiến thức và trình độ của đội ngũ chuyên viên tƣ
vấn để thực hiện tƣ vấn nên chi phí cho hoạt động tƣ vấn thƣờng không xác định
đƣợc. Vì vậy, các CTCK thƣờng sử dụng chỉ tiêu doanh thu để phản ánh hiệu
quả của hoạt động tƣ vấn hơn là chỉ tiêu lợi nhuận, hoặc nếu sử dụng thì phải kết
hợp với các chỉ tiêu khác để việc đánh giá hiệu quả mới chính xác và khách
quan. 17
Tỷ trọng lợi nhuận hoạt động tư vấn trong tổng lợi nhuận
Cũng nhƣ tỷ trọng doanh thu hoạt động tƣ vấn trong tổng doanh thu, tỷ trọng
lợi nhuận hoạt động tƣ vấn trong tổng lợi nhuận cũng là một tiêu chí để đánh giá
hiệu quả của hoạt động này. Một CTCK có tỷ trọng lợi nhuận hoạt động tƣ vấn
tăng đều qua từng thời kỳ chứng tỏ hiệu quả hoạt động tƣ vấn đƣợc nâng cao và
ngƣợc lại.
Thị phần hoạt động tư vấn
Khi nghiên cứu hoạt động tƣ vấn của một CTCK, ngƣời ta thƣờng đánh giá

Nguồn nhân lực
Trong bất kỳ lĩnh vực nào, nhân lực luôn là yếu tố quan trọng nhất, quyết định
đến sự thành bại của mọi hoạt động. Điều này đặc biệt càng đúng đối với hoạt
động tƣ vấn. Đây là hoạt động cung cấp các dịch vụ với hàm lƣợng tri thức cao
nên những đòi hỏi về kiến thức, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và đạo đức
nghề nghiệp đƣợc đặt lên hàng đầu. Do đó, đối với các CTCK có nguồn nhân
lực dồi dào, với những nhân viên đáp ứng đƣợc những yêu cầu trên thì hoạt
động tƣ vấn sẽ phát triển, hiệu quả đƣợc nâng cao, tạo đƣợc niềm tin cho khách
hàng. Từ đó, vị thế và uy tín của công ty sẽ đƣợc tăng lên và dần trở thành tổ
chức tƣ vấn hàng đầu.
Tại những TTCK mới nổi nhƣ ở Việt Nam, những chuyên gia tƣ vấn là những
ngƣời cần nhất nhƣng lại thiếu nhất. Để trở thành nhân viên tƣ vấn thì trƣớc hết
phải có giấy phép hành nghề tƣ vấn chứng khoán với những yêu cầu cao hơn
nhiều so với những nhân viên môi giới thông thƣờng. TTCK không phải là sân
chơi cho những ngƣời không có kiến thức về lĩnh vực này. Tuy nhiên, không
phải ai cũng đủ trình độ hiểu và phân tích kỹ càng trƣớc những dữ liệu và thông
tin đƣợc công bố để có thể đƣa ra những quyết định chính xác, hợp lý. Chính vì
vậy họ tìm đến những nhà tƣ vấn, cần đƣợc tƣ vấn một cách tốt nhất, hoàn hảo
nhất. Mặc dù quyết định cuối cùng thuộc về họ nhƣng lời khuyên của những
chuyên gia tƣ vấn có ảnh hƣởng không nhỏ. Và một quyết định thành công sẽ
làm cho khách hàng càng tin tƣởng vào vai trò của nhà tƣ vấn. Cho nên việc tập

19
trung đào tạo nguồn nhân lực luôn đƣợc các CTCK chú trọng để nâng cao hiệu
quả hoạt động tƣ vấn.
Chiến lược kinh doanh và định hướng phát triển của công ty
Bất kì doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào khi
đƣợc thành lập đều phải lập ra cho mình một chiến lƣợc kinh doanh nhất định,
phù hợp với khả năng của doanh nghiệp đó và với xu thế phát triển của thị
trƣờng. Các CTCK cũng không phải là ngoại lệ. Hầu hết các CTCK khi mới

cần đầu tƣ vào các công cụ phục vụ cho quá trình hoạt động và xử lí dữ liệu.
Công cụ càng hiện đại, phát triển sẽ giúp cho việc phân tích xử lý dữ liệu nhanh
chóng, từ đó có thể đƣa ra những lời tƣ vấn kịp thời, chính xác cho khách hàng,
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tƣ vấn.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ thông tin
Ngày nay ở các nƣớc có TTCK phát triển thì đa số các hoạt động đều đƣợc
thực hiện qua hệ thống máy móc hiện đại. Các CTCK muốn có hiệu quả hoạt
động tốt cũng cần phải ứng dụng các công nghệ hiện đại. Hoạt động tƣ vấn phụ
thuộc nhiều vào khối lƣợng thông tin mà CTCK thu thập đƣợc bởi vì trên cơ sơ
có các thông tin thì họ mới có thể tiến hành nghiên cứu, phân tích đƣợc. Vì vậy,
nhân viên tƣ vấn cần có các phƣơng tiện, máy móc nhằm hỗ trợ cho họ trong
quá trình làm việc. Cho nên, điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật có ảnh hƣởng
rất lớn đến hoạt động của CTCK nói chung và hiệu quả hoạt động tƣ vấn nói
riêng.
Một điều chắc chắn rằng một CTCK có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại hơn
sẽ hoạt động tốt hơn không chỉ trong hoạt động tƣ vấn. Các CTCK có thể tìm
kiếm, tƣ vấn khách hàng thông qua mạng máy tính, đƣợc trang bị công nghệ
hiện đại sẽ giúp các nhân viên tƣ vấn tìm kiếm đƣợc nhiều khách hàng hơn, giải
quyết công việc nhanh chóng và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó hoạt động tƣ vấn có
quan hệ mật thiết đối với các hoạt động khác. Vì vậy trong CTCK cần có các
trang thiết bị để liên kết các bộ phận với nhau, việc này không chỉ có tác dụng
tích cực đối với hoạt động tƣ vấn mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
chung của toàn CTCK.

21
 Nhân tố khách quan:
Hiệu quả hoạt động tƣ vấn của CTCK không chỉ bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố
nội tại của chính công ty mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khách quan từ bên
ngoài. Các nhân tố này cũng có ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động
tƣ vấn.

Sự phát triển của TTCK
TTCK phát triển sẽ tạo cơ sở cho mọi hoạt động của CTCK phát triển. Hoạt
động tƣ vấn cũng không nằm ngoài quy luật đó. Khi thị trƣờng phát triển sẽ tạo
ra nhu cầu sử dụng dịch vụ tƣ vấn, bởi lúc này việc huy động vốn trung và dài
hạn cho nền kinh tế qua kênh này sẽ chiếm tỷ trọng lớn. Điều đó đồng nghĩa với
việc các doanh nghiệp, tổ chức phát hành sẽ rất cần đến các hoạt động tƣ vấn
nhƣ tƣ vấn phát hành, tƣ vấn niêm yết, còn hoạt động tƣ vấn đầu tƣ sẽ giúp cho
các nhà đầu tƣ sáng suốt hơn khi ra quyết định và thực hiện đầu tƣ thành công,
hiệu quả. Hơn nữa khi thị trƣờng phát triển, quy mô hoạt động của CTCK tăng
cao, kéo theo doanh thu, lợi nhuận hoạt động cũng tăng lên. Các CTCK sẽ có cơ
hội cải thiện trình độ kỹ thuật, công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động tƣ vấn.
Doanh nghiệp, nhà đầu tƣ
Doanh nghiệp và nhà đầu tƣ là những khách hàng sử dụng trực tiếp dịch vụ tƣ
vấn, nên họ có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động này. Chính họ là
những ngƣời tạo ra doanh thu cho hoạt động tƣ vấn của CTCK. Khi các doanh
nghiệp và nhà đầu tƣ dành sự quan tâm đến TTCK, muốn gia nhập thị trƣờng,
họ sẽ tìm đến các CTCK để mở tài khoản tham gia giao dịch, để đƣợc tƣ vấn
phát hành, tƣ vấn niêm yết, tƣ vấn đầu tƣ… Hoạt động tƣ vấn và các hoạt động
khác của CTCK khi đó sẽ phát triển. Ngƣợc lại, khi doanh nghiệp không còn
quan tâm đến phƣơng thức huy động vốn qua TTCK, nhà đầu tƣ rời bỏ thị
trƣờng thì hoạt động tƣ vấn cũng nhƣ các hoạt động khác của CTCK sẽ không
có cơ hội phát triển, hiệu quả hoạt động thấp.
Cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi. Đó
cũng là yếu tố không thể thiếu góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Việc cạnh

23
trạnh sẽ giúp TTCK loại bỏ những CTCK không đủ yêu cầu về vốn cũng nhƣ
trình độ đồng thời chọn lọc đƣợc các CTCK có chất lƣợng tốt phục vụ cho thị
trƣờng. Các CTCK sẽ phải liên tục hoàn thiện và đa dạng hóa trong việc cung

2.1.1: Giới thiệu chung.
Tên: Công ty chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội
Tên tiếng Anh: Sai Gon – Hà Nội Securities Joint Stock Company
Tên viết tắt: SHS
- Trụ sở chính: Tầng 3 Tòa nhà TT Hội nghị Công Đoàn, số 01 Yết Kiêu, Hoàn
Kiếm, Hà Nội. Điện thoại: 04.38181888, Fax:04.35378005
- Chi nhánh TP.HCM: 141-143 Hàm Nghi, phƣờng Nguyễn Thái Bình, quận I,
TP. Hồ Chí Minh, ĐT: 08.3915.1368, Fax: 08.3915.1369
- Chi nhánh Đà Nẵng: Số 97 đƣờng Lê Lợi, Quận Hải Châu, thành phố Đà
Nẵng, ĐT: 0511.3525777, Fax: 0511.3523779
Email:
Website: www.shs.com.vn
Giấy phép hoạt động: số 66/UBCK-GP cấp ngày 15 tháng 11 năm 2007
Vốn điều lệ: 1000 tỷ đồng
Các sản phẩm dịch vụ của công ty:
- Môi giới giao dịch chứng khoán
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán
- Lƣu kí chứng khoán
- Tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán và tài chính doanh nghiệp
- Tự doanh chứng khoán
Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội ra đời vào thời điểm cuối
năm 2007 và chính thức đi vào hoạt động từ 15/2/2008 với đầy đủ 5 nghiệp vụ
kinh doanh của một công ty chứng khoán. Tuy mới đi vào hoạt động nhƣng với
định hƣớng chiến lƣợc đúng đắn và đầu tƣ có hiệu quả, SHS đã gây dựng đƣợc
vị thế nhất định trên TTCK Việt Nam.

25
2.1.2: Lịch sử hình thành:
 Ngày 15/11/2007: Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội
(SHS) đƣợc chính thức thành lập theo Giấy phép số 66/UBCK-GP của Ủy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status