BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Vũ Huy Hưng
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNDIRECT
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
NGƯỜI HƯỚNG
DẪN: PGS.TS Hoàng Văn Quỳnh
1
MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong năm 2013, mặc dù yếu tố kinh tế vĩ mô đã có chuyển biến tích cực
hơn song tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn có nhiều
khó khăn, thị trường chứng khoán vẫn duy trì được tăng trưởng. Giá trị giao
dịch tăng 31%, chỉ số chứng khoán VN-Index tăng 22% so với năm 2012.
Đặc biệt, trong năm 2013, lượng trái phiếu chính phủ huy động trên thị trường
tăng rất cao, góp phần thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách nhà nước đề ra.
Đối với nhóm công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, năm 2013 tiếp
tục là một năm khó khăn và quyết liệt thực hiện thanh lọc. Số công ty chứng
khoán lỗ trong năm 2013 là 63% (58/94 công ty chứng khoán có lỗ lũy kế với
số lỗ là (-5.267) tỷ đồng, giảm so với con số hơn 70% công ty lỗ năm 2012.
Đối với các công ty quản lý quỹ, số đơn vị hoạt động cầm chừng, thua lỗ ít
hơn. Tính đến hết quý 3/2013, có 41/47 công ty quản lý quỹ còn hoạt động,
trong đó chỉ có 22 công ty hoạt động có lãi. 6 công ty đã được xử lý bằng
nhiều giải pháp, rút khỏi thị trường, trong đó: giải thể 1 công ty, tạm ngừng
hoạt động 2 công ty để tự tái cơ cấu; đình chỉ hoạt động 1 công ty do không
duy trì điều kiện cấp phép và đặt 2 công ty vào tình trạng kiểm soát đặc biệt
ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT
4
CHƯƠNG 1
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1.1.1 Cơ sở hình thành công ty chứng khoán
Chứng khoán là cách truyền thống mà các Doanh nghiệp huy động
nguồn vốn mới.Đây có thể là một khoản thay thế hấp dẫn cho các khoản vay
ngân hàng mà nó phụ thuộc vào giá cả và nhu cầu thị trường đối với từng
trường hợp cụ thể. Thông qua chứng khoán, vốn được cung cấp bởi các nhà
đầu tư mua chứng khoán khi công ty phát hành ra công chúng với mục đích
nhận được thu nhập hoặc tăng được vốn. Cũng tương tự như chính phủ có thể
phát hành chứng khoán khi phải tăng nợ chính phủ. Do vậy để đáp ứng nhu
cầu huy động vốn công ty chứng khoán ra đời với vai trò trung gian làm chiếc
cầu nối đồng thời là kênh dẫn vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của
nền kinh tế có dư thừa vốn ( vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh
tế đang thiếu vốn( cần huy động vốn) thông qua các hoạt động bảo lãnh phát
hành và môi giới chứng khoán.
Trong quá trình hoạt động của thị trường chứng khoán, công ty chứng
khoán cung cấp các dịch vụ cần thiết để đảm bảo sự ổn định của thị trường.
Thực hiện tư vấn đầu tư, cung cấp một cơ chế xác định giáthông qua Sở Giao
Dịch và thị trường OTC giúp nhà đầu tư có một sự đánh giá chính xác về giá
trị khoản đầu tư cũng như giảm tối đa được thời gian, chi phí giao dịch.
Công ty chứng khoán giúp cho chứng khoán thanh khoản hơn bằng cách
cung cấp một cơ chế chuyển đổi từ chứng khoán sang tiền mặt hoặc ngược lại
một cách dễ dàng trong một môi trường đầu tư ổn định.
5
1.1.2 Mô hình tổ chức và điều kiện thành lập công ty chứng khoán
1.1.2.1 Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ là vốn thực góp, tối thiểu bằng
mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật.
Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty chứng khoán phải đáp ứng các quy
định như sau:
- Không phải là người đã từng hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, bị phạt tù hoặc bị tòa án tước quyền hành nghề theo quy định của pháp
luật
- Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tài chính,
ngân hàng, chứng khoán và có kinh nghiệm điều hành tối thiểu 3 năm
- Có Chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc Chứng chỉ hành nghề
quản lý quỹ
- Không bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xử phạt theo pháp luật chứng
khoán và thị trường chứng khoán trong vòng hai (02) năm gần nhất.
Có tối thiểu ba (03) người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp vụ
kinh doanh đề nghị cấp phép hoạt động
Trường hợp cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân phải
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp đang phải chấp
hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh; trường hợp
là pháp nhân phải đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để
tham gia góp vốn. Các cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập phải sử
dụng nguồn vốn của chính mình để góp vốn thành lập công ty chứng khoán,
công ty quản lý quỹ.
1.1.3 Vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán có vai trò đặc biệt trên thị trường chứng khoán, đối
7
với những chủ thể khác nhau trên thị trường thì công ty chứng khoán lại giữ
những vai trò riêng :
Đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các tổ chức phát
hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy,
khoán.
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều
tiết thị trường. Để bảo vệ những khoản đầu tưcủa khách hàng và bảo vệ lợi
ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định
các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.Thị trường
chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài
sản tài chính. Nhưng các công ty chứng khoán mới là người thực hiện tốt vai
trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị
trường cấp sơ cấp, do thực hiện các hoạt động nhưbảo lãnh phát hành, chứng
khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động một lượng vốn
lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính
thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt
phát hành sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường thứ cấp. Điều này làm
giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư. Trên thị trường thứ cấp, do
thực hiện các giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu
tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó
có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính.
Đối với các cơ quản lý thị trường
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng
khoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó. Các công
ty chứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh
phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán
9
và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của thị
trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự
giám sát của các cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là
quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công
ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh bạch và công khai
trong hoạt động. Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm
nhà nước có thẩm quyền.
Công ty chứng khoán không được thực hiện những hành vi làm cho
khách hàng và nhà đầu tư hiểu nhầm về giá chứng khoán.
Công ty chứng khoán đưa ra dự báo giá hoặc khuyến nghị giao dịch liên
quan đến một loại chứng khoán cụ thể trên các phương tiện truyền thông phải
ghi rõ cơ sở phân tích và nguồn trích dẫn thông tin.
1.2.2 Các hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.2.2.1 Hoạt động môi giới chứng khoán
•Khái niệm
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng
khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế
giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu
trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình.Người môi giới chỉ thực hiện
giao dịch theo lệnh của khách hàng để hưởng phí dịch vụ, họ không phải chịu
rủi ro từ hoạt động giao dịch đó. Nghiệp vụmôi giới còn được hiểu là làm đại
diện - được ủy quyền thay mặt khách hàng mua bán một hoặc một số loại
11
chứng khoán.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến
khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư
bán chứng khoán với nhà đầu tư mua chứng khoán.Và trong những trường
hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ đưa ra những khuyến nghị kịp thời cho
nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định đúng đắn
•Chức năng
Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư: cung cấp cho
khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
- Nối liền những người bán và người mua: đem đến cho khách hàng tất
cả các sản phẩm và dịch vụ tài chính.
chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưng thông thường việc công ty
chứng khoán nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc phân phối
chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnh phát
hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển phân phối
chứng khoán cho các công ty chứng khoán tự doanh hoặc các thành viên
khác.
Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó gửi yêu cầu
bảo lãnh phát hành đến công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán có thể sẽ
ký một hợp đồng tư vấn quản lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về
loại chứng khoán cần phát hành, số lượng chứng khoán cần phát hành, định
giá chứng khoán và phương thức phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tư
thích hợp. Để được phép bảo lãnh phát hành, công ty chứng khoán phải đệ
trình một phương án bán và cam kết bảo lãnh lên Uỷ ban chứng khoán.
Khi các nội dung cơ bản của phương án phát hành được Uỷ ban chứng
khoán thông qua. Công ty chứng khoán có thể trực tiếp ký hợp đồng bảo lãnh
hoặc thành lập nghiệp đoàn bảo lãnh để ký hợp đổng bảo lãnh giữa nghiệp
đoàn và tổ chức phát hành. Khi Uỷ ban chứng khoán cho phép phát hành
13
chứng khoán và đến thời hạn giấy phép phát hành có hiệu lực, công ty chứng
khoán (hoặc nghiệp đoàn bảo lãnh) thực hiện phân phối chứng khoán. Các
hình thức phân phối chứng khoán chủ yếu là:
- Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm,
quỹ hưu trí.
- Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có
quan hệ với tổ chức phát hành.
- Bán rộng rãi ra công chúng Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo
lãnh phát hành phải giao tiền bán chứng khoán cho tổ chức phát hành. Số tiền
phải thanh toán là giá trị chứng khoán phát hành trừ đi phí bảo lãnh.
1.2.2.3 Hoạt động tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua,
Công ty chứng khoán là một thành viên trên thị trường chứng khoán nên
nó trực tiếp nhận được những lợi ích từ sự phát triển lành mạnh hay chịu ảnh
hưởng từ những biến cố và rủi ro trên thị trường chứng khoán cũng như thị
trường tài chính. Do vậy các nhân tố về môi trường chính trị xã hội pháp luật;
nhân tố vĩ mô như chu kỳ phát triển kinh tế, lạm phát, giảm phát, lãi suất ;
những nhân tố phi kinh tế khác như thiên tai, chiến tranh…đều trực tiếp hay
gián tiếp ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng
khoán.
1.3.1.1 Nhân tố về chính trị, xã hội, pháp luật
Hệ thống chính sách có những tác động rất lớn tới nền kinh tế cũng như
hoạt động của các doanh nghiệp đặc biệt là đối với những doanh nghiệp có sự
nhạy cảm nhất định với nó như công ty chứng khoán. Mỗi thay đổi chính sách
có thể tác động lên thị trường tài chính, môi trường đầu tư gây ảnh hưởng trực
tiếp gián tiếp tới toàn bộ các doanh nghiệp qua đó gián tiếp làm ảnh hưởng tới
công ty chứng khoán là công ty có hoạt động phụ thuộc nhiều vào sự phát
triển ổn định của thị trường, của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
1.3.1.2 Nhân tố về các yếu tố vĩ mô
•Tỷ giá hối đoái : Các nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào thị trường
chứng khoán là rất lớn giúp thì trường vận hành mạnh mẽ, tăng trưởng nhanh
chóng. Thông qua đó hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán cũng tốt
lên nhờ hưởng lợi từ những hoạt động đầu tư trên thị trường. Việc tăng mạnh
tỷ giá hối đoái làm nảy sinh một lượng lớn các nhà đầu tư rút vốn khỏi thị
trường trực tiếp ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của thị trường chứng
16
khoán gây ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
•Lạm phát: Lạm phát tăng là biểu hiện của nền kinh tế tăng trưởng
không bền vững, lãi suất tăng lên làm khả năng thu lợi của doanh nghiệp hạ
thấp khiến giá cổ phiếu giảm. Do đó hoạt động đầu tư, hoạt động giao dịch
trên thị trường giảm ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu công ty chứng khoán.
Lạm phát càng thấp thì càng nhiều khả năng cổ phiếu tăng giá, hoạt động giao
thay đổi phù hợp để đáp ứng nhu cầu càng cao của khách hàng và của chính
bản thân thân công ty. Các yếu tố nội tại như : Cơ sở vật chất kỹ thuật, yếu tố
con người, hiệu quả sử dụng vốn cần được ngày càng nâng cao vì nó là những
yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
chứng khoán
1.3.2.1 Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty chứng khoán với
nhau yếu tố về cơ sở vật chất giúp công ty chứng khoán tạo cái nhìn thiện
cảm của khách hàng so với công ty khác. Sản phẩm của công ty chứng khoán
là những sản phẩm tài chính dành cho những khách hàng có nguồn thu nhập
cao đòi hỏi một cơ sở vật chất khang trang hiện đại cùng với hệ thống giao
dịch nhanh chóng thuận tiện. Muốn vậy công ty chứng khoán phải áp dụng kỹ
thuật công nghệ phù hợp từ đó nâng cao được năng suất, chất lượng và giảm
được chi phí trên một đơn vị sản phẩm. Nhờ đó tăng khả năng cạnh tranh trên
thị trường, thu hút được nhiều khách hàng nâng cao lợi nhuận thu được.
1.3.2.2 Yếu tố về con người
Chứng khoán là một loại sản phẩm tài chính đặc biệt mà việc thẩm định
18
chất lượng của nó không giống như hàng hóa thông thường. Sự có mặt của
công ty chứng khoán là cần thiết khi nhà đầu tư là người không có nhiều
thông tin hay không có khả năng phân tích thông tin một cách thích hợp để từ
đó thực hiện hành vi đầu tư của mình. Để có thể tồn tại và phát triển công ty
chứng khoán phải nắm rõ khả năng tài chính của khách hàng, tư vấn cho
khách hàng, giữ gìn đạo đức kinh doanh, tôn trọng khách hàng và luôn đặt
khách hàng lên trên hết. Làm được điều này công ty chứng khoán phải dựa
vào chất lượng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên và
quản lý trong công ty
1.3.2.3 Yếu tố hiệu quả sử dụng vốn
Một doanh nghiệp có nguồn vốn lớn thường là doanh nghiệp có quy mô
lớn, phạm vi hoạt động rộng. Và cũng chính vì thế hiệu quả kinh doanh phụ
Kế hoạch và Đầu Tư Thành phố Hà Nội cấp. Sau khi Luật Chứng khoán ra
đời, quy định hoạt động của các công ty chứng khoán chịu sự kiểm soát của
Ủy ban Chứng khoán, Công ty đã tiến hành đổi mới giấy phép kinh doanh.
UBCK đã cấp Giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán số
22/UBCK-GPHĐKD cho VNDIRECT vào ngày 16/11/2006.
Các cột mốc quan trọng trong quá trình hoạt động của VNDIRECT:
- Tháng 11/2006: Thành lập VNDIRECT với vốn điều lệ 50 tỷ đồng;
- Tháng 04/2007: Thành lập chi nhánh TP. Hồ Chí Minh theo Quyết định
số 294/UBCK-GP ngày 08/05/2007 của UBCKNN;
- Tháng 11/2007: Công ty tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng theo Quyết
định số 87/UBCK-GP ngày 19/11/2007 của UBCKNN;
- Tháng 12/2008: Công ty thay đổi địa điểm trụ sở chính: Số 1 Nguyễn
Thượng Hiền, Hai Bà Trưng, Hà Nội theo QĐ số 177/UBCK-GP ngày
08/12/2009 của UBCKNN;
- Tháng 03/2009: Theo QĐ số 220/UBCK-GP ngày 20/03/2009 về việc
thay đổi người đại diện theo pháp luật là bà Phạm Minh Hương – chức danh
Giám đốc Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDIRECT.
- Tháng 02/2010: Theo QĐ số 301/UBCK-GP ngày 08/02/2010 của
UBCKNN về việc điều chỉnh Giấy phép hoạt động với vốn điều lệ là 450 tỷ
đồng.
Năm 2008, VNDirect là 1 trong 4 công ty chứng khoán lọt vào danh sách
500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt nam do báo Vietnamnet và Công ty
cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) bình chọn.
Năm 2009, VNDirect nhận giải thưởng Thương hiệu Chứng khoán Uy
21
tín 2009 do Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Việt Nam (VASB), Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước (SSC), Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam (CIC), và các tổ chức uy tín khác phối hợp tổ chức.
Tháng 12/2009, VNDirect lọt vào danh sách Top 200 thương hiệu “Tin
& Dùng” 2009 của chương trình Tin và Dùng 2009 do Thời báo Kinh tế Việt
VNDIRECT và hoạt động theo nguyên tắc trung tâm lợi nhuận. Với định
hướng trở thành công ty chứng khoán bán lẻ, VNDIRECT đã tập trung xây
dựng hệ thống công nghệ phù hợp giúp Công ty có thể mở rộng mạng lưới
khách hàng rộng khắp, thông qua tiện ích dịch vụ trực tuyến và call center.
Hiện nay, khối môi giới được chia ra làm 5 bộ phận:
23
ž Phòng dịch vụ Direct cung cấp nghiệp vụ giao dịch cơ bản (Direct
account) phục vụ nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư độc lập, có kinh nghiệm
và chỉ sử dụng dịch vụ giao dịch của công ty chứng khoán
ž Phòng dịch vụ Quản lý tài khoản riêng (Prime account) phục vụ nhóm
nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng chuyên viên giao dịch riêng.
ž Phòng dịch vụ đặc biệt: bộ phận chuyên biệt được thiết kế để phục vụ
nhóm nhà đầu tư có nhu cầu giao dịch lớn, và sử dụng các dịch vụ tài chính
phức tạp hơn.
ž Phòng dịch vụ khách hàng: hỗ trợ các phòng kinh doanh giao dịch
Direct và phòng quản lý tài khoản riêng, chăm sóc quan hệ khách hàng, cập
nhật thông tin dịch vụ mới, kiểm soát chất lượng dịch vụ của các bộ phận và
hỗ trợ phát triển khách hàng mới cho Công ty.
ž Phòng phát triển kinh doanh chịu trách nhiệm đánh giá thị trường, mở
rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch.
• Khối tài chính doanh nghiệp
Khối tài chính doanh nghiệp là trung tâm lợi nhuận thứ hai, đảm đương
nhiệm vụ xây dựng quan hệ với các doanh nghiệp và định chế tài chính, qua
đó xây dựng năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn về hoạt động tài chính, tư vấn
điều hành quản trị và tư vấn quan hệ nhà đầu tư cho đối tượng là các doanh
nghiệp.
Các dịch vụ tư vấn tài chính bao gồm: Tư vấn niêm yết, tư vấn phát hành
chứng khoán, tư vấn bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn huy động vốn
theo các hình thức khác, tư vấn mua bán & sáp nhập doanh nghiệp, Tư vấn cổ
phần hóa. Trong đó mũi nhọn là tư vấn phát hành chứng khoán và huy động