giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tại công ty cổ phần phát triển xây dựng và xuất nhập khẩu sông hồng - Pdf 10

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. NK : Nhập khẩu
2. KQ : Kết quả
3. CF : Chi phí
4. TSLN : Tỷ suất lợi nhuận
5. NSLĐ : Năng suất lao động
2
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Cơ cấu doanh thu theo lĩnh vực 29
Biểu đồ 2: Biểu đồ tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu nhập khẩu và doanh thu
nhập khẩu trực tiếp 47
Biểu đồ 3: Biểu đồ tỷ suất lợi nhuận theo chi phí nhập khẩu và chi phí nhập
khẩu trực tiếp 47
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Công ty cổ phần phát triển xây dựng và xuất
nhập khẩu Sông Hồng 24
3
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2006 đi qua với một loạt những thành công lớn trong tiến trình hội
nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam mà sự kiện nổi bật nhất là việc
Việt Nam gia nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO). Trong bối cảnh
hội nhập ngày càng sâu, rộng và nhanh như vậy thì hoạt động xuất nhập

những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nhập khẩu của Công ty.
Trong chuyên đề này chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động nhập khẩu trực
tiếp và hoạt động nhập khẩu uỷ thác của Công ty, không nghiên cứu các
hình thức nhập khẩu khác như nhập khẩu hàng đổi hàng, nhập khẩu tái xuất,
nhập khẩu gia công.
 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp sử dụng trong bài chuyên đề
này là phương pháp tiếp cận hệ thống duy vật biện chứng, logic và lịch sử. Các
phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phương pháp tiếp cận thực tế
các vấn đề lý luận, phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá và sơ đồ hoá dựa
trên cơ sở các số liệu và tình hình thực tế của Công ty nhằm đạt đưọc mục tiêu
nghiên cứu của bài chuyên đề.
Cơ cấu chuyên đề ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu và
tài liệu tham khảo gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận về nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh
nghiệp
Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu tại Công ty cổ phần phát triển
xây dựng và xuất nhập khẩu sông Hồng
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập
khẩu tại Công ty cổ phần phát triển xây dựng và xuất nhập khẩu sông Hồng
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú trong phòng xuất nhập khẩu, Công
ty cổ phần phát triển xây dựng và xuất nhập khẩu Sông Hồng (nơi em thực tập)
đã cung cấp số liệu, chỉ bảo, hướng dẫn em trong quá trình thực tập tại Công ty.
5
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến Ts.Tạ Văn Lợi đã nhiệt tình hướng dẫn em
thực hiện chuyên đề này.
Do giới hạn về thời gian và khả năng của bản thân, bài viết chắc chắn có
nhiều sai xót. Em rất mong nhận được những ý kiến phê bình, nhận xét của các
thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn!
Ngày 27 tháng 4 năm 2007
Sinh viên thực hiện

Mọi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều có mục
7
tiêu tối đa hoá lợi nhuận cho doanh nghiệp mình. Để tối đa hoá lợi nhuận
cho doanh nghiệp mình thì cần phải hợp lý hoá quá trình sản xuất kinh
doanh. Và để xem xét mức độ hợp lý hoá của quá trình sản xuất kinh
doanh, người ta đưa ra thuật ngữ “hiệu quả kinh doanh”.
Cho đến nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ hiệu quả kinh
doanh. Một số quan điểm về thuật ngữ hiệu quả kinh doanh như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được
trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Quan điểm
này đã chỉ ra được mối quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh với kết quả kinh
doanh nhưng lại đồng nhất hiệu quả kinh doanh với các chỉ tiêu phản ánh
kết quả kinh doanh. Theo quan điểm này thì hoạt động sản xuất kinh doanh
tạo ra cùng một kết quả thì sẽ có cùng một mức hiệu quả mặc dù chi phí là
khác nhau. Như vậy, hạn chế của quan điểm này là đã không đề cập đến
chi phí.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là phần tỉ lệ giữa phần
tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quam điểm này đã
đề cập đến chi phí trong mối quan hệ giữa hiệu quả và kết quả. Tuy nhiên
hạn chế của quan điểm này là chỉ xét tới phần kết quả và chi phí bổ xung.
Quan điểm thứ ba cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so
sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Quan
điểm này đã gắn được kết quả với chi phí bỏ ra và đã thấy được hiệu quả là
sự phản ánh của trình độ sử dụng các chi phí, do đó quan điểm này đã phản
ánh được mối liên hợp bản chất của hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, quan
điểm này vẫn còn hạn chế là chưa cho thấy được mối tương quan về lượng
và chất giữa kết quả và chi phí.
Quan điểm thứ tư cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối
quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra
kết quả đó, đồng thời phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản

Xét trên giác độ doanh nghiệp, đạt được hiệu quả hoạt động nhập khẩu tức
9
là phải đảm bảo chi phí tối thiểu, lợi nhuận tối đa bằng việc sử dụng hiệu
quả các nguồn lực, tổ chức hợp lý hoạt động nhập khẩu.
Xét trên giác độ xã hội, hiệu quả hoạt động nhập khẩu đạt được khi tổng
lợi ích xã hội nhận được từ hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu lớn hơn chi phí
phải bỏ ra để mua chúng, phải lớn hơn lợi ích đạt được khi sản xuất những
hàng hoá, dịch vụ này ở trong nước.
1.2 PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ KINH DOANH HOẠT ĐỘNG NHẬP
KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
Có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh nói chung theo các tiêu thức
khác nhau. Cách phân loại hiệu quả hoạt động nhập khẩu về cơ bản cũng
giống như cách phân loại hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung. Dưới
đây là một số cách phân loại.
1.2.1 Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả
Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả có hiệu quả tương đối và hiệu quả
tuyệt đối.
1.2.1.1 Hiệu quả tuyệt đối
Hiệu quả tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả của từng phương án
kinh doanh, từng thời kì kinh doanh, từng doanh nghiệp. Nó được biểu hiện qua
các chỉ tiêu như lợi nhuận, doanh thu,…
Hiệu quả
tuyệt đối
=
Kết quả thu
được
-
Tổng chi phí bỏ ra
để thu được kết quả
1.2.1.2 Hiệu quả tương đối

ngắn hạn, trước mắt. Kết quả được xem xét là kết quả mang tính chất tạm thời.
Để doanh nghiệp phát triển bền vững, đạt được hiệu quả ở giai đoạn này nhưng
không làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của các giai đoạn tiếp theo, nhà quản trị
ngoài việc tính toán hiệu quả ngắn hạn, trước mắt còn cần phải tính đến hiệu
quả lâu dài.
1.2.3.2 Hiệu quả lâu dài
Hiệu quả lâu dài hay hiệu quả dài hạn là hiệu quả được tính toán, xem xét
trong một khoảng thời gian dài gắn với các chiến lược, các kế hoạch dài hạn
liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hiệu quả ngắn hạn nếu
suy rộng ra hiệu quả dài hạn sẽ không đảm bảo được tính chính xác vì không
11
phải giai đoạn kinh doanh nào cũng giống nhau. Chính vì vậy, chỉ tiêu hiệu quả
lâu dài sẽ giúp hình dung chính xác hơn về hiệu quả trong suốt quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.4 Căn cứ vào giác độ đánh giá hiệu quả
1.2.4.1 Hiệu quả tài chính
Loại hiệu quả này được xét dưới giác độ doanh nghiệp. Nó chính là hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp, là các kết quả tài chính nhận được trong mối
quan hệ với chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó. Đây chính là mối quan tâm
hàng đầu của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, hiệu quả tài chính chỉ đơn giản được xét
là kết quả thu được từ hoạt động nhập khẩu trong mối quan hệ với toàn bộ chi
phí bỏ ra thực hiện hoạt động nhập khẩu đó.
1.2.4.2 Hiệu quả chính trị xã hội
Đây là loại hiệu quả được xét dưới giác độ xã hội. Nó chính là những lợi
ích mà hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đem lại cho xã hội như
việc đóng góp vào phát triển sản xuất chung của đất nước, đổi mới cơ cấu kinh
tế, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và
những tác động đến môi trường sinh thái, tốc độ đô thị hoá, Loại hiệu quả này
trên thực tế rất khó định lượng nhưng nó lại rất quan trọng trong việc thẩm tra,

=
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động đầu tư cho hoạt động nhập
khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
1.3.2.2 Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu
S
vq

=
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động nhập khẩu quay được bao nhiêu vòng
trong một kỳ kinh doanh. Số vòng quay của vốn lưu động càng cao thì càng
cho thấy hiệu quả sử dụng vốn cao và ngược lại.
Bên cạnh chỉ tiêu này, người ta còn tính một chỉ tiêu khác liên quan, đó là
chỉ tiêu thời gian một vòng quay vốn:
T
vq
=
= x 360
(Coi kỳ phân tích là 1 năm-360 ngày)
Chỉ tiêu này cho biết, mất bao nhiêu ngày để vốn lưu động quay được một
13
vòng. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì số vòng quay vốn càng lớn, hiệu quả càng cao
và ngược lại.
1.3.2.3 Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
H
đn
=
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thu được thì cần bao nhiêu đồng
vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng cao và
ngược lại.
1.3.3 Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu

nước mà còn cả thị trường quốc tế - thị trường nước xuất khẩu. Như vậy nhân
tố môi trường bên ngoài tác động đến hiệu quả hoạt động nhập khẩu của doanh
nghiệp bao gồm môi trường quốc gia và môi trường quốc tế. Trong đó phải kể
đến các yếu tố môi trường luật pháp, môi trường kinh tế.
1.4.1.1 Môi trường chính trị, luật pháp
Có nhiều yếu tố thuộc môi trường chính trị, luật pháp tác động đến hiệu
quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp trong đó có hai yếu tố ảnh hưởng
sâu sắc, đó là chính sách thuế và các hàng rào phi thuế quan đối với các mặt
hàng nhập khẩu.
 Thuế quan
Thuế quan bao gồm thuế quan nhập khẩu và thuế quan xuất khẩu, là loại
thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu, theo đó, người tiêu dùng
trong nước phải trả cho hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn hơn mức mà người
xuất khẩu nhận được. Thuế bên cạnh vai trò quan trọng là nguồn thu chủ yếu
của ngân sách nhà nước, nó còn giúp bảo hộ nền sản xuất trong nước, tạo công
ăn việc làm. Thuế quan mà đặc biệt là loại thuế quan nhập khẩu sẽ làm tăng chi
phí hàng nhập khẩu lên rất nhiều:
Giá đã có thuế
nhập khẩu
=
Giá tính thuế nhập khẩu x ( 1 + thuế suất nhập khẩu )
Như vậy, giá hàng hoá đã có thuế nhập khẩu cao hơn t % (t % là thuế suất
nhập khẩu) so với giá trước khi thông quan. Mức thuế t % khác nhau đối với
các mặt hàng khác nhau nhưng nhìn chung nó tác động khá lớn đến giá hàng
nhập khẩu, chính vì vậy nó sẽ làm tăng giá bán hàng nhập khẩu trong nước, dẫn
đến giảm nhu cầu hàng nhập khẩu, điều này lại dẫn đến doanh thu hàng bán sẽ
thấp trong khi các chi phí khác liên quan đến hàng tồn kho tăng lên và kết quả
15
là hiệu quả nhập khẩu giảm.
 Hàng rào phi thuế quan

trường nước xuất khẩu đều ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp nhập khẩu. Sự khan hiếm hay dồi dào nguồn cung cấp, sản phẩm mới
hay sự đa dạng hàng hoá dịch vụ nhập khẩu ở thị trường nước xuất khẩu, hoặc
sự biến động nhu cầu, số lượng nhà cung cấp của thị trường trong nước sẽ tác
động đến giá cả hàng nhập khẩu, lượng hàng bán ra, lượng hàng tồn đọng và
cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp.
• Sự biến động của tỉ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái đóng một vai trò quan trọng trong việc tính toán một
thương vụ kinh doanh hiệu quả. Đôi khi nó đóng vai trò quyết định.
Theo phương thức yết giá trực tiếp (một đồng ngoại tệ đổi được bao nhiêu
đồng nội tệ) thì khi tỉ giá hối đoái tăng, tức là một đồng ngoại tệ sẽ đổi được
nhiều đồng nội tệ hơn hay nói cách khác đồng nội tệ mất giá. Trong khi đó,
doanh nghiệp nhập khẩu mua hàng hóa bằng ngoại tệ nhưng bán hàng hóa lại
thu bằng nội tệ. Để bù đắp chênh lệch tỉ giá, doanh nghiệp phải tăng giá bán,
điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu so với các
hàng hoá sản xuất trong nước, dẫn đến ảnh hưởng đến doanh thu và hiệu quả
của hoạt động nhập khẩu. Ngược lại, khi tỉ giá hối đoái giảm, giá trị đồng nội tệ
tăng, doanh nghiệp bán với mức giá như trước thì ngoài việc hưởng lợi nhuận
doanh nghiệp còn được hưởng một khoản lợi chênh lệch tỉ giá không nhỏ. Trên
thực tế, tỉ giá hối đoái khi kí kết hợp đồng và khi thanh toán thường có sự biến
động, do đó, để đạt được hiệu quả nhập khẩu, doanh nghiệp phải dự đoán được
xu hướng biến động tỉ giá.
• Sự phát triển của nền sản xuất trong và ngoài nước
Sự phát triển của nền sản xuất trong và ngoài nước tác động đến hoạt động
nhập khẩu và hiệu quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Sự phát triển
của nền sản xuất trong nước chính là yếu tố cạnh tranh của doanh nghiệp. Nền
sản xuất trong nước ngày càng phát triển, ngày càng tạo ra nhiều hàng hoá, dịch
17
vụ mới, phong phú, đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng sẽ
làm tăng cạnh tranh thị trường trong nước, tác động đến giá cả, doanh số và

sẽ làm giảm chi phí quản lý doanh nghiệp, làm tăng hiệu quả hoạt động nhập
khẩu. Trình độ quản lý tốt thể hiện ở việc tổ chức hợp lý và đồng bộ các khâu
của quá trình nhập khẩu và phân phối hàng hoá, giảm tối đa chi phí quản lý và
tiết kiệm thời gian, do đó, giảm thời gian tiêu thụ hàng hoá, giảm thời gian thu
hồi vốn, tăng vòng quay vốn nhập khẩu nên giúp tăng hiệu quả kinh doanh.
 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nhân tố chủ quan quan trọng nhất vì đây là đối tượng
thực hiện mọi hoạt động nhập khẩu của Công ty. Do đó, trình độ nhân lực sẽ
quyết định hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động
nhập khẩu được thực hiện bởi một đội ngũ nhân viên chắc nghiệp vụ sẽ giúp
tiết kiệm chi phí, thời gian giao dịch và tiêu thụ hàng hoá, giảm rủi ro,…Một
doanh nghiệp chú trọng đến văn hoá Công ty, đội ngũ nhân viên cống hiến hết
mình vì lợi ích chung thì chắc chắn sẽ tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả
kinh doanh lên rất nhiều.
 Khả năng huy động vốn
Vốn đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của bất
kỳ doanh nghiệp nào. Mọi doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, đều phải huy động vốn bên ngoài mà
phổ biến nhất là từ các tổ chức tài chính, ngân hàng. Đối với một doanh nghiệp
xuất nhập khẩu, điều kiện tiên quyết để có quan hệ buôn bán là bên mua phải
đảm bảo khả năng thanh toán. Khả năng huy động vốn tốt cũng là một yếu tố
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Khả năng huy
động vốn nhanh giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí vốn mà vẫn đảm bảo
được hoạt động kinh doanh, ngoài ra, nó giúp thực hiện thanh toán nhanh, tăng
uy tín trong quan hệ buôn bán với đối tác nước ngoài và có thể được hưởng các
ưu đãi như chiết khấu thương mại, giảm giá do mua hàng với số lượng lớn,…
19
Do đó, khả năng huy động vốn mà tốt sẽ tiết kiệm được chi phí, làm tăng hiệu
quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
 Hệ thống thông tin của doanh nghiệp

đều có mục tiêu cao nhất là nâng cao hiệu quả kinh doanh, mà doanh nghiệp
mình lại không nâng cao hiệu quả kinh doanh, điều đó đồng nghĩa với việc đã
tự loại mình ra khỏi thương trường.
1.5.2 Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu để đáp ứng đòi hỏi của
việc khan hiếm nguồn lực
Mọi nguồn lực đều có giới hạn, nguồn lực của mỗi quốc gia và nguồn lực
của mỗi doanh nghiệp cũng vậy. Do đó, việc nâng cao hiệu quả nhập khẩu đặt
ra còn nhằm mục tiêu sử dụng được tiết kiệm nhất, tốt nhất các nguồn lực của
doanh nghiệp. Điều này không chỉ phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp mà
còn phục vụ cho cả lợi ích quốc gia.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, nguồn lực của doanh nghiệp là nhân
viên xuất nhập khẩu, là lượng ngoại tệ, là thời gian,…Tất cả các nguồn lực này
không phải là vô hạn. Do đó, việc nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu giúp
sử dụng tiết kiệm các nguồn lực này vì lợi ích của doanh nghiệp, vì lợi ích quốc
gia, đặc biệt trong điều kiện đất nước ta còn nghèo như hiện nay.
1.5.3 Nâng cao hiệu quả kinh doanh giúp nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho lao động trong doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả kinh doanh, trước tiên sẽ giúp doanh nghiệp tồn tại, tức
là tạo được công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên. Nâng cao hiệu quả
kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển, quy mô ngày càng mở
rộng, như vậy sẽ tạo thêm việc làm mới, tăng thu nhập và do đó nâng cao được
đời sống của nhân viên trong Công ty. Hơn nữa, nhu cầu nâng cao mức sống
21
nhân dân trong xã hội ngày càng tăng nên việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
nói chung và nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu nói riêng còn nhằm mục
tiêu đáp ứng nhu cầu bức thiết này của xã hội. Suy ngược lại chúng ta có thể
thấy rằng, việc nâng cao mức sống của cán bộ nhân viên sẽ tạo động lực để họ
làm việc, giúp tăng năng suất lao động, dẫn đến tăng hiệu quả hoạt động nhập
khẩu cho Công ty.
22

không năng động, không đáp ứng được tốt nhu cầu của thị trường. Đây là hậu
quả của cơ chế quản lí tập trung bao cấp.
Cùng với quy chế giải thể và thành lập doanh nghiệp Nhà nước ban hành
kèm theo nghị định 338/HĐBT ngày 21/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng và
thông tư số 4/TTLQ ngày 11/6/1992, Công ty lại được đổi tên là Công ty xây
dựng và xuất nhập khẩu Sông Hồng theo quyết định số 3550/QĐ-UB ngày
9/12/1992 với tổng số vốn kinh doanh là: 1.810.300.000 đồng. Công ty là một
đơn vị thành viên của Tổng Công ty Xây Dựng Sông Hồng - Bộ Xây Dựng.
Trong giai đoạn này, Công ty đã dần dần tự khẳng định mình, bộ máy tổ chức
gọn nhẹ hơn và hoạt động hiệu quả hơn, tổng doanh thu và lợi nhuận tăng ổn
định qua các năm, đời sống của cán bộ nhân viên tăng lên.
Đến năm 2002, theo quyết định số 52/QĐ-BXD của Bộ Xây Dựng ngày
11/01/2002 về việc chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần,
Công ty lại được đổi thành Công ty cổ phần phát triển xây dựng và xuất nhập
khẩu Sông Hồng với vốn điều lệ là: 3.894.260.000đ, trong đó:
Số vốn này được hình thành từ hai nguồn :
Vốn Ngân sách Nhà nước : 1.986.072.000 đồng
Vốn Công ty tự bổ sung :1.908.188.000 đồng
Đến năm 2006, vốn điều lệ của Công ty là 6.000.000.000đ. Nhà nước nắm
giữ 40% cổ phần, đại diện vốn cổ phần của Nhà nước là ông Ngô Quang Hào
và ông Nguyễn Quang Huy, 59 cổ đông khác nắm giữ 60% cổ phần còn lại.
Những năm vừa qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong việc thích
nghi, tồn tại và phát triển trong cơn lốc của nền kinh tế thị trường nhưng Công
ty đã đạt được những thành công nhất định. Điều này thể hiện ở các chỉ tiêu
như: Tổng doanh thu, lợi nhuận, lương bình quân của cán bộ công nhân viên
trong Công ty đều tăng khá nhanh qua các năm. Đồng thời, Công ty còn mở
thêm nhiều hướng kinh doanh mới, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người
24
lao động.
Từ khi thành lập đến nay đã trải qua gần 50 năm tồn tại và phát triển, cùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status