TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ SỰ TRẢ ĐŨA
TRONG CUỘC CHIẾN CỦA CÁC NHÀ CUNG CẤP HỆ ĐIỀU HÀNH
1. LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI:
Cho đến nay chúng ta đã nghiên cứu bốn hình thái cấu trúc thị trường cơ bản là cạnh
tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm. Nguyên tắc tối đa
hoá lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động trên 3 loại thị trường đầu là quy tắc quen
thuộc MR = MC. Trong khi đó, ở thị trường độc quyền nhóm, mỗi doanh nghiệp trên thị
trường có một thế lực nhất định, đồng thời tồn tại tương tác chiến lược (về định giá và sản
lượng) với những doanh nghiệp khác thì công thức MR = MC không còn thích hợp nữa. Vì
vậy, để nghiên cứu ứng xử của các doanh nghiệp trong loại hình cấu trúc thị trường này,
chúng ta phải sử dụng một công cụ có khả năng phân tích được những tương tác chiến lược
của các doanh nghiệp tham gia thị trường. Công cụ đó là Lý thuyết trò chơi.
Lý thuyết trò chơi nghiên cứu các tình huống ra quyết định có liên quan tới nhiều
người và các quyết định của mỗi người ảnh hưởng tới lợi ích và quyết định của những
người khác.
Có một số phuơng pháp phân loại trò chơi. Nếu căn cứ và khả năng hợp đồng và chế
tài hợp đồng của những người chơi thì có thể chia trò chơi thành hai loại: trò chơi hợp tác
(cooperative games) và trò chơi bất hợp tác (non-cooperative games). Trong trò chơi hợp
tác, những người chơi có khả năng cùng nhau lập chương trình hành động từ trước, đồng
thời có khả năng chế tài những thoả thuận chung này. Còn trong trò chơi bất hợp tác,
những người chơi không thể tiến tới một hợp đồng trước khi hành động, hoặc nếu có thể có
hợp đồng thì những hợp đồng này khó được chế tài.
Phương pháp phân loại thứ hai là căn cứ vào thông tin và vào thời gian hành động
của những người chơi. Căn cứ và thông tin thì các trò chơi có thể chia thành trò chơi với
thông tin đầy đủ (complete information) hoặc không đầy đủ (incomplete information). Trò
chơi với thông tin đầy đủ là trò chơi mà mỗi người có thể tính toán được kết quả của tất cả
những người còn lại. Căn cứ vào thời gian hành động lại có thể chia trò chơi thành 2 loại,
tĩnh và động. Trong trò chơi tĩnh (static game), những người chơi hành động đồng thời, và
kết quả cuối cùng của mỗi người phụ thuộc vào phối hợp hành động của tất cả mọi người.
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 1
Microcomputer software - Phần mềm cho máy tính cá nhân) ra đời tại Albuquerque, New
Mexico. Không ít bạn bè, người thân khi đó đã chỉ trích việc bỏ học của Bill, nhưng cho tới
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 2
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
bây giờ, thực tế đã chứng minh được rằng Bill đã đúng. Nhiều thanh niên Mỹ bắt chước
con đường của Bill, kể cả việc bỏ học giữa chừng.
Ngày 29-10-1975, cái tên Microsoft (không có dấu gạch ngang) lần đầu tiên xuất
hiện trong một bức thư Bill Gates gửi cho Paul Allen. Ngày 26-10-1976, Microsoft chính
thức được đăng kí thương hiệu như chúng ta biết ngày nay.
Những khách hàng đầu tiên của Microsoft phải kể đến hãng sản xuất máy tính non
trẻ Apple, nhà sản xuất máy tính PET Commodore và Tandy Corporation chuyên về laọi
máy tính Radio Shack TRS-80. Năm 1977, Microsoft cho ra mắt sản phẩm ngôn ngữ thứ
hai Microsoft Fortran. Cũng trong năm này, Bill Gates chính thức trở thành chủ tịch của
Microsoft Corp, còn Paul Allen là phó chủ tịch.
2. MS-DOS
Năm 1979, Gates và Allen dời công ty tới Bellevue, Washington (Công ty chuyển
tới trụ sở hiện nay ở Ređmon năm 1986). Năm 1980 IBM chon Microsoft viết hệ điều hành
cho máy tính cá nhân của họ. Dưới áp lực về thới gian, Microsoft đã mua lại 86-DOS từ
một công ty nhỏ tên là Seattle Computer Products với giá 50000 đola, rồi cải tiến nó thành
MS-DOS (Microsoft Disk Operating System).
Là một phần trong hợp đồng với IBM, Microsoft được phép cấp phép sử dụng hệ
điều hành này cho các công ty khác. Tới năm 1984, Microsoft đã cấp phép sử dung MS-
DOS cho 200 nhà sản xuất máy tính cá nhân, biến MS-DOS trở thành hệ điều hành chuẩn
cho máy PC và giúp Microsoft có bước phát triển vượt bậc trong thập kỉ 80. Năm 1983,
Allen rời khỏi công ty nhưng vẫn có chân trong ban giám đốc tới năm 2000, và tiếp tục là
cổ đông chính của Microsoft.
3. Phần mềm ứng dụng
Cùng với thành công của MS-DOS, Microsoft bắt đầu phát triển các phần mềm ứng
dụng cho máy tính cá nhân. Năm 1982, họ cho ra đời Multiplan, một chương trình bảng
tính, năm tiếp theo là chương trình xử lý văn bản, Microsoft Word. Năm 1984, Microsoft là
của hệ điều hành. Hàng triệu bản copy của Windows 95 đã được bán hết chỉ trong bốn
ngày đầu. Vào tháng 9, chính phủ Trung Quốc đã chọn Windows làm hệ điều hành được sử
dụng ở đất nước này và thảo thuận với Microsoft chuẩn hoá phiên bản tiếng Trung của hệ
điều hành này.
5. Những rắc rối luật pháp
Cuối năm 1997, bộ tư pháp buộc tội Microsoft vi phạm thoả thuận năm 1994 khi
Microsoft buộc các nhà sản xuất máy tính phải kèm cả Internet Explorer (IE), một trình
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 4
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
duyệt Internet của họ khi cài đặt Windows 95. Chính phủ buộc tội Microsoft đã lợi dụng
một cách bất hợp pháp lợi thế đối với thị trường hệ điều hành máy tính để dành quyền
kiểm soát thị trường trình duyệt Internet.
Microsoft phản bác lại rằng họ có quyền tăng cường các chức năng của Windows
bằng cách kết hợp các tính năng cho Internet vào hệ điều hành. Tới cuối năm 1997, Sun
Microsystem đâm đơn kiện Microsoft vi phạm hợp đồng sử dụng ngôn ngữ lập trình Java
của Sun.
Tháng 11-1998, toà án liên bang cấp quận đã xử Microsoft vì tội chống lại lệnh của
toà đưa ra trong vụ kiện của Sun một năm trước. Lệnh này buộc Microsoft phải sửa lại các
phần mềm của họ để đáp ứng theo những tiêu chuẩn tương thích của Sun. Cả hai công ty
đã giải quyết việc này vào năm 2001, với việc Microsoft đồng ý trả cho Sun 20 triệu USD
cho việc giới hạn sử dung Java.
Microsoft cũng tạm thời giải quyết vụ chống độc quyền của Bộ tư pháp hồi đầu năm
1998 bằng cách đồng ý cho phép các công ty sản xuất máy tính sử dụng phiên bản
Windows 95 không kèm theo trình duyệt Internet Explorer. Thế nhưng tới tháng 5-1998,
Bộ tư pháp và 20 Bang lại tiến hành khởi kiện Microsoft với tội danh cản trở cạnh tranh.
Vụ kiện buộc Microsoft phải bán Windows không kèm theo IE mà thay vào đó là
Navigator của Nescape Communication.
Tháng 11-1999, thẩm phán Thomas Penfield Jackson đã đưa ra những điều tra của
ông về vụ này, trong đó ông tuyên bố rằng Microsoft đã có hành vi độc quyền trên thị
trường hệ điều hành máy tính cá nhân. Năm 2000, thẩm phán Jackson buộc Microsoft phải
hỗ trợ Internet.
Năm 1999, Microsoft trả 5 tỉ USD cho công ty truyền thông AT&T Corp để sử dụng
hệ điều hành Windows CE cho các thiết bị cung cấp cho khách hàng với truyền hình cáp,
điện thoại và các dịch vụ Internet tốc độ cao. Cũng năm 1999 công ty phát hành Windows
2000, phiên bản cuối cùng của Windows NT. Tháng một năm 2000, Bill Gates chuyển giao
vai trò điều hành cho Steve Ballmer. Bản thân Bill Gates vẫn giữ ghế chủ tịch, đồng thời là
kiến truc sư trưởng chuyên phát triển các sản phẩm và công nghệ mới.
Năm 2001 Microsoft phát hành Windows XP, hệ diều hành cho người tiêu dùng đầu
tiên không dựa trên MS-DOS. Cũng trong năm này Microsoft giới thiệu Xbox, thiết bị
Video game của công ty. Trong chiến lược công ty cũng có sự chuyển hướng khi tuyên bố
một chiến lược mới mang tên .Net (Dot Net). Chiến lược này tìm kiếm khả năng cho phép
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 6
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
các thiêt bị đa dạng như PC, PDA, điện thoại di động kết nối với nhau qua Internet, đồng
thời tự động hoá các chức năng của máy tính.
Trong thế kỉ 21, Microsoft sẽ phát triển các chương trình kinh doanh bao gồm các
phiên bản mới của Microsoft Network, kết nối không dây cho Internet. Năm 2003, công ty
bắt đầu chú trọng vào "máy tính đáng tin cậy" đòi hỏi các lập trìh viên phải cải thiện khả
nămg bảo vệ của phần mềm trước sự tấn công của virus và các phần mềm gián điệp.
Tóm lại, trong thế kỉ 21, với đà phát triển hiện nay, Microssoft sẽ vẫn tiếp tục giữ
vững vị thế của một đế chế hùng mạnh nhất, vừa tạo động lực cho sự phát triển của ngành
công nghiệp phần mềm và Internet thế giới, vừa tiếp tục là tâm điểm cho những cuộc tranh
cãi về độc quyền hay cạnh tranh lành mạnh. Một chu kì mới lại đang băt đầu.
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Apple
Năm 1976, chiếc máy tính Apple đầu tiên được tạo ra trong một gara của gia đình
người đồng sáng lập Apple – Steve Wozinak. Khi đó, hình dạng cơ bản của nó gần như đã
đạt đến tiêu chuẩn của máy tính hiện đại: Vỏ khung gỗ, không có bàn phím, một màn hình,
một chuột hoặc ổ cứng. Đây là một bước tiến vượt bậc trong lịch sử phát triển PC.
Năm 1984, Apple tạo ra một ảnh hưởng quan trọng khác đến sự phát triển của
ngành công nghệ thông tin khi cho ra mắt Macintosh - máy tính cá nhân đầu tiên được điều
nghệ sản phẩm mới iPhone với các tính năng ưu việt. Tính đến ngày 30/09 năm đó, đã có
1,4 triệu sản phẩm iPhone được bán ra.
Một năm sau khi iPhone ra đời, Apple tiếp tục giới thiệu phiên bản mới của dòng
điện thoại thông minh này là iPhone 3G.
Thông tin về iPad xuất hiện những ngày đầu năm 2010 đã khiến không ít người yêu
thích công nghệ phát cuồng. Với iPad, người dùng có thể duyệt mail, chơi game, đọc sách,
xem phim … iPad được ví như một chiếc iPhone cỡ lớn nhưng lại có đầy đủ các tính năng
của một máy tính sách tay.
2.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của Linux
1. Unix
Unix (hay UNIX) là hệ điều hành máy tính được phát triển vào những năm 60 của
thế kỷ 20 bởi những thành viên của Bell Labs mà dẫn đầu là Ken Thompson, Dennis
Ritchie và Douglas McIlroy. Unix có rất nhiều tính năng nổi trội như nhiều người có thể
dùng Unix cùng một lúc và tính năng bảo mật cũng rất cao. Unix được cung cấp miễn phí
cho các trường đại học nhưng lại đước bán ở ngoài thị trường. Unix đã là nguồn cảm hứng
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 8
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
cho nhiều hệ điều hành tương tự sau này, những hệ điều hành này thường được gọi là
“Unix-like operating system” (hệ điều hành tựa Linux).
2. GNU
Vào năm 1983, dựa vào nguồn cảm hứng và ảnh hưởng từ Unix, Richard Stollman
cùng bạn bè đã cùng nhau phát triển một hệ điều hành mới miễn phí và mở mã nguồn
mang tên GNU nhưng vẫn chưa hoàn thiện, phần quan trọng của hệ điều hành là hạt nhân
(kernel) vẫn chưa có.
3. MINIX
Vào khoảng năm 1986 Andrew S. Tanenbaum đã viết một hệ điều hành miễn phí và
mở mã nguồn mang tên MINIX để phục vụ việc dạy học.
4. GNU/Linux hay Linux
Vào năm 1991 Linus Torvalds đã nghiên cứu một hệ điều hành mới tốt và hoàn
thiện hơn MINIX. Trong quá trình nghiên cứu tại trường đại học Helsinki ở Phần Lan, ông
*Ubuntu
*Debian
*Fedora
*Mandriva
*openSUSE
*Gentoo
*Slackware
*PCLinuxOS
* Linux Mint
2.2. So sánh giữa các hệ điều hành
Hiện nay, cuộc chiến cạnh tranh giữa các hệ điều hành đang diễn ra vô cùng khốc
liệt. Tuy nhiên, giữa các Hệ điều hành cũng có những điểm khác nhau, người tiêu dùng
đang đứng trước nhiều sự lựa chọn. Chúng ta hãy cùng làm phép so sánh giữa các HĐH
phổ biến hiện nay: Mac “Leopard” (OS 10.5.1) Windows XP SP2, Windows Vista (pre-
Service Pack 1), và Ubuntu 7.10 Gutsy Gibbon (Linux), về 8 tiêu chuẩn để dự đoán xem
HĐH nào đang giành ưu thế trong trận chiến ác liệt này.
2.2.1. Giá cả
Với Ubuntu là HĐH mã nguồn mở, nghĩa là miễn phí hoàn toàn. Chỉ có một vài bản
Linux là bản thương mại, do có dịch vụ đi kèm của nhà phân phối.
Giá phiên bản hiện tại của Mac Leopard là 129 USD, người dùng sẽ phải trả tiền
hằng năm để có được những bản nâng cấp. Với Windows thì có thể làm bạn đắn đo: Vista
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 10
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
Home Basic giá 199 USD. Còn các phiên bản Vista khác (Premium, Ultimate, Business, và
Enterprise) giá quá cao: khoảng 399,95 USD. Thậm chí Windows XP Home bản đầy đủ
mà cũng có giá 199 USD. Tuy nhiên cũng có ít người thực sự mua Windows, hoặc chỉ mua
bản OEM với giá trẻ hơn bản đầy đủ.
Lợi thế phần này thuộc về: Ubuntu.
2.2.2. Cài đặt
Hiện nay, một HĐH là đủ thỏa mãn yêu cầu của người dùng. Nếu cài mới thì Win
kèm theo XP thì ít hơn, vì XP ra đời năm 2001.
Ưu thế phần này lại thuộc về: Mac OS 10.5.1.
2.2.5. Hỗ trợ các phần mềm của hãng thứ ba
Thị trường phần mềm của Linux là phần mềm của hãng thứ ba, và phần lớn những
phần mềm miễn phí tốt nhất đều được cài đặt lúc cài HĐH.Ubuntu quản lý và cài đặt thêm
phần mềm bằng cách dùng chương trình Package Managers, rất tiện lợi.
Tuy nhiên công bằng mà nói, nhiều phần mềm miễn phí của Ubuntu ít phổ biến hơn
các phần mềm chạy trên Windows. Điều này cũng là một trong các yếu tố quan trọng để
người dùng chọn Windows. So với Vista thì XP có khả năng tương thích tốt hơn, khá nhiều
chương trình chỉ chạy được ở XP mà không thể chạy trên nền Vista. 78% phần mềm mạng
hiện nay chạy trên HĐH Windows XP. Một điểm mạnh nữa của Windows chính là
Microsoft Office, bộ Office được dùng nhiều nhất.
Về phần Mac thì những năm gần đây các phần mềm cũng khá nhiều. Có thể nói, nếu
Mac không có phần mềm X nào đó, thì rất có thể bạn không cần đến nó.
Về phần game, thì ưu thế tuyệt đối thuộc về Windows.
Ưu thế phần này thuộc về: Windows XP.
2.2.6. Các chương trình điều khiển thiết bị
Sự phổ biến của Windows là nguyên nhân của việc rất nhiều nhà sản xuất chế tạo
thiết bị của mình và viết các driver chạy trên Windows, đặc biệt là các nhà sản xuất điện đi
động, PDA, và công cụ nghe nhạc cầm tay. Windows XP có nhiều driver hơn Vista.
Trong khi đó, Mac là một hệ thống khép kín hơn, và nhà các sản xuất phần cứng chỉ
viết driver cho những phần cứng chỉ hoạt động trên Mac mà thôi. Thậm chỉ còn rất khó để
tìm ra các driver cho các thiết bị dùng cổng USB. Tuy nhiên, với các dòng máy in và máy
quét thì Mac có khá nhiều driver.
Ubuntu đã có nhiều driver so với những bản Linux cũ, nhưng số lượng hiện tại khó
đuổi kịp Windows và Mac.
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 12
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
Ưu thế phần này thuộc về: Windows XP.
2.2.7. Mạng
HĐH
Giá
cả
Cài
đặt
Giao
diện
Gói
phần
mềm
đi kèm
Hỗ trợ
phần
mềm
hãng thứ
3
Chương
trình
điều
khiển
thiết bị
Mạng
Bảo
mật
Mac OS
8 10 10 9 7 7 8 8
Window
XP 6 6 6 5 10 9 9 6
Window
Vista
thế là chiến lược tối ưu bất kể hành động của đối thủ là gì.
Thống kê cho thấy Microsoft Windows đang chiếm tới 92% thị phần máy tính toàn
cầu, trong khi Apple Mac OS chỉ nắm giữ khoảng 5% thị phần. Ngoài ra, 3% còn lại thuộc
sở hữu của nhóm hệ điều hành khác như Linux.
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 15
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
Trong những năm của hai thập kỷ cuối cùng thế kỷ 20, Microsoft thực sự là vị
"thánh sống" của làng công nghệ. Chúng ta phải cảm ơn Bill Gates và các cộng sự rất rất
rất nhiều bởi nếu không có Windows, có lẽ giờ máy tính cá nhân vẫn là những cỗ máy trị
giá hàng chục ngàn USD với hàng trăm câu lệnh khó nhớ.
Có rất nhiều sản phẩm, dịch vụ và yếu tố đã làm nên sự lớn mạnh của Microsoft
ngày nay. Tuy nhiên, theo nhiều người,những sản phẩm đánh dấu sợ phát triển và lớn
mạnh của công ty này đó là: MS-Dos, Windows 3.0, Windows XP và có thể là cả Internet
Explorer.
Tại sao tôi lại chọn các sản phẩm này mà không phải bất cứ sản phẩm nào khác?
MS-DOS đương nhiên có mặt vì nó là thứ đã tạo ra liên minh có thể nói đã khai sinh ra
làng máy tính cá nhân: IBM + Microsoft, Windows 3.0 là phiên bản đầu tiên có GUI
(Graphical User Interface - Nó được dùng để mô tả một môi trường làm việc thân thiện với
người sử dụng, mà được sử dụng những hình tượng đồ hoạ - như những Icon - để thay thế
những dòng lệnh tương tác với máy tính. GUI làm cho máy tính trở nên sử dụng dễ dàng
hơn đối với người dùng không có kinh nghiệm nhiều, Windows chính là GUI), Windows
XP – hệ điều hành phổ biến nhất mọi thời đại, thậm chí sau hơn 10 năm ra đời, nó vẫn rất
được yêu thích còn IE là trình duyệt phổ biến nhất thế giới.
Có thể bạn để ý có thể không, Microsoft đã tạo nên những điều cực kỳ kỳ diệu
nhưng tất cả hãng đều làm trên những nền tảng được mua lại từ các công ty khác. Đáng nói
hơn, những "nguồn mua lại" này lại không hề thuộc dạng bí mật mà được rất nhiều các
công ty cùng thời sử dụng.
Đầu tiên là MS-DOS (hay IBM gọi là PC DOS). Đây là HĐH được Bill Gates cải
hay lời đề nghị 30 tỷ USD thất bại dành cho quyền sở hữu Yahoo.
Một trong những yếu tố đặc trưng (và hay bị "lên án") của các sản phẩm mang mác
Microsoft là tính khép kín của sản phẩm. Đây chính là yếu tố hạt nhân tạo ra tính độc
quyền của Microsoft. Nguyên tắc chung của Microsoft đối với hầu hết các sản phẩm của
hãng: "Chào mừng các nhà phát triển ứng dụng, tuy nhiên, làm ơn tránh xa mã nguồn hay
bất cứ yếu tố nào liên quan đến cốt lõi của sản phẩm". Thực thế, Microsoft luôn làm tất cả
để bảo vệ quyền sở hữu, sự an toàn của mã nguồn - yếu tố cơ bản của vài chục tỷ USD
doanh thu mỗi năm.
Tư duy kinh doanh này đến nhiều từ yếu tố lịch sử của hãng. Như đã nói ở trên, các
sản phẩm cốt lõi của Microsoft đều được mua lại và phát triển từ các sản phẩm có sẵn và
có rất nhiều người cũng có thể mua lại và phát triển tương tự Microsoft. Việc bảo vệ chặt
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 17
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
mã nguồn là điều thiết yếu của Bill Gates và có cộng sự có thể tồn tại và phát triển trong
thời điểm đó.
Quan điểm này có thể sai trong tương lai khi mọi thứ đều đang hướng tới tính mở.
Tuy nhiên, cho đến bây giờ nó vẫn đúng và được chứng minh mạnh mẽ thông qua doanh
thu và lợi nhuận của hãng.
Rất khó để khẳng định MAC hay Windows xuất sắc hơn, bởi lẽ mỗi sản phẩm
hướng đến những nhóm đối tượng sử dụng riêng biệt. Về phía Microsoft, hãng này luôn ổn
định với hệ điều hành Windows của họ, trừ sự “thất bại” của Windows Vista so với
Windows XP – hệ điều hành đã 10 năm tuổi, thì sự xuất hiện của Windows 7 (có mặt trên
cửa hàng bán lẻ từ tháng 10/2009) với hơn 90 triệu bản sau 5 tháng ra mắt, đã lấy lại “uy
thế” cho Microsoft, khẳng định lại mình với vị thế là nhà cung cấp hệ điều hành phổ biến
khắp thế giới. Trong khi đó Apple cũng có những cải tiến cho hệ điều hành Mac OS của
họ, từ những phiên bản trước đó, rồi đến Mac OSX – năm 2001, và liên tục đổi mới, bản
mới nhất hiện tại là Mac OSX Snow Leopard (phát hành ngày 23/06 vừa qua).
Nhưng cuộc chơi không chỉ dừng lại trên cuộc chiến giành thì phần cung ứng phần
mềm, chính vì vậy Microsoft không dễ để thắng Apple. Năm 2001, Apple giới thiệu chiếc
iPod đầu tiên, đến năm 2007, Apple giới thiệu chiếc điện thoại iPhone đầu tiên trên thế
“Apple đang cố gắng tranh thủ thời cơ trong thời điểm có nhiều chỉ trích hướng vào
Windows”, Tim Bajarin, Chủ tịch của Creative Strategies, một người theo sát Apple lâu
năm cho biết, “Việc họ chỉ trích Microsoft giống như việc họ bêu rếu những thông điệp sai
sự thật mà Windows cam kết đem đến cho khách hàng”.
Một trong những mẫu quảng cáo nghiên cứu có “Bean Counter” của Apple, họ chế
giễu việc Microsoft chỉ biết tiêu tốn tiền của cho quảng cáo, thay vì họ phải chỉnh sữa
những lỗi kỹ thuật trên sản phẩm của mình.
Qua ví dụ về cạnh tranh quảng cáo của hai gã khổng lồ chúng ta lại thây hình bóng
trò chơi quãng cáo trong Lý thuyết chò trơi. Bất kể các đối thủ khác như thế nào thỉ gã
khổng lồ Microsoft vẫn chi một phần lớn trích từ doanh thu để chi phí cho quãng cáo. Bởi
vì, họ nhận ra được quảng cáo là một trong những con đường để đi đến trái tim khách
hàng. Qua ví dụ trên cũng cho chúng ta thấy, trong ma trận kết quả của chò trơi quảng cáo
nếu Apple không quảng cảo hay chi phí cho quảng cáo ít thì Microsoft sẽ chiếm ưu thế,
giành được nhiều thị phần. Tuy nhiên, nhận thức được điều này Apple đã tập trung cho
quảng cáo nhằm tranh giành thị phần với Microsoft. Cuối cùng, trong cuộc chiến giữa 2 gã
khổng lồ Microsoft và Apple vẫn chưa thể đi đến hồi kết phân kẻ thắng người thua.
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 19
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
Rất khó để khẳng định MAC hay Windows xuất sắc hơn, bởi lẽ mỗi sản phẩm
hướng đến những nhóm đối tượng sử dụng riêng biệt. Tuy nhiên, Microsoft vẫn đang nắm
giữ thị phần quá lớn và sẽ tiếp tục duy trì sức ảnh hưởng đáng kể trong nhiều năm tiếp
theo.
Tuy nhiên, trên thị trường CNTT đầy khốc liệt đó có lúc chúng ta sẽ bắt gặp hai gã
khổng lồ bắt tay nhau hợp tác để đè bẹp các đối thủ khác. Đó là trò chơi hợp tác trong Lý
thuyết trò chơi.
3.2 Cuộc chiến giữa Microsoft kết hợp với Apple đá Google để giành giật Nortel
Nortel từng là 1 trong những gã khổng lồ trong lĩnh vực viễn thông, năm 2009 tuyên
bố phá sản. Kho bằng sáng chế của Nortel gồm khoảng 6000 chiếc, chủ yếu trong lĩnh vực
viễn thông và các thiết bị thông tin liên lạc. Nortel đã đem cả kho bằng sáng chế của mình
ra đấu giá, tháng 4 vừa rồi Google ra giá 900 triệu USD cho món hàng này của Nortel.
trường. Windows Phone 7 của Microsoft hiện tại đang là một sản phẩm thất bại của hãng
này trong khi Android và iOS vẫn đang tiếp tục tăng trưởng phi mã. Nokia bắt tay
Microsoft để hỗ trợ Windows Phone, nhưng hai người không biết bơi nắm tay nhau sẽ
không giúp cả hai cùng nổi. Muốn Windows Phone 7 tìm được chỗ đứng, Microsoft bắt
buộc phải dọn đường cho nó. Đối với Microsoft mà nói, iOS ngã hay Android thất thủ thì
đều có lợi như nhau. Việc ban đầu Microsoft đề nghị bắt tay với Google trước có thể là một
động thái chứng tỏ họ vẫn dè chừng kẻ thù truyền kiếp Apple.
Nhưng khi Google lắc đầu, Microsoft không ngần ngại sát cánh cùng iOS để “dọn
dẹp” Android. Mục tiêu cuối cùng của Microsoft chỉ là gây thiệt hại cho 1 trong 2 đối thủ
của mình mà không nhắm và một ai cụ thể. Chỉ cần iOS hoặc Android bị kìm hãm đôi chút
là Windows Phone sẽ có cơ hội chen chân vào một thị trường đang quá chật chội.
Microsoft muốn nhân lúc lộn xộn việc bằng sáng chế để “đục nước béo cò”, đây thực sự là
một ngón đòn rất thâm thúy của gã khổng lồ phần mềm, hoàn toàn tương xứng với kinh
nghiệm trên 30 năm chinh chiến trên mặt trận quyền sáng chế.
Còn đối với Apple, ngay từ đầu, Apple đã bày tỏ ý định quyết giành giật số bằng
sáng chế của Nortel với Google. Với số lượng bằng sáng chế của Apple, việc bổ sung các
bằng sáng chế từ Nortel không thực sự quan trọng, ý nghĩa của thương vụ này chỉ đơn
thuần là kéo “vũ khí” ra xa khỏi tầm với của Google. Việc sẵn sàng bắt tay với Microsoft
cho thấy Apple không quá lo ngại về nền tảng Windows Phone èo uột của hãng này. Việc
Apple quyết tâm không để cho Google tiếp cận 6000 bằng sáng chế này đã cho thấy những
nỗ lực của Táo Khuyết trong việc ngăn cản bước tiến của Android. Rất tiếc cho Android và
rất mừng cho iOS là những nỗ lực này cuối cùng cũng thành công.
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 21
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
3.3Cuộc chiến giữa Microsoft và Linux
Linux là một phần nổi bật nhất trong thế giới mã nguồn mở. Linux được quản lý và
phát triển bởi tổ chức kernel.org và hàng nghìn các thành phần khác được các tổ chức, cá
nhân phát triển một cách độc lập. Nhưng thường thì chúng ta biết Linux chủ yếu qua các
dự án phân phối (Linux distribution) như Redhat, Debian, Mandrake và hàng trăm bản
phân phối Linux khác (distro). Các dự án phân phối Linux tuyển lựa và sử dụng tập mã
cạnh tranh thiếu lành mạnh và việc bản quyền phần mềm sẽ bó buộc sự phát triển của công
nghệ.
Mười lăm năm sau ngày thành lập, Microsoft chỉ nắm giữ vỏn vẹn ba bằng sáng chế
liên quan tới phần mềm máy tính. Điều này chứng tỏ sự thiếu quan tâm của Bill Gates đối
với vấn đề này, và ông ta đã phải trả những cái giá đắt thông qua hàng trăm triệu USD bồi
thường cho các vụ kiện thất bại. Sau năm 1990, Microsoft bắt đầu tăng tốc trong việc tích
trữ bằng sáng chế. Năm 1995, hãng có bằng sáng chế thứ 100, năm 1999 là bằng sáng chế
thứ 1000 và con số này cứ tăng phi mã, đến thời điểm hiện tại ước tính Microsoft đang
nắm giữ trên 20 ngàn bằng sáng chế các loại.
Và khi đã tích tụ đủ bằng sáng chế cho mình, dường như Microsoft không cảm thấy
các bằng sáng chế này kéo tụt sự tiến bộ của công nghệ nữa. Từ nửa sau thập kỷ 90 trở đi,
khi Microsoft giữ vị trí thống trị ở mảng hệ điều hành, hãng này lại đem các bằng sáng chế
mà mình thu thập được để kiện cáo, chống lại các tổ chức, cá nhân ủng hộ phần mềm mã
nguồn mở. Cuộc chiến chống Linux dai dẳng của Microsoft là một ví dụ điển hình cho việc
những doanh nghiệp lớn quên đi thời “bần hàn” của mình và thực hiện chính sách “lấy thịt
đè người” mà trước đó họ cực lực phản đối.
Tuy nhiên, hệ điều hành Linux đang vươn lên mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực, từ
những chiếc siêu máy tính cho tới điện thoại di động và trở thành đối thủ đáng kể của
Windows.
So với Windows, những ưu điểm nổi trội của Linux bao gồm: tốc độ nhanh hơn, ít
gặp rắc rối với virus, không đòi hỏi cấu hình máy cao và hoàn toàn miễn phí. Trong suốt
một thập kỉ, gần như Linux chỉ được người dùng tự cài đặt. Tuy nhiên, giờ đây hệ điều
hành ưa thích của các chuyên viên công nghệ thông tin đang trở nên phổ dụng. Hơn nữa
Linux không hề xung đột với Windows. Windows mặt khác vẫn tiếp tục chịu sự tấn công
của các tay “tin tặc” trên mạng.
Hiện nay, người dùng muốn sở hữu một phần mền của Microsoft thì phải trả chi phí
tương đối cao và việc nhiều chương trình hiện vẫn chưa tương thích với Vista là một
nguyên nhân khiến nhiều người dùng không muốn sử dụng. Mặc khác, người dùng cần
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 23
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
GVHD: TS. Hay Sinh Trang 24
TL KTVM: Ứng dụng lý thuyết trò chơi- Nhóm 7 K20
hơn của Microsoft trên thương trường. Đây cũng là chiến lược chịu sự cạnh tranh khốc liệt
và có vẻ như nguồn mở đang giành thế thượng phong.
Nguy cơ chính của Microsoft hiện nay là công ty đang mất dần thị phần là do người
dùng và các quốc gia đang có xu thế xây dựng hệ thống phần mềm riêng dần dần thay thế
và tránh lệ thuộc Microsoft. Chiến lược mà Linux kỳ vọng chính là trong các ứng dụng
mới, như máy chủ Web và thiết bị cầm tay. Khi những ứng dụng này phát triển, cải tiến,
phần mềm hỗ trợ chúng sẽ dứt áo rời bỏ máy tính để bàn (desktop) để nhảy lên Internet và
Microsoft sẽ bị mất thị phần.
Ứng dụng Linux trên thiết bị cầm tay thực sự là mối đe doạ cho công việc kinh
doanh các chương trình cho máy tính để bàn gắn với hệ điều hành Windows. Khi Internet
trở thành trung khu thần kinh của mọi hoạt động điện toán, thay vì mạng LAN như hiện
nay, các thiết bị, máy tính sẽ chạy trên nền Linux. Đơn giản vì Linux hoàn toàn xây mới,
hoàn toàn tương thích. Ngày càng có nhiều người để máy tính xách tay ở nhà và mang thiết
bị cầm tay theo.
Có thể khẳng định rằng ngày nay, nguồn mở là xương sống của thế giới web và
mạng Internet toàn cầu đang phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn mở bất chấp sự thống trị
của Microsoft trong lĩnh vực phần mềm. Nhận thức rõ được sự nguy hiểm này, Microsoft
đã chuyển hướng chiến lược từ cạnh tranh đối đầu với cộng đồng nguồn mở sang bắt tay
hợp tác. Theo tin chính thức từ các bên, thoả thuận hợp tác giữa Microsoft và Novell - nhà
phát triển Suse Linux - sẽ có hiệu lực đến ít nhất là năm 2012. Với Linux, Windows từ chỗ
là đối thủ cạnh tranh bỗng chốc trở thành bạn. Việc này mở ra những triển vọng mới cho
việc tiếp tục phát triển và phổ biến các nền tảng sử dụng phần mềm mã nguồn mở.
Microsoft sẽ gia công phần mềm nguồn mở, bao gồm các đề án định hướng điều khiển các
định dạng của các tập tin trong Office và dịch vụ web (web - service). Ngoài ra, Microsoft
sẽ không đăng ký bằng sáng chế với những gia công sản phẩm phi thương mại dùng mã
nguồn mở. Microsoft cũng sẽ không kiện tụng với các thành viên OpenSUSE.org, tổ chức
có mã nguồn cấu thành nền tảng của Suse Linux Enterprise.
Thoả thuận cùng Novell có thể tạo khả năng sử dụng những ứng dụng nền tảng này