Đề Tài: Ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học vật lý ở THCS
I. Lý do chọn đề tài
1. Cơ sở lý luận .
Sự bùng nổ công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng và khoa học công nghệ nói
chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống
xã hội. Nếu muốn việc dạy học theo kịp cuộc sống, mỗi một giáo viên nhất thiết phải
cải cách phương pháp dạy học theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin, trang thiết
bị dạy học hiện đại và phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kĩ năng thực hành, hứng thú
học tập của học sinh để nâng cao chất lượng dạy và học.
Trước tình hình thực tế của đất nước năm học 2008-2009 Bộ GD&ĐT đã chọn
chủ đề : "Đẩy mạnh ứng dụng CNTT" vào trường học và có thể thấy được sự chuyển
mình tiếp cận cái mới của các trường THCS trên địa bàn huyện Con Cuông có nhiều
thay đổi vận dụng tối đa trong dạy học các bộ môn đặc biệt là môn Vật Lý THCS. Đối
với bản thân là một cán bộ quản lý và là giáo viên bộ môn vật lý nắm được sự cần
thiết của ứng dụng CNTT vào dạy học của bộ môn đã tự nghiên cứu học hỏi qua
Internet và qua sách vở để soạn giáo án điện tử vào giảng dạy các tiết học và qua quá
trình dạy giáo án điện tử đã đúc rút ra các bước soạn giáo án, các hiệu ứng sinh động,
quá trình dạy học của tiết dạy giáo án điện tử và chia nhóm học sinh để từ đó gây
hứng thú cho người học làm thay đổi cách dạy, cách học truyền thống và ứng dụng
CNTT vào dạy học bộ môn vật lý THCS một cách mạnh mẽ và có hiệu quả cao.
2. Cơ sở thực tiễn.
Ứng dụng CNTT và truyền thông là một xu hướng hiện đại hóa quá trình dạy
và học. Nhằm giúp HS tham gia học tập một cách chủ động, tích cực và sáng tạo tăng
cường tính trực quan, góp phần nâng cao chất lượng lĩnh hội và nắm vững kiến thức,
phát triển năng lực tư duy độc lập sáng tạo của HS với cách “Suy nghĩ nhiều hơn, làm
việc nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn” để đạt kết quả cao trong một tiết dạy.
Thông qua máy vi tính giáo viên có thể thực hiện các thí nghiệm mô phỏng, hình
ảnh động, ảnh tỉnh, âm thanh…Như vậy HS bồi dưỡng và phát triển được năng lực
thực nghiệm, năng lực HS hoạt động tự lực, sáng tạo bộc lộ được khả năng sở trường,
2008):
Lớp Tổng số HS Thái Độ
Hứng thú Bình thường Không hứng thú
6A2 32 06 12 14
7A2 32 06 14 12
8A1 32 08 11 13
2
- Chất lượng học tập: (Bảng thống kê chất lượng) Năm học 2007-2008 chung toàn
trường của bộ môn Vật lý nói riêng : Giỏi: 21.1 %, Khá: 36.1%; TB: 32.5% ;
Yếu:8.6% , Kém: 1.7%
b. Nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập của HS khi học bộ môn vật lý.
* Đối với Học sinh.
Đối với một tiết dạy không dạy bằng CNTT có thể nói chất lượng học tập cũng
không cao lắm bởi vì học sinh đã quá quen vơi lối dạy không có CNTT và có một số
học sinh nhàm chán.
Ngay từ đầu cấp THCS học sinh đã tiếp cận một môn khoa học mà ở tiểu học
các em mới được học những kiến thức vật lý ở môn Tự nhiên và Xã hội chưa có hứng
thú học tập môn vật lý. Bước đầu đã có một sự chuyển đổi về phương pháp học tập.
Chưa có kĩ năng thực hành, cách lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm môn vật lý và kĩ
năng quan sát, nghe, nhìn, không đúng, học không đi đôi với hành. Cho nên các em
chưa tiếp cận được phương pháp học, cách học một cách tốt nhất. Qua tìm hiểu
nguyên nhân thì thấy cái chính là do các em chưa nắm chắc được kiến thức hoặc quên
kiến thức một phần do giáo viên chưa có phương pháp giảng dạy thích hợp.
*Đối với giáo viên.
Giáo viên chưa có phương pháp giảng dạy thích hợp, chưa phân loại được từng
đối tượng học sinh trong lớp học. Nhiều khi do ngại tìm tòi, lắp ráp các dụng cụ thí
nghiệm, do thiếu dụng cụ thí nghiệm. Phần nữa là phải đầu tư thời gian để nghiên cứu
bài của nhiều tiết học cho nên thường giáo viên dạy chay bằng cách mô tả, thuyết
trình thí nghiệm. Có nhiều thí nghiệm thiết bị không thể làm được và bên cạnh không
có thí nghiệm ảo. Đồng thời hiện nay một số trường chưa có đủ phương tiện kĩ thuật
lựa chọn những thông tin phù hợp, giải thích được những hiện tượng Vật lý cơ bản để
tìm ra được những quy luật, khái niệm, định luật vật lý dựa trên cơ sở thực tế của thí
nghiệm.
a. Thành lập tổ nhóm học tập vật lý cho hoc sinh.
- Chia lớp thành 6 nhóm (mỗi nhóm từ 5 - 6 HS)
- Các tiêu chí khi chia tổ hoặc nhóm :
Đồng đều về nam, nữ, trình độ học sinh, chia luân phiên nhóm trưởng, thư ký để
em nào cũng phải hoạt động trong các tiết dạy.
b. Sử dụng máy chiếu hình đa phương tiện (Projecter) trong dạy học vật lý .
Máy chiếu đa phương tiện là máy chiếu kết nối với máy tính, đầu video, máy
tính vật thể để phóng to hình động hoặc tĩnh với ảnh màu đen trắng dùng để chiếu,
phóng sơ đồ hình mẫu, vật thể, các động tác, cảnh quan chuẩn thích hợp cho quá trình
dạy học hiện đại của môn vật lý bằng các công cụ. Có thể nói việc sử dụng máy tính
để kết nối vói Projecter là một điều mà giáo viên cũng cần học hỏi và thành thạo bởi
vì mỗi máy tính nó sẽ kết nối với máy chiếu nhiều đường dẫn khác nhau, mà đầu tiên
phải soạn được tiết dạy giáo án điện tử bằng phần mềm dưới đây: Cách soạn này giúp
giáo viên soạn những vấn đề cơ bản của một tiết dạy và chưa giúp được phát triển kỹ
năng thành thạo tạo nhiều liên kết khác mà phải tự học thêm và nghiên cứu để nâng
cao cách sử dụng và giúp giáo viên hình thành được quá trình dạy học khi dạy giáo án
điện tử.
4
- Máy tính và bài giảng điện tử:
+ Sử dụng máy tính để xây dựng bài giảng điện tử .
Dùng máy tính để tham gia vào các thí nghiệm thực với tư cách là một thiết bị
đo, lưu trử, xử lý và hiện thị kết quả dưới nhiều dạng dữ liệu khác nhau như: Chữ viết,
Hình ảnh, âm thanh với khả năng đồ họa ưu việt của nó.
- Có thể sử dụng phần mềm powerpoint hoặc violet để
có thể đưa chư viết hình ảnh, âm thanh, đoạn video để
minh hoạ như sau:
- Nếu như trên màn hình không có biểu tượng
sounds -> Movie from file tìm địa chỉ lưu và chọn
Insert.
- Chọn hiệu ứng cho chữ, hình ảnh và các slide:
nháy chuột vào các đối tượng cần tạo hiệu ứng ->
Slide show -> custum animation…xuất hiện hộp
thoại có: Add effect nháy chuột vào và chọn:
Entrance và vào chọn hiệu ứng (chọn more effect
thì chọn nhiều kiểu hiệu ứng khác, còn vào
Emphasis thì chọn đổ màu cho đối tượng, vào
Motion path thì chọn cho đối tượng chuyển động
theo quỹ đạo cần chuyển động của đối tượng ).
Dùng máy tính để mô phỏng các TN trong TN vật lý.
Các TN vật lý (từ đơn giản đến phức tạp) về nguyên tắc đều có thể mô phỏng được
trên máy tính. Chính nhờ các TN mô phỏng mà HS quan sát và lắp ráp TN một cách
tường minh.
VD: TN mắc mạch điện nối tiếp và mạch điện song song. Đây là mạch điện được vẽ
từ phần mềm cá sấu Crocodilephysic 1.7 và một số thí nghiệm vật lý soạn bằng
powerpoint
6
Insert ->
Movies and
sounds ->
Sounds from
file.
Insert ->
Movies
and
sounds
->
Movie
để thiết kế bài giảng vật lý, biết được cách sử dụng các hiệu ứng của Powerpoint để
7
mô tả một số hiện tượng thí nghiệm tạo trò chơi học tập, kiểm tra, đánh giá bài giảng
vật lý.
+ Sử dụng Powerpoint giáo viên có thể kiểm tra nhiều dạng trắc nghiệm hay trò chơi
cho học sinh trong một tiết học.( Ví dụ: Bài tập trắc nghiệm đúng sai có âm thanh
lồng vào, Bài tập gỡ câu hỏi băng các mảnh ghép, Điền từ, cụm từ vào ô trống, trò
chơi ô chữ vv…)
+ Khai thác và sử dụng các hiệu ứng Powerpoint để mô tả các hiện tượng vật lý, thí
nghiệm vật lý và tạo trò chơi học tập trong bài giảng điện tử. Bằng cách soạn thảo bài
trình bày bằng các Slides có sẵn hay dựa vào các hiệu ứng để hoàn chỉnh bài trình bày
của giáo viên như:
Tạo hiệu ứng đồng thời cho các đối tượng.
Tạo hiệu ứng lựa chọn các đối tượng.
Tạo hiệu ứng lựa chọn cho các đối tượng theo thời gian định sẳn.
8
Lập trình tạo trò chơi ô chữ.
Sau khi soạn xong thì trình chiếu xem vào: biểu tượng ở góc màn hình.
Hoặc Nhấn chuột lên nút Slide Show ở góc phải, cuối màn hình:
hoặc
- Mở mục chọn Slide Show -> View Show
hoặc
9
Nháy chuột vào đây
Trình
chiếu
* Đặt câu hỏi cho học sinh để giúp họ lần lượt khám phá vấn đề (có hướng dẫn khi
cần).
10
* Viết nội dung bài học lên bảng .
* Kiểm soát và điều khiển học sinh tiến hành thí nghiệm vật lý của cả lớp và hoạt
động nhận thức của cả lớp.
Hoạt động của HS:
* Chú ý lắng nghe khi giáo viên thuyết trình, đặt câu hỏi hướng dẫn.
* Tích cực, chủ động, tự lực tham gia thực hành thí nghiệm và quá trình tìm kiếm tri
thức mới .
* Ghi chép bài vào vở .
+ Đó chính là sự chồng chập giữa 2 công nghệ trong quá trình tổ chức dạy và học. Là
giai đoạn chủ chốt của tiến trình dạy học mà hoạt động của giáo viên phải đảm bảo:
* Giáo viên chỉ là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn quá trình nhận thức của học
sinh.
* Đảm bảo linh hoạt tổ chức xử lý các tình huống nảy sinh.
* Phát huy đến mức cao nhất tính tích cực, tự lực chủ động sáng tạo của học sinh,
giáo viên không được làm thay bất kỳ một việc nào nếu học sinh có thể làm được.
Ngoài ra có thể vào Google của mạng Internet tìm kiếm nâng cao việc soạn giảng và
tìm các phần mềm vật lý khác để chèn vào thêm phần hấp dẫn cho bài giảng.
3 . Kết quả đạt được:
Qua nghiên cứu tìm hiểu về phương tiện kỷ thuật và ứng dụng CNTT tìm kiếm
thông tin trên Internet vào dạy học. Tôi đã vận dụng được một số biện pháp trên vào
quá trình dạy học môn vật lý, tôi thấy rằng nếu như trước đây bộ môn vật lý rất xa vời
và nhàm chán đối với học sinh, nhưng khi sử dụng CNTT vào dạy học thì kết quả học
tập của học sinh tiến bộ một cách rõ rệt. Giáo viên và học sinh sử dụng được thành
thạo máy vi tính đồng thời trao đổi thông tin với nhau qua Internet. Học sinh giải toán
ngay trên Internet.
Giáo viên giảm nhẹ được phần nào trong quá trình dạy học và học sinh làm việc
một cách tích cực hứng thú kết quả đạt được như sau:
năng về soạn giảng giáo án điện tử và các kĩ năng sư phạm.
- Khi tiếp xúc với thí nghiệm đã giúp học sinh có lòng say mê nghiên cứu tìm hiểu,
ham học hỏi, yêu thích môn học, từ đó giúp các em phát triển tư duy trí tuệ, óc sáng
tạo trong học tập.
- Qua thực tế thí nghiệm học sinh ghi nhớ kiến thức một cách sâu hơn, liên hệ và
giải quyết một số hiện tượng trong thực tế được dễ đàng và chính xác hơn.
- Thông qua Internet giáo viên và học sinh có thể trao đổi, giải đáp những thắc mắc
của bài học bằng các trang web và mail dễ dàng, thuận tiện.
2- Bài học kinh nghiệm.
- Đối với giáo viên:
12
+ Giáo viên chuẩn bị tốt các đồ dùng thí nghiệm và làm thí nghiệm trước khi đến
lớp, cần chú ý đến sự phát triển kiến thức, bồi dưỡng học sinh khá giỏi, năng khiếu
bộ môn, dự kiến những sai lầm của học sinh (nếu có) và cách khắc phục.
+ Qua thí nghiệm rèn luyện cho các em kĩ năng sử dụng các dụng cụ, lắp ráp thí
nghiệm thành thạo hơn.
+ Định hướng thiết kế hoặc thiết kế bài giảng điện tử một cách lôgic và thiết thực.
Không làm phân tán sự chú ý của học sinh và giàn trải kiến thức .
+ Bố trí thí nghiệm vật lý theo một quy trình nhất định, xác định được hệ thống việc
làm và cách thao tác của học sinh khi làm thí nghiệm các tình huống khác có thể xảy
ra trong quá trình dạy học.
+ Sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học với máy tính cần phải lưu ý và biết cách khắc
phục các trợ ngại kỷ thuật do hệ thống thiết bị gây nên. Giáo viên phải sử dụng một
cách có hiệu quả các phương tiện dạy và học, là người biết sáng tạo vận dụng những
khả năng mà phương tiện đã mang lại cho quá trình dạy học.
+ Có thể nói việc soạn dạy CNTT bằng PowerPoint theo lối này sử dụng được cho
nhiều bộ môn khoa học khác, chỉ tìm tư liệu đưa lên là khác nhau mà thôi.
- Đối với học sinh:
+ Rèn luyện cho học sinh thói quen làm việc tự lực.
+ Phát huy tính độc lập của học sinh trong học tập.