skkn kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý toàn diện trường thcs môn sơn - Pdf 25

Sáng kiến kinh nghiệm:
KINH NGHIỆM
VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TOÀN DIỆN TRƯỜNG THCS MÔN SƠNI/ ĐẶT VẤN ĐỀ :
Ngày nay, khi công nghệ thông tin (CNTT) càng phát triển thì việc phải
ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo
dục đào tạo, CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, một số
nơi đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn
hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở các trường học nước ta còn rất
hạn chế. Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng
dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực
CNTT mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu
quả cho công việc của mình,mục đích của mình.
Hơn nữa,đối với giáo dục và đào tạo, CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay
đổi nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới “xã hội
học tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát
triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Bộ giáo
dục và đào tạo cũng yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo
ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một
công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn”.
Thế giới bước vào kỷ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng
dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực: Sản xuất, thương mại, quốc phòng
Trong Giáo dục đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hoá phương tiện,
thiết bị dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học.( Thiết bị dạy học,
không chỉ còn là thước kẻ, compa, bảng phụ mà là máy tính, máy chiếu…)
1
Nhiều trường ảo, lớp học ảo đã xuất hiện trên thế giới và bắt đầu xuất hiện
ở nước ta, trong đó việc học diễn ra chủ yếu bằng giao tiếp qua mạng Internet

trường chỉ thấy mặt trái của CNTT , thấy một số hiện tượng tiêu cực của giới trẻ
trong xã hội là đổi lỗi cho CNTT.
Suy nghĩ rằng việc ứng dụng CNTT trong nhà trường là không thể, bởi với
đồng lương nhà giáo thì không biết lúc nào mua được máy tính , không biết khi
nào trường có máy chiếu và các cơ sở hạ tầng CNTT khác . Tại xã Môn Sơn là
xã biên giới , miền núi không bao giờ có có dịch vụ Internet tốc độ cao (Thời
điểm năm 2005 , 2006 Máy vi tính còn quá đắt so với thu nhập của CBGV).
Việc ứng dụng CNTT vào quản lý còn phụ thuộc nhiều vào “ý thích” của
cán bộ quản lý , của một số giáo viên, chưa có sự chỉ đạo mang tính pháp lý cùng
với sự hỗ trợ thích hợp về cơ sở vật chất, các phần cứng, phần mềm của các
cấp quản lý.
2 .VIỆC LÀM CŨ :
Trong những năm học trước tại Trường THCS Môn Sơn, nhất là từ năm
học 2006 trở về trước, khi việc ứng dụng CNTT vào quản lý nhà trường còn rất
ít, chủ yếu là dùng máy tính soạn thảo một số văn bản, in ấn tài liệu. Nhiều công
việc khác như tra cứu văn bản; soạn thảo kế hoạch hàng tuần, hàng tháng; thống
kê, tổng hợp báo cáo; xếp thời khóa biểu; tổ chức thi, kiểm tra; đánh giá, phân
loại học sinh; thông báo kết quả học tập của học sinh, phải làm thủ công nên mất
nhiều thời gian và nhân lực nhưng đôi khi kết quả vẫn có sự nhầm lẫn ngoài
mong muốn. Thậm chí không thể làm được việc theo dõi, đánh giá chất lượng
học sinh, chất lượng giảng dạy của giáo viên qua các bài kiểm tra cũng như việc
thực hiện qui chế của đơn vị.
Thực tế khi không ứng dụng CNTT vào quản lý tôi thấy ở trường THCS
Môn Sơn có những hạn chế như sau:
Việc tra cứu văn bản, nhất là các văn bản, các kế hoạch ban hành cách đây
đã lâu thì việc tìm các văn bản này trong tập hồ sơ lưu trữ là một vấn đề không
3
đơn giản, phải mất khá nhiều thời gian nếu cần ngay các văn bản này để giải
quyết công vụ thì không thể đáp ứng được.
Để phục vụ thống kê báo cáo phải huy động một lực lượng lớn CBGV,

chép kết quả học tập, rèn luyện của học sinh vào sổ liên lạc. Trong các lần sao
chép này cũng không ít giáo viên chủ nhiệm có sự nhầm lẫn nào đó. Trong các
đợt họp phụ huynh thì giáo viên chủ nhiệm chỉ có cách duy nhất là “thông báo
miệng” cho cha mẹ học sinh. Nhưng các cuộc họp phụ huynh thường chỉ tổ chức
1 buổi , rất nhiều nội dung nên không thể thông báo kết quả học tập cụ thể , chi
tiết được cho từng em.(như thông báo điểm thành phần các môn , có minh chứng
tại phần phụ lục phiếu báo kết quả học tập).
Công tác thống kê kế hoạch đầu năm học , thống kê chất lượng giữa kỳ,
cuối năm việc so sánh chất lượng học tập và giảng dạy giữa các lớp , giữa các
giáo viên , giữa các năm học không thể thực hiện được, việc đánh giá mang nặng
cảm tính, đánh giá chung chung nên khó có thể có các quyết định quản lý để điều
chỉnh mang tính kịp thời, thuyết phục.
Trên đây, tôi chỉ trình bày những hạn chế trực tiếp của việc làm cũ, tôi
không phân tích những hậu quả gián tiếp (có thể có) có thể tác động đến tâm lý,
tình cảm của hội đồng sư phạm, của phụ huynh học sinh, của các cấp quản lý và
dư luận xã hội.
III/NHẬN THỨC MỚI VÀ VIỆC LÀM MỚI
1. NHẬN THỨC MỚI:
-Việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và giảng dạy là yêu cầu tất
yếu , phù hợp với qui luật phát triển.(như phần đặt vấn đề tôi cũng đã nêu).
+ /Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giáo
dục đào tạo tất yếu phải nằm trong quỹ đạo này, công nghiệp hóa hiện đại hóa
trong giáo dục đào tạo vừa để cho ngành hòa nhịp với sự phát triển chung của
đất nước, vừa để cho ngành đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu
ngày càng cao của xã hội.
5
+/ Ngày nay cuộc vận động dân chủ hóa nhà trường, xã hội hóa giáo dục
đang được thực hiện trong toàn ngành giáo dục. Nhu cầu về thông tin, cập nhật
thông tin của giáo viên, học sinh, của phụ huynh học sinh, của các cấp quản lý
giáo dục và của toàn xã hội về kế hoạch, nội dung giảng dạy của nhà trường

Xây dựng hệ thống mạng nội bộ do CBGV nhà trường tự thiết đặt (Mạng
Lan) , thiết lập 01 máy chủ kết nối 32 máy tính trong toàn trường , tạo ổ đĩa
mạng cho các máy , các máy trong hệ thống mạng Lan có thể truyền dữ liệu
được cho nhau và chịu sự quản lý của máy chủ. Thiết lập 2 trang Web nội bộ :
Trang học Vi tính : ; Trang chuyển dữ liệu lên và tải dữ
liệu về máy tính cá nhân: - (Trường và ký túc cán bộ giáo
viên), Internet kết nối ADSL , WiLess (Kết nối mạng không dây) đặt tại văn
phòng nhà trường , ở bất kỳ vị trí nào trong khu vực nhà trường CBGV cũng có
thể truy cập Internet miễn phí. Tại lớp học khi thực hiện các tiết dạy có hỗ trợ
CNTT giáo viên có thể liên kết đến các trang Website để phục vụ tốt cho bài
giảng.
Ứng dụng các phần mềm chính trong quản lý và giảng dạy:
+/Quản lý:
Phần mềm quản lý nhà trường (SchoolAssist Pro ) trên Website.
Phần mềm xếp thời khoá biểu.(Kết hợp 2 phần mềm , phần mềm
của Công ty Hoàng Gia – Vinh - Nghệ An , và phần mềm của Công ty
Công nghệ nhà trường – Hà Nội)
Phần mềm thống kê phổ cập giáo dục 4.1 (thống kê cả 3 cấp học)
Phần mềm xét tốt nghiệp THCS.(các năm học trước sử dụng phần
mềm của công ty ASIA , năm học này dùng phần mềm của Công ty Hoàng
Gia sau đó chuyển đổi qua file dữ liệu phần mềm của công ty Hoàng Gia
qua phần mềm xét TNTHCS của CT ASIA vì qui định của Sở là vẫn dùng
phần mềm cũ *xtn -*DBF)
Phần mềm Quản lý cán bộ giáo viên.
7
Phần mềm phân công giám thị trong các kỳ thi , kiểm tra.
Phần mềm quản lý văn bản , quản lý thư viện
+/Giảng dạy:
Phần mềm Microsoft Office PowerPoint 2007 .
Phần mềm ViOLET v1.5 của Công ty Bạch Kim.

Xây dựng được 1 hệ thống Email nội bộ cho CBGV trên nền gmail của
Tập đoàn google thống nhất trong toàn trường , có tên miền là monsonedu.com
(Tên giáo viên+@+tên miền của trường): Ví dụ :Thầy Lang Văn Hà Tổng phụ
trách Đội (Cụ thể có phụ lục 04- trang 28 kèm theo)
III/ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
1. Tính thân thiện mà CNTT đã mang lại cho nhà trường.
Tính thân thiện thứ nhất : CNTT tạo môi trường làm việc khoa học , vui
vẻ , phấn khởi trong nhà trường (xử lý công việc nhanh , chính xác)
Tính thân thiện thứ hai: CNTT giúp cán bộ quản lý ,cán bộ giáo viên
(CBGV) trường THCS Môn Sơn giảm được sức ép về công việc. (Hỗ trợ giờ dạy
, Thống kê phổ cập , xếp TKB , hỗ trợ đánh giá xếp loại học sinh , xử lý các loại
báo cáo , tổ chức các kỳ thi , quản lý chất lượng , hỗ trợ tự học , học ngoại ngữ
vv…)
Tính thân thiện thứ ba: CNTT đem đến tính chính xác công bằng , minh
bạch tạo tâm lý yên tâm về kết quả học tập của học sinh và các kết quả khác về
nhiệm vụ giáo dục.
Tính thân thiện thứ tư : CNTT là cầu nối thường xuyên giữa nhà trường
và phụ huynh . Đặc biệt là kết quả học tập được công khai, minh bạch . Phụ
huynh yên tâm về kết quả học tập của học sinh . Giúp các cấp quản lý trong việc
theo dõi kết quả học tập của học sinh - Từ đó thúc đẩy công tác xã hội hoá giáo
dục – Nhà trường ngày càng trở thành niềm tin trí tuệ để phụ huynh gửi con em
đến trường học tập , tu dưỡng
Tính thân thiện thứ năm: CNTT mang đến cho giáo viên và học sinh sân
chơi trí tuệ , tăng tính tích cực khả năng tự học cho học sinh (Trong mỗi giờ
9
học ; câu lạc bộ văn học , học Tiếng Anh qua mạng Internet , giải toán trên mạng
Internet …)
Tính thân thiện thứ sáu: CNTT giúp CBGV , học sinh tự hào về trường
về quê hương (Như có trang website : www.monsonedu.com , các giờ dạy có hỗ
trợ CNTT ,hệ thống Email nội bộ , truyền thống quê hương , gương người tốt

Thứ hai : CNTT giúp người quản lý thấy được nhiều sự việc thông qua
việc phân tích , xử lý số liệu kết hợp cùng quan sát thực tiễn , nhờ vậy đánh giá
chính xác , công bằng các việc làm của giáo viên và học sinh từ đó thúc đẩy nhà
trường phát triển trong thế ổn định.
2. Hiệu quả cụ thể của việc ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy:
2.1 Tổ chức các giờ dạy có hỗ trợ CNTT. (Có bản phụ lục hiệu quả 02
môn Tiếng Anh và Vật lý kèm theo)
- CNTT giúp giáo viên thực hiện được các thí nghiệm ảo, mô phỏng đoạn
phim lịch sử mà giáo viên không thể thực hiện ở trên lớp.
- CNTT giúp giáo viên có thể thực hiện, chuẩn hoá các bài giảng mẫu đặc
biệt những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp.
- CNTT giúp giáo viên đem đến cho học sinh các bài tập trắc nghiệm, trò
chơi ô chữ giúp tiết học sôi nổi, học sinh học không bị thụ động mà chủ động,
hứng thú học tập. Học sinh trở thành chủ thể của quá trình học tập.
- CNTT giúp giáo viên chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều
lần , trong nhiều năm học.Các lần dạy sau chỉ bổ sung thêm và điều chỉnh.
Tôi xin nêu cụ thể ứng dụng CNTT vào 2 môn Tiếng Anh và Vật lí tại
trường THCS Môn Sơn.
2.1.1 : Môn Tiếng Anh: (Có phụ lục 05- trang 30 chứng minh hiệu quả
kèm theo)
Môn Tiếng Anh với đặc thù là một môn có lượng kiến thức khá rộng lớn
và đối với nhiều học sinh thì đây là một môn học khó, dễ gây nhàm chán. Thực
11
tế cho thấy không ít học sinh đã từ bỏ việc cố gắng tiếp thu môn học này với ý
nghĩ không thể tiếp thu được.
Vì vậy, đối với mỗi giáo viên Tiếng Anh thì điều trăn trở nhất là làm sao
kích thích được sự hứng thú, tính tích cực học tập của học sinh một cách tốt nhất.
Qua quá trình chỉ đạo chuyên môn chúng tôi đã nhận thấy việc sử dụng
các trò chơi ngôn ngữ, các hình ảnh trực quan, âm thanh và các phần mềm bổ trợ
khác thông qua CNTT hiện đại đã kích thích được sự hứng thú, say mê của học

tò mò, óc tưởng tượng giúp cho các em phát huy được tính tích cực học tập, các
em dễ hiểu được nội dung bài học.
Tuy nhiên, một số đơn vị bài học còn thiếu các tranh ảnh sinh động, và
một số tranh ảnh chưa thể hiện hết nội dung bài học. Do đó, ở một số bài dạy đòi
hỏi người giáo viên phải tìm tòi bổ sung kiến thức bằng hình ảnh minh họa.
Bên cạnh đó CNTT cũng giúp cho các giáo viên dạy Tiếng Anh thực hiện
nhiều chức năng hơn như: Đưa ngôn ngữ bản địa vào bài dạy giúp cho các em có
sự phát âm tốt hơn, tạo ra những âm thanh hay, những bản nhạc du dương trong
mỗi tiết học, làm phong phú các tiết dạy một cách hiệu quả.
Một số lợi ích mà CNTT đã giúp các giáo viên dạy Tiếng Anh thực hiện
được trong các bài dạy của mình qua việc sử dụng tranh ảnh phụ trợ và âm thanh
sinh động giúp cho bài dạy thêm phong phú hơn.
+ Sử dụng tranh ảnh, âm thanh trong giới thiệu ngữ liệu mới.
+ Sử dụng hình ảnh trực quan, âm thanh trong tiến trình bài dạy.
+ Sử dụng hình ảnh trực quan, âm thanh trong củng cố bài dạy.
Như vậy, việc sử dụng hình ảnh trực quan, âm thanh sinh động thông qua
UD CNTT đã góp phần cho giáo viên những lợi ích thiết thực, giúp cho học sinh
học tập tốt hơn, năng động hơn và góp phần khắc sâu kiến thức đã học dễ dàng
hơn.
2.1.2 : Môn Vật lí: (Có phụ lục 05- trang 30 chứng minh hiệu quả kèm
theo)
13
Tiết ôn tập : Trong các tiết ôn tập của vật lí thì lượng kiến thức vật lí được
đề cập rất lớn. Để có thể đưa một lượng lớn kiến thức đó lên bảng mà không có
sự ứng dụng của CNTT thì không thể thực hiện được. Ví dụ : Cần ôn tập các
kiến thức về thấu kính hội tụ và thấu kính phân kì thì giáo viên thiết lập bảng so
sánh và thực hiện các hiệu ứng trong Microsoft Office PowerPoint. Việc trình
chiếu trên lớp chỉ mất 5 phút. Ngoài ra, trong các tiết ôn tập thì các câu hỏi đưa
ra dưới dạng trắc nghiệm rất nhiều. Nếu các câu hỏi này viết lên bảng thì mất rất
nhiều thời gian. Trong khi nếu ta sử dụng phần mềm violet để thực hiện phần

loại hồ sơ , biểu mẫu , ghép nối dữ liệu qua ổ đĩa mạng nội bộ.Giáo viên làm
việc theo nhóm có hiệu quả.
- Giúp CBQL có cái nhìn tổng quát , làm tốt kế hoạch phát triển trường
lớp.
-Thống kê phổ cập bằng phần mềm máy tính (Cách làm cụ thể : Mỗi tổ
phổ cập bao gồm điều tra viên của trường THCS và Tiểu học , sau khi điều tra
xong 12 thôn bản nhập dữ liệu trên 12 máy tính cá nhân được cài phần mềm
thống kê phổ cập có bản quyền , nhập xong tổ trưởng điều tra , kiểm tra và gửi
file dữ liệu lên máy chủ .Tổ trưởng phổ cập nhà trường kiểm tra và tiến hành
ghép nối dữ liệu cho toàn trường. Sau đó tiến hành chia tách dữ liệu cho 3
trường Tiểu học trên địa bàn)
2.3 Xây dựng thời khóa biểu .(Có phụ lục 07- trang 33 xếp TKB 09
chứng minh kèm theo)
-Tiết kiệm thời gian (Thông báo thời khoá biểu mới lên Website của nhà
trường)
-Tổ chức lao động khoa học. Giải quyết được việc phân công giáo viên
dạy hai ca , dạy phụ đạo buổi chiều , dạy nhiều địa điểm …
-Đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của giáo viên và học sinh .
15
-Giúp cho công tác thống kê, phân công giảng dạy, dự giờ thuận lợi hơn
nhiều.
2.4 Tuyển sinh lớp 6. (Có phụ lục 08- trang 37 kèm theo)
-Hỗ trợ công tác tuyển sinh đầu cấp, xét kết quả, thống kê số liệu.
-In danh sách thông báo nhập học , vận động học sinh lớp 6 đến trường.
-Căn cứ kết quả lớp 5 tiểu học từ phần mềm quản lý chất lượng của Tiểu
học chung toàn tỉnh để căn cứ tuyển sinh phân lớp 6 THCS.
2.5 Quản lý chất lượng học sinh (Có phụ lục 09, 10 - trang 38,39 kèm
theo)
-Thống kê số liệu.
-CNTT giúp nhà quản lý biết được công tác chấm bài, vào điểm của giáo

-Đảm bảo việc ghép nối dữ liệu về Phòng , Sở. Chuyển đổi file dữ liệu
nhanh chóng qua các phần mềm.
-Đảm bảo việc in giấy chứng nhận tốt nghiệp ,phôi bằng đẹp , chính xác.
2.10 Công tác hành chính (Sử dụng phần mềm quản lý văn bản).
-Soạn thảo văn bản, lưu trữ văn bản nhanh chóng.
-Tra cứu văn bản, hỗ trợ quản lý.
-Quản lý tốt thư viện nhà trường (Thông qua phần mềm quản lý thư viện).
-Quản lý hồ sơ giáo viên. (Phần mềm quản lý CBGV).
IV/BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Thứ nhất : Nhận thức được tính thân thiện mà CNTT mang lại cho nhà
trường.
Thứ hai : Sự đam mê, ý thức tự học, chủ động thực hành kỹ thuật , khám
phá , chinh phục các phần mềm về giáo dục (Sức mạnh của máy tính là ở phần
mềm). Phải biết vượt qua những khó khăn bước đầu. không thể nóng vội, phải
kiên trì, tiến hành từng bước chắc chắn. Phải có lộ trình , kế hoạch cụ thể , không
phô trương hình thức.
Thứ ba :Biết trao đổi, tham gia các diễn đàn và khai thác thông tin qua
mạng.
17
Thứ tư : Bài học chỉ đạo việc áp dụng CNTT trong giảng dạy đối với
CBGV: CNTT mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học, nhưng trong một
mức độ nào đó thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn
toàn trong các bài giảng. Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ
không phải là toàn bộ chương trình.
Có thể kể ra đây một số trường hợp nên sử dụng CNTT( giáo án điện tử)
để hỗ trợ:
+ Khi dạy khái niệm, hiện tượng khoa học trừu tượng, trong đó học sinh
khó hình dung khái niệm khoa học, có thể dùng mô phỏng để thực hiện khái
niệm trên một cách trực quan hơn.
Chẳng hạn như nó có thể mô phỏng minh hoạ, nhiều quá trình hiện tượng

nhà trường theo quy định mới về thi đua khen thưởng. Nhà quản lý phải thường
xuyên, kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở các tổ , ban , CBGV trong việc ứng dụng
CNTT.
Thứ sáu :Thấy được những hạn chế của CNTT và chỉ xem CNTT là công
cụ , phương tiện để quản lý và hỗ trợ giảng dạy. Trong giảng dạy có những hạn
chế :
+Soạn, chuẩn bị một tiết dạy mất rất nhiều thời gian, đòi hỏi có đầy đủ các
thiết bị công nghệ cần thiết. Có nghĩa là phải đồng bộ.
+ Phải đảm bảo có “ điện” thì tiết dạy mới có thể ứng dụng được CNTT,
trong khi đó hiện tượng mất điện không báo trước thường diễn ra phổ biến.
+ Chưa có chuẩn về ứng dụng các phần mềm trong quản lý , chuẩn thời
lượng ứng dụng CNTT vào 1 tiết học, môn học nên việc ứng dụng của giáo viên
mang tính tự phát tuỳ theo ý tưởng do đó việc ghi chép của học sinh còn lúng
túng. CBQL phải tự tìm tòi , mua các phần mềm , phải qua thực tiễn mới biết
được phần mềm tốt hay chưa tốt.
V/KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Khi ứng dụng CNTT vào trong quản lý toàn diện nhà trường, với số tiền
đầu tư không lớn nhưng tôi nhận thấy kết quả đã đem lại rất lớn như sau:
19
Tiết kiệm được thời gian, sức lao động và kể cả tiền bạc cho nhà trường và
mọi thành viên trong nhà trường từ nhân viên văn phòng, giáo viên bộ môn, giáo
viên chủ nhiệm đến lãnh đạo , quản lý nhà trường.
Chấm dứt được tình trạng cộng điểm sai, đánh giá xếp loại sai của các
giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm.
Góp phần vào tổ chức quản lý nhà trường khoa học hơn, đơn giản hóa
những công việc phức tạp, người quản lý có quỹ thời gian đầu tư vào những vấn
đề trọng tâm cần giải quyết.
Hạn chế được “bệnh hành chính”, “bệnh báo cáo” nhưng vẫn có số liệu
nhanh chóng, kịp thời, chính xác mà nếu làm thủ công thì không có được.
Qua việc sử dụng các phần mềm, đã thúc đẩy các giáo viên tự bồi dưỡng

Người thực hiện
Nguyễn Nam Giang
TM/ HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
PHÓ CHỦ TỊCH
TM/ HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NGÀNH GD&ĐT CON CUÔNG
CHỦ TỊCH
21
22
KINH NGHIỆM
VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN
LÝ TOÀN DIỆN TRƯỜNG THCS MÔN SƠN

PHẦN PHỤ LỤC

(Phần phụ lục chỉ nêu một số số liệu , hình ảnh minh hoạ , chứng minh cho
Sáng kiến kinh nghiệm, một số hình ảnh cũng được minh hoạ thêm tại File
Microsoft Office PowerPoint trên đĩa CD nạp kèm bản sángkiến này )
TT
Số phụ lục Trang
1
Phụ lục 01 23
2
Phụ lục 02 25
3
Phụ lục 03 27
4
Phụ lục 04 28
5
Phụ lục 05 30
6

ADSL
3 Nguyễn Trọng Minh INTEL Celeron C430 Canon 2900
ADSL
4 Lộc Huy Du Intel Pentium IV 640 Canon 2900
ADSL
5 Phan Đình Thành Intel Pentium IV 640 Canon 2900
ADSL
6 Hoàng Ngọc Lợi
XT Lennovo -Intel
DualCore IV925 Canon 2900
ADSL
7 Hoàng Trọng Đàn Intel DualCore IV925 Canon 2900
ADSL
8 Vy Thị Tâm Intel DualCore IV775 Canon 3000
ADSL
9 Ngân Thế Thanh Intel DualCore IV925 Canon 3000
ADSL
10 Lê Văn Thông Intel DualCore IV925 Canon 3000
ADSL
11 Đinh Văn Thân XT Lennovo Canon 3000
ADSL
12 Nguyễn Thị Mỹ Nhung XT Lennovo Canon 3000
ADSL
13 Lê Quang Hoà Intel DualCore IV925 HP1200
ADSL
14 Nguyễn Công Sơn Intel DualCore IV640 HP1200
ADSL
15 Võ Đức Trọng Intel DualCore IV640 Canon 3000
ADSL
16 Trần Thị Nghĩa Intel DualCore IV640 Canon 3000

Kết nối
Internet
27
Nguyễn Thị Châu Duyên
Intel DualCore IV925 Canon 3000
ADSL
28 Nguyễn Đình Tài Intel DualCore IV925 Canon 3000
ADSL
29 Nguyễn Văn Hải Intel DualCore IV775 Canon 2900
ADSL
30 Ngân Thị Xuân Intel DualCore IV775 Canon 3000
ADSL
31 Hà Thị Tú Intel DualCore IV925 Canon 3000
ADSL
32 Ngân Thị Hương Intel DualCore IV925 Canon 3000
chưa

24
Phụ lục 02:
QUI ĐỊNH SỐ MÁY VÀ GIAO THỨC CHỈ SỐ IP TĨNH CỦA CÁC MÁY
TRONG HỆ THỐNG MẠNG NỘI BỘ CỦA NHÀ TRƯỜNG.

TT Máy tính Đặt tên máy Qui định đặt
IP tĩnh
1 Máy chủ Server – Cài Win Server
2003(Đặt tại phòng Hiệu Trưởng)
so1maychu 192.168.1.1
2 Máy xách tay Thầy Giang - Hiệu
trưởng
so2hieutruong 192.168.1.10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status