các quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại. - Pdf 25

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế của ta là nên kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng nghĩa với điều đó là hoạt động thương
mại ngày càng phát triển rõ rệt, với lượng giao dịch thông qua hợp đồng thương
mại trở nên phổ biến. Bên những hợp đồng thương mại đạt được mục đích của hai
bên và có một giao dịch thành công đẹm lại lợi nhuận cho các bên, thì còn những
sự cố ngoài khả năng phán đoán gây thiệt hại tới cả hai bên. Vì vậy trong một số
điều kiện nhất định do luật thương mại quy định tại khoản 3 điều 294 năm 2005,về
các trường hơp được miễn trách nhiệm. Để có cái nhìn khái quát hơn sau đây sẽ là
bài phân tích và bình luận các quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối
với hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại.
B. NỘI DUNG
I.Khái quát về chế tài do vi phạm hợp động thương mại và miễn trách nhiệm
đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại.
1. Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Trong Luật thương mại Việt Nam không có khái niệm Hợp đồng thương
mại, nhưng có thể hiểu Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi
thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (ít nhất một trong các bên
phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay
đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động
thương mại.
Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo LTM 2005, cụ thể tại
Điều 1 LTM 2005, theo đó bao gồm : hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ
nước CHXHCN Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Việt
Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc Luật nước
ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt động không nhằm mục
đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ
Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi
đó áp dụng luật này.
Vậy chế tài trong thương mại là gì? Chế tài trong thương mại được hiểu hai
cách, theo nghĩa rộng, có thể hiểu là hình thức chế tài áp dụng đối với các cá nhân,

có hành vi vi phạm hợp đồng.Nếu không chứng minh được, bên vi phạm coi như là
có lỗi và phải chịu các chế tài do pháp luật quy định. Ngoài ra, khi xảy ra trường
hợp được miễn trách nhiệm hợp đồng, bên vi phạm hợp đồng còn phải thông báo
ngay (bằng văn bản) cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và hậu quả
có thể xảy ra. Nếu bên vi phạm không thông báo hoặc không thông báo kịp thời
cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.
II.Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng
thương mại.
1. Trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận
Theo nguyên tắc chung, các điều kiện của hợp đồng do các bên rự thỏa thuận,
nếu không trái pháp luật thì đều có giá trị pháp lý. Trong thực tiễn hoạt động
thương mại, trong nhiều trường hợp hợp vì nhiều lý do khác nhau các bên thường
đưa vào hợp đồng thỏa thuận nhằm hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm. Theo quy
định tại điểm a Điều 294 Luật thương mại năm 2005, các bên sẽ không phải chịu
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại nếu có sự thỏa thuận của các bên về
trường hợp đó được miễn trách nhiệm. Cơ sở của việc thừa nhận căn cứ này là
quyền tự do hợp đồng giữa các bên.
Trong vấn đề này pháp luật Đức quy định khác pháp luật Việt Nam :“ Điều 276
luật dân sự quy định, bên vi phạm không được miễn trừ trách nhiệm trong tương
lai do cố ý vi phạm hợp đồng.Ví dụ như trong hợp đồng mua bán hàng hóa thỏa
thuận miễn trừ trách nhiệm đối với khuyết tật của hàng hóa sẽ không có hiệu lực
pháp lý nếu nười bán đã biết hàng hóa có khuyết tật nhưng cố tình im lặng, không
thông báo cho người mua biết”.
Như vậy pháp luật của Đức quy định về thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng hướng tới mục đích bảo vệ quyền lợi của người têu dùng. Từ đó,
có thể thấy, nếu theo quy định của Đều 294 Luật thương mại năm 2005 chỉ đơn
giản là công nhận trường hợp miễn trừ trách nhiệm hợp đồng đã được các bên thỏa
thuận trước thì có thể gây ra sự bất bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng
thương mại.Trong thực tế sẽ có nhiều trường hợp một trong các bên lợi dụng sự
tồn tại của điều khoản miễn trừ trách nhiệm để vi phạm hợp đồng mà không phải

Quách Thúy Quỳnh trong luận văn tiến sỹ về vấn đề: “Pháp luật về bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh – thực trạng và phương hướng hoàn thiện”
cho rằng : coi đây là căn cứ miến trách nhiệm là “chưa phù hợp với thông lệ quốc tế
và thực tiễn doanh thương”. Do xét về bản chất căn cứ miễn trách nhiệm này không
hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc chịu trách nhiệm tài sản trực tiếp giữa các bên trong
quna hệ hợp đồng. Các bên tham gia quan hệ phải tự mình gánh chịu các nghĩa vụ
cũng như lợi ích về mặt tài sản phát sinh từ qun hệ đó. Nếu bên thứ ba được miễn
trách nhiệm trước bên có hành vi vi phạm thì đó là vấn đề nằm trong khuôn khổ hợp
đồng của hai bến đó và họ phải tự giải quyết. Hợp đồng đó được xác lập vì lợi ích của
họ nên đương nhiên trách nhiệm cũng do họ gánh chịu, không thể yêu cầu bên có
quyền lợi bị vi phạm chịu hoặc chia sẻ gánh nặng đó.
3. Trường hợp hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia
Điều 294 mới dự liệu miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng khi “Hành
vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” mà chưa tính đến khả năng
hành vi vi phạm của một bên có nguyên nhân xuất phát từ bên thứ ba, mà bên này
rơi vào các trường hợp mà pháp luật quy định được miễn trách nhiệm.
Các bên có thể thoả thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng của
họ. Nhưng trong trường hợp không được thoả thuận, đương nhiên bên vi phạm sẽ
không được miễn trách nhiệm nếu do lỗi của bên thứ ba, mặc dù bên này rơi vào
các trường hợp miễn trách nhiệm. Về vấn đề này, có vẻ như Luật thương mại 2005
cứng nhắc hơn so với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, một văn bản pháp
luật điều chỉnh hợp đồng kinh tế trong không gian và thời gian của cơ chế kinh tế
kế hoạch hoá tập trung. Tại Điều 40 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: “Bên vi
phạm hợp đồng kinh tế được xét giảm hoặc miễn hoàn toàn trách nhiệm tài sản
trong các trường hợp sau đây: 1) Gặp thiên tai, địch hoạ và các trở lực khách
quan khác không thể lường trước được và đã thi hành mọi biện pháp cần thiết để
khắc phục ; 2) Phải thi hành lệnh khẩn cấp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật; 3) Do bên thứ ba vi phạm hợp đồng kinh tế với bên vi
phạm nhưng bên thứ ba không phải chịu trách nhiệm tài sản trong các trường hợp
quy định tại điểm 1 và điểm 2 của điều này

“không thể biết” để từ đó được miễn trách nhiệm đối với trường hợp này cũng còn
quá chung chung. Việc biết sự tồn tại của quyết định của cơ quan nhà nước có buộc
phải theo một “kênh chính thống” hay có thể biết bằng nhiều cách khác nhau? Cơ
quan quản lý nhà nước có phải thông báo bằng văn bản hay chỉ cần thông báo bằng
miệng về quyết định đó thì thương nhân mới “biết”, hay nếu bên bị vi phạm chỉ cần
chứng minh các bên biết sự tồn tại của quyết định đó, bất kể “biết” theo kiểu gì,
“biết” bằng cách nào cũng đều là chứng cứ để bên vi phạm phải gánh chịu trách
nhiệm?
Căn cứ miến trách nhiệm này cần được hiểu như một trường hợp bất khả kháng
và là rủi ro trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó, các cơ quan quản lý nhà
nước cần cân nhắc rất cẩn thận trước khi ra quyết định, cần thấy được hậu quả và
những thiệt hại có thể xảy ra.
III. Một số ý kiến hoàn thiện quy định về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng thương mại.
1. Quy định cụ thể về các điều kiện để xác định một sự kiện là căn cứ trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng
Những điều kiện cần và đủ để một sự kiện được coi là căn cứ miễn trách niệm do vi
phạm hợp đồng thương mại bao gồm:
- Sự kiện này phải xảy ra sau khi các bên dã ký kết hợp đồng;
- Ở thời điểm ký kết hợp đồng các bên không biết và không thể biế sự kiện đó sẽ xảy
ra;
- Sự kiện đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc vi phạm hợp đồng;
- Khi các sự kiện này xảy ra, các bên đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả
năng nhưng không thể khắc phục được
Việc ghi nhận các điều kiện này vừa đảm bảo nguyên lý về mối quan hệ nhân quả và
nguyên tắc xác định lỗi,vừa tạo điều kiện cho các cơ quan tài phán vận dụng một
cách linh hoạt khi đánh giá các sự kiện là căn cứ miễn trách nhiệm hợp đồng.
2. Bổ sung quy định điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm
hợp đồng giữa các bên
Việc áp dụng căn cứ này phải có những điều kiện nhất định để vừa đảm bảo tôn trọng

gây thiệt hại cho quyền lợi chính đáng của bên vi phạm.
4. Quy định cụ thể về trường hợp thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền là căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Cấn có quy định hướng dấn cụ thể cơ quan quản lý nhà nước trong trường hợp này ra
quyết định nhằm mục đích gì, những điều kiện cụ thể để một quyết định có thể trở
thành căn cứ miễn trác nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng. Nếu việc thực hiện quyết
định của cơ quan nhà nước mang lại lợi ích cho bên vi phạm hợp đồng. Nếu việc thực
hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước mang lại lợi ích cho bên vi phạm và
gây thiệt hại cho bên bị vi phạm thi cần có cơ chế phù hợp đảm bảo lợi ích cho cả hai
bên.
C- KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giaó trình Luật thương mại tập 2 – trường ĐH Luật Hà Nội,
nxb CAND, HN – 2012;
2. Luật thương mại năm 2005
3. Bộ luật dân sự năm 2005
4. Hoàng Thị Hà Phương, Chế tài do vi phạm hợp đồng thương
mại – những vấn đề lý luận và thực tiễn – luận văn thạc sĩ luật
học, Hà Nội – 2012
5. Nguyễn Thị Thu Huyền, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, luận văn thạc sĩ
luật học. HN – 2013
6. Bài viết: “miễn trách nhiệm trong vi phạm hợp đồng thương
mại” trên trang web />vi-pham-hop-dong-thuong-mai
7. Bài viết “một vài suy nghĩ về định hướng sửa đổi luật thương
mại2005” trên trang web :
/>ve-dinh-huong-sua-doi-luat-thuong-mai-2005-211.html


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status