skkn nghiên cứu phương pháp dạy học tiếp cân hệ thống trong chương trình sinh học lớp 9 thcs bắc giang - Pdf 25

Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo Nghị
quyết 40/2000/QH10 mà trọng tâm là đổi mới PPDH với yêu cầu “Phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự
học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn ” đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ để đáp ứng sự đổi mới.
Tuy nhiên, còn một bộ phận giáo viên năng lực chuyên môn còn hạn
chế, chưa phát huy được tính sáng tạo của học sinh để giải quyết các vấn đề tiếp
thu được trong tài liệu sách giáo khoa và thực tiễn cuộc sống nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học. Giáo viên vẫn quen dạy theo phương pháp phân tích cấu
trúc chứ chưa chú trọng đến phương pháp tổng hợp hệ thống dẫn đến tình trạng
phần lớn học sinh thấy được “cây” mà không thấy “rừng”, học sinh được học
“Tế bào học” chứ không phải là “Sinh học tế bào ”…, chỉ thấy được trạng thái
tĩnh mà không thấy được trạng thái động của hệ sống.
Quan điểm hệ thống đã được quán triệt trong xây dựng chương trình và
sách giáo khoa trung học cơ sở từ năm 2002. Tuy nhiên, nhiều giáo viên còn
lúng túng trong vấn đề nhận thức logic của các hệ thống sống từ cấp độ Tế bào
 Cơ thể  Quần thể – loài  Quần xã  Hệ sinh thái - sinh quyển. Một bộ
phận giáo viên chưa thấm nhuần quan điểm hệ thống trong dạy học, chưa thấy
rõ tính hệ thống và đặc điểm chung của các hệ thống sống trong chương trình
sinh học THCS từ lớp 6  9. Đặc biệt, phần sinh học lớp 9 theo chương trình
mới có nhiều đổi mới cả về cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức. Vì vậy
nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc thiết kế bài giảng và tổ chức hoạt động
học tập ở học sinh.
Việc thiết kế và dạy học theo quan điểm hệ thống sẽ giúp giáo viên khắc
phục được các nhược điểm nêu trên, giúp học sinh rèn luyện và phát triển tư
duy hệ thống. Tuy nhiên, việc định hướng, thiết kế và dạy học phần di truyền

chung và của chương trình sinh học lớp 9 nói riêng.
- Đối tượng thực nghiệm: 50 giáo viên dạy sinh học bậc THCS của 2 huyện
Yên Dũng và Lạng Giang; 410 học sinh khối 9 các trường THCS TT Cao Thượng,
THCS Đại Hóa huyện Tân Yên; THCS Hồng Giang , THCS Phong Minh, THCS
Giáp Sơn huyện Lục Ngạn.
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 3

V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu lí thuyết về hệ thống, các giáo trình lí luận dạy học, sách
giáo khoa và các tài liệu có liên quan đến đề tài.
5.2. Tiến hành điều tra và thực nghiệm sư phạm ở một số trường THCS
thuộc các địa phương, các đối tượng khác nhau, cụ thể:
- Điều tra hiểu biết của giáo viên về các hình thức kiểm tra, đánh giá chất
lượng học sinh; các hoạt động được các thày cô thực hiện nhằm nâng cao kết
quả học tập ở học sinh; sự hiểu hiểu biết về các phương pháp dạy học và tần
suất sử dụng, đặc biệt là sự hiểu biết về quan điểm hệ thống và vận dụng quan
điểm hệ thống trong dạy học sinh học bằng phiếu điều tra với các câu hỏi trắc
nghiệm và các câu hỏi mở (xem phiếu điều tra phần phụ lục). Kết quả điều tra
được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1. Các phương pháp dạy học và mức độ áp dụng của GV
Tấn suất sử dụng
Hình thức
Tổng
số GV
Không Đôi khi Luôn luôn

Tỉ lệ %
Thuyết trình
Dạy học nêu vấn đề
Làm việc nhóm

tra được soạn theo hướng đổi mới KTĐG hiện nay. Kết quả điều tra được thể
hiện ở bảng sau:
Bảng 1.3. Kết quả điểm của bài kiểm tra học sinh trước thực nghiệm
Số học sinh đạt điểm (%) Loại bài
kiểm tra
Số lượng
học sinh
tham gia
< 3,5 ≥ 3,5 - <5 ≥5 - <6,5 ≥ 6,5 - <8

≥ 8
15 phút
45 phút

- Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học, phân tích số liệu để
đánh giá các kết quả thu được nhằm:
+ Đánh giá mức độ cần thiết của việc xây dựng đề tài.
+ Kiểm tra, đánh giá hiệu quả của việc vận dụng quan điểm hệ thống vào
dạy phần di truyền học, sinh thái học thuộc chương trình sinh học lớp 9.
5.3. Viết tài liệu theo các chuyên đề nghiên cứu, thiết kế các giao án mẫu
cho từng chuyên đề.
5.4. Tổ chức tập huấn cho các giáo viên tại các điểm làm thực nghiệm; đưa
tài liệu vào trong nghiên cứu và giảng dạy ở học kỳ I năm học 2012-2013.
5.5. Tổ chức Hội thảo, đánh giá kết quả của đề tài.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được thực trạng nhận thức quan điểm hệ thống của GV, khả
năng vận dụng quan điểm hệ thống trong dạy học sinh học.
- Đề xuất được cơ sở lý luận và ứng dụng thực tiễn của việc phân tích nội
dung sinh học trong chương trình sinh học lớp 9, THCS.
- Xây dựng tài liệu tham khảo, bồi dưỡng cho giáo viên và học sinh

biện chứng giữa vật chất và tinh thần: vật chất có trước tinh thần, tinh thần tác
động trở lại vật chất
- Các sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau,
luôn có sự tác động qua lại và chi phối lẫn nhau. Sự tác động giữa các sự vật
bao giờ cũng mang tính đối ngẫu, tính nhân quả.
- Các sự vật luôn vận động, không ngừng biến đổi cũng như môi trường
xung quanh nó.
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 6

- Động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của các hệ thống nằm bên
trong hệ thống, do phần điều khiển của sự vật quyết định.
Để vận dụng một cách có hiệu quả “lý thuyết hệ thống” trong các lĩnh
vực hoạt động của cuộc sống, cần hiểu rõ khái niệm hệ thống và những khái
niệm, vấn đề liên quan để từ đó có những cách tiếp cận hợp lý. Tuy nhiên trong
giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ giới thiệu một số khái niệm cơ bản nhất liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
1.1.1. Hệ thống
“Hệ thống” là khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết hệ thống, nó được hình
thành và phát triển trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử triết học.
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm hệ thống.
Theo L.V. Bertalanffy, hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng
sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó [2].
Theo Miller: Hệ thống là tập hợp các yếu tố cùng với những mối quan hệ
tương tác giữa chúng với nhau [6].
Theo Hoàng Tụy, hệ thống tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ
phận) quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách
phức tạp [8].
Theo Đào Thế Tuấn, hệ thống là các tập hợp có trật tự bên trong (hay
bên ngoài) của các yếu tố có liên hệ với nhau (hay tác động lẫn nhau) [7].
Theo Trần Đình Long, hệ thống là một tập hợp có tổ chức các phần tử

hệ thống. Nhưng cơ cấu của hệ thống luôn luôn biến đổi, tạo ra “động năng” của
hệ thống, bắt đầu từ sự thay đổi của các quan hệ giữa các phần tử, các bộ phận,
các phân hệ trong khuôn khổ của cơ cấu cũ; đến một mức độ nào đó sẽ làm cho
cơ cấu thay đổi, nó chuyển sang một trạng thái khác về chất hoặc trở thành một
cơ cấu khác.
Sự kết hợp giữa tính ổn định tương đối và tính cân bằng động trong hệ
thống đã đảm bảo cho hệ thống không ngừng vận động phát triển theo xu thế tối
ưu hoá, hợp lý hoá các mối quan hệ trong một tổng thể chung.
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 8

- Tính đa dạng: Một hệ thống thực tế có rất nhiều cơ cấu khác nhau, tuỳ
theo từng dấu hiệu quan sát, đó là sự chồng chất cơ cấu của hệ thống.
1.2. Quan điểm hệ thống và tư duy hệ thống
1.2.1. Quan điểm hệ thống
Trong tự nhiên vật chất hay các sự vật hiện tượng tự nhiên hay, xã hội
bao giờ cũng nằm trong một hệ thống nhất định. Quan điểm hệ thống đặt mọi sự
vật hiện tượng trong hệ thống ở trạng thái không ngừng vận động theo những
quy luật vốn có của nó.
Quan điểm hệ thống dựa trên một hệ thống các nguyên tắc. Sau đây là
những nguyên tắc cơ bản nhất:
- Mỗi hệ thống là một tập hợp các yếu tố, giữa chúng có sự liên hệ, tác
động qua lại lẫn nhau và với môi trường bên ngoài, tạo nên tính chỉnh thể của
hệ thống, đó là những thuộc tính tổng hợp, đặc trưng cho hệ thống, là phương
thức tồn tại của hệ thống.
- Trong mỗi hệ thống, cái toàn thể bao giờ cũng lớn hơn tổng số giản đơn
những bộ phận cấu thành, nghĩa là cái toàn thể với tư cách là một hệ thống có
những thuộc tính mới, chất lượng mới, chất lượng tổng hợp mà vốn không chứa
đựng trong các bộ phận cấu thành. Thuộc tính mới gọi là tính toàn thể, thuộc
tính hợp trội có chất lượng cao (emergence) không có ở các thành phần. Nó xuất
hiện do tương tác của các thành phần chứ không phải là do hoạt động của các

- Tìm cái giống nhau trong những cái khác nhau là khoa học hướng tới
cái phổ biến, có tính quy luật. Tìm cái khác nhau trong những cái giống nhau là
để hướng tới cái đặc biệt, cái mới ngoài quy luật.
1.2.2. Tư duy hệ thống
Tư duy hệ thống là quan điểm nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện,
động, chú ý vào quan hệ hơn là sự việc, chú ý vào các quá trình hơn là vào hiện
trạng, chú ý vào sự phức tạp của tổng thể hơn là vào sự phức tạp chi tiết.
Do sự tiến hóa mà các hệ thống ngày càng trở nên phức tạp, với một
lượng thông tin ngày càng lớn hơn làm cho các nhà phân tích bị cuốn vào chi
tiết mà không phát hiện ra các mối quan hệ cơ bản và chủ chốt. Tư duy hệ thống
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 10

phải làm sao để quy cái phức tạp thành cái đơn giản hơn nhưng cốt lõi hơn, đơn
giản hóa những cái phức tạp.
Đặc điểm chủ yếu của tư duy hệ thống là ở cách nhìn toàn thể và do cách
nhìn toàn thể mà thấy được những thuộc tính hợp trội của hệ thống. Hợp trội là
sản phẩm của tương tác, qua tương tác mà có cộng hưởng tạo nên những giá trị
cao hơn tổng gộp đơn giản các giá trị thành phần. Để tạo nên những thuộc tính
hợp trội có chất lượng cao của hệ thống, thì phải can thiệp vào quan hệ tương
tác, chứ không phải vào hành động của các thành phần.
Tính mở là thuộc tính cốt lõi của tư duy hệ thống. Các hệ thống trong
tự nhiên là các hệ mở, nghĩa là có tương tác với môi trường. Để hiểu được
một hệ thống đang phát triển, điều hết sức quan trọng là phải hiểu được các
mối tương tác với môi trường trong trạng thái động và luôn nhớ rằng trong
môi trường có những yếu tố ta điều khiển được, nhưng có rất nhiều yếu tố ta
không điều khiển được.
1.3. Vận dụng quan điểm hệ thống trong dạy học sinh học
Quán triệt quan điểm hệ thống trong nghiên cứu và dạy học sinh học
chính là sử dụng phương pháp tiếp cận cấu trúc - hệ thống.
1.3.1. Phương pháp tiếp cận cấu trúc - hệ thống

trong hay bên ngoài. Tiếp cận phân tích tạo điều kiện cho tổng hợp hệ thống vì
nếu không đi sâu vào nghiên cứu các bộ phận của chỉnh thể thì sẽ khó lòng mô
tả chính xác bức tranh toàn cảnh của chỉnh thể.
Tiếp cận cấu trúc hệ thống là một phương pháp của triết học duy vật biện
chứng, có thể vận dụng vào mọi lĩnh vực nhận thức và thực tiễn. Quan niệm cấu
trúc hệ thống chính là phép suy rộng quan niệm biện chứng về mối quan hệ giữa
bộ phận và toàn thể. Các khái niệm cấu trúc hệ thống ra đời là hệ qủa của
phương pháp tổng hợp đi từ cái bộ phận đến cái toàn thể theo sơ đồ sau:
Phân tích cấu trúc
Toàn thể
(hệ thống)
Bộ phận
(phần tử)
Tổng hợp hệ thống
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 12

Phương pháp cấu trúc hệ thống ra đời đã khắc phục sự tách biệt giữa cấu
trúc và chức năng, vì muốn hiểu được chức năng phải hiểu được sự tương tác
giữa các bộ phận cấu trúc, trong sự tương tác đó mỗi bộ phận cấu trúc sẽ tự bộc
lộ chức năng của nó. Nhờ mối tương tác này mà hệ thống có những thuộc tính
mới, những chất lượng mới vốn không có ở các bộ phận riêng lẻ, chưa từng có
trước đó và không phải là số cộng các tính chất của các bộ phận. Đó là những
chất lượng mới mang tính toàn vẹn hay tính tích hợp của hệ thống. Toàn hệ
thống là một chỉnh thể có khả năng tự điều chỉnh, tự vận động và phát triển.
Như vậy, tiếp cận hệ thống là cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ
thống, thứ bậc và động lực của chúng; đó là một tiếp cận toàn diện và động.
1.3.2. Tiếp cận cấu trúc - hệ thống trong nghiên cứu sinh học
Tính hệ thống của sinh giới
Theo quan điểm hệ thống và dựa vào kết quả nghiên cứu của nhiều lĩnh
vực khoa học có thể xác định tính hệ thống của sinh giới được thể hiện một cách

cấp độ nhỏ hơn (dưới cơ thể) và nghiên cứu ở cấp độ lớn hơn (trên cơ thể). Các
nhà khoa học đều thống nhất giới hữu cơ có ba cấp độ chính, đó là: hệ nhỏ, hệ
trung và hệ lớn. Sau đó, các tác giả khi nghiên cứu sự sống đã chia thành các cấp độ tổ
chức khác nhau. K.M.Zavatxki (1961) chia hệ sống thành 5 cấp độ: Cơ thể 
quần thể  quần xã  khu hệ  sinh quyển. H.N.Lavorenco (1961), đề nghị
ghép cấp thứ tư và cấp thứ 5 (khu hệ và sinh quyển) thành đệm sinh vật.
E.P.Ođum chia hệ sống thành 6 cấp độ tổ chức: gen  tế bào  cơ quan  cơ
thể  quần thể  hệ sinh thái. Quần xã được tác giả xem như là một thành
phần của hệ sinh thái. A.V.Iablocov và A.G.Iusufov (1989) phân biệt 4 cấp độ:
phân tử – di truyền  cá thể  quần thể  sinh địa quần lạc. Hiroyuki Kurata
Hệ lớn : Quần thể, loài, quần xã, sinh quyển
Hệ trung : Mô, cơ quan, hệ cơ quan, cơ thể.
CẤP ĐỘ TỔ CHỨC SỰ SỐNG
Hệ nhỏ : Phân tử, tế bào
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 14

(1999) sắp xếp thành một số cấp độ như sau: Tế bào  mô  cơ quan  hệ cơ
quan  cơ thể. Các tác giả cho rằng, việc phân chia thành các cấp độ tổ chức
sống chỉ là để thuận lợi cho việc nghiên cứu. Vấn đề cơ bản là mỗi cấp độ tổ
chức sống có cấu trúc cơ sở và hoạt động đặc trưng của nó.
Ngày nay, người ta chia hệ sống thành 5 cấp độ tổ chức sống chính: Tế
bào  cơ thể  quần thể - loài  quần xã  hệ sinh thái - sinh quyển.
Dù ở cấp độ nào, hệ thống sống cũng có những đặc tính cơ bản sau đây:
- Có tính tổ chức cao.

10), các cấp độ tiếp theo được nghiên cứu ở phần lớp 11 và 12. Cấu trúc chương
trình như thế này giúp cho thấy được tính hệ thống và tiến hóa của sinh giới (từ
nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao), phù hợp với các mức độ nhận thức của học sinh.
1.3.4. Tiếp cận cấu trúc hệ thống trong dạy học sinh học
Trong dạy học sinh học, quan điểm tiếp cận cấu trúc hệ thống được vận
dụng trong những hoạt động cơ bản sau:
1.3.4.1. Tiếp cận cấu trúc hệ thống trong phân tích cấu trúc chương trình
và nội dung sách giáo khoa
Việc xây dựng chương trình và nội dung sách giáo khoa dựa trên quan
điểm cấu trúc hệ thống, do đó cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức trong
từng phần, từng chương, từng bài đều mang tính hệ thống. Trong dạy học người
GV cần phải biết phân tích cấu trúc của chương trình và nội dung của các phần
kiến thức, của các chương, các bài…từ đó tìm ra mối liên hệ của nội dung kiến
thức giữa các phần, các chương, các bài…GV phải có khả năng hệ thống hóa
các phần nội dung của chương trình, của các chương…Trên cơ sở đó GV có thể
hình dung được những cách thiết kế và trình bày bài giảng một cách khoa học
giúp cho học sinh hiểu bài một cách dễ ràng.
1.3.4.2. Tiếp cận cấu trúc - hệ thống trong thiết kế bài giảng
Sau khi phân tích cấu trúc nội dung và xác định thành phần kiến thức,
GV có thể thiết kế bài giảng: sắp xếp nội dung kiến thức cần trình bày, xác định
các bước lên lớp, các hoạt động chính của thầy và trò trong bài học. Đó là hệ
thống các thao tác của thầy và trò nhằm giúp cho học sinh hiểu bài theo một
logic hệ thống.
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 16

Lý thuyết hệ thống ra đời đã có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Tiếp cận cấu trúc - hệ thống là một phương pháp đã
mang lại hiệu quả cao trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đặc biệt là
khoa học sinh học nhằm tìm ra những quy luật bản chất của sự sống. Tiếp cận
cấu trúc - hệ thống đã góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các môn học ở


Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 17

Qua số liệu thu được từ bảng 1.4 cho thấy:
Cơ bản giáo viên đã biết phối hợp nhiều phương pháp trong dạy học, trong
đó tỉ lệ giáo viên sử dụng các phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh là
khá cao (78% đối với phương pháp vấn đáp, 50% đối với hoạt động nhóm), tuy
nhiên các phương pháp kích thích hoạt động tự nghiên cứu, khái quát vấn đề và
tư duy hệ thống còn thấp (Xemina 0%, tự học 30%, PP tiếp cận hệ thống 36%).
Điều này chứng tỏ vai trò của giáo viên vẫn là chủ yếu trong việc đưa ra nội dung
kiến thức, học sinh vẫn còn thụ động, khả năng khái quát và giải quyết các vấn đề
mang tính hệ thống chương trình còn hạn chế.
Bảng 1.5. Kết quả điều tra hiểu biết của GV về quan điểm hệ thống và
vận dụng quan điểm hệ thống trong dạy học sinh học.
Quan điểm hệ thống Vận dụng quan điểm hệ thống trong
dạy học
Tổng số
GV được
điều tra
Nắm rõ Không
nắm rõ
Không
biết
Thường
xuyên
Không thường
xuyên
Không
vận dụng
50 18

Nội dung kiểm tra gồm 5 câu hỏi tự luận, trong đó 2 câu hỏi nhận biết (tái
hiện kiến thức trong phạm vi một bài), 3 câu hỏi thông hiểu và vận dụng (có nội
dung khái quát của một chương và nhiều chương trong một phần học)
2.1.2. Kết quả điều tra
Bảng 1.1. Tỉ lệ phân hóa điểm của các câu hỏi kiểm tra
Số học sinh đạt điểm (%) Loại bài
kiểm tra
Số lượng
học sinh
tham gia
Câu 1 Câu 2 Câu3 Câu 4 Câu 5
15 phút 410
45,4 33, 3 12,0 5,6 3,7
45 phút 410
44,8 37,0 11,0 5,4 1,8

Qua phân tích các bài kiểm tra cho thấy:
Đối với những câu hỏi đơn giản: Câu hỏi đòi hỏi ghi nhớ sự kiện, câu hỏi
kiểm tra cấu trúc, chức năng riêng biệt của từng đơn vị kiến thức trong một bài
(câu 1, câu 2) thì học sinh làm tốt, tỉ lệ đạt yêu cầu khá cao (78,7 đối với đề 15
phút; 81,8 đối với đề kiểm tra 45 phút).
Đối với những câu hỏi mang tính tổng quát: Câu hỏi thể hiện mối quan hệ
giữa các đơn vị kiến thức trong một bài, trong một chương và nhiều chương
trong một phần học (về liên hệ giữa cấu trúc, chức năng), (câu 3, câu 4, câu 5)
thì tỉ lệ học sinh làm đúng thường thấp (21,3% đối với bài 15 phút; 18,2% đối
với bài 45 phút), mức độ khái quát các cao thì tỉ lệ học sinh làm đúng càng thấp
(tỉ lệ trung bình của câu 3 là 11, 5%, của câu 4 là 5,5% và của câu 5 là 2,75%).
Điều này chứng tỏ đa số học sinh vẫn chủ yếu là học thuộc, khả năng
thông hiểu và vận dụng kiến thức còn hạn chế đặc biệt là những kiến thức liên
thông, như vậy thì tư duy phân tích, tổng hợp và so sánh cũng còn hạn chế.

Phần II. Sinh vật và môi
trường
Chương I. Sinh vật và môi
trường

04

-

02

-

-
Chương II. Hệ sinh thái 04 01 02 - 01
Chương III. Con người, dân
số và môi trường
03 - 02 - -
Chương IV. Bảo vệ môi
trường
03 01 01 03 01
Tổng cộng 43 05 14 04 04

2.3.2. Về nội dung
Phần Chương Kiến thức và kỹ năng cần đạt
Di
truyền
học
Chương I:
Các thí

- Cấu trúc của NST nhân sơ và nhân thực, chức
năng của NST; các quá trình sinh học của NST (NP,
GP, thụ tinh); sự vận động của NST và ý nghĩa của
các kỳ phân bào…;
- Các đặc điểm của vật chất di truyền ở cấp độ TB
- Cơ chế xác định gới tính, các yếu tố ảnh hưởng
đến sự phân hóa giới tính, ý nghĩa lý luận và thực
tiễn khi nghiên cứu di truyền giới tính;
- Các thí nghiệm của Moocgan, cơ sở tế bào học, ý
nghĩa lý luận và thực tiễn của di truyền liên kết;
- Phân biệt được di truyền độc lập và di truyền liên
kết, xác định được KG, KH trong trường hợp di
truyền liên kết;
- Kỹ năng quan sát kính hiểm vi, phát hiện NST…
Chương III

AND và
Gen
- Cấu tạo hóa học và cấu trúc không gian của AND,
ARN, Pr; tính đặc thù, đặc trưng của các phân tử; các
đặc điểm của vật chất di truyền ở cấp độ phân tử;
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 21

- Các quá trình sinh học ở cấp độ phân tử (Tái bản,
phiên mã, giải mã), ý nghĩa của chúng;
- Mối quan hệ ADN - ARN - Pr - Tính trạng
- Quan sát, lắp ráp được mô hình ADN; giải thích
được một số hiện tượng di truyền liên quan đến vật
chất di truyền…
Chương

các hiện tượng thoái hóa giống, ưu thế lai;
- Biết và thu thập tư liệu về thành tựu chọn giống ở
địa phương, ở Việt Nam.
Tiếp cận hệ thống trong dạy môn Sinh học lớp 9 22 Chương I:
Sinh vật và
môi trường

- Hệ thống các khái niệm: sinh thái, STH, môi
trường, các NTST, giới hạn sinh thái;
- Ảnh hưởng của một số NTST cơ bản lên đời sống
của sinh vật; phản ứng thích nghi của sinh vật với
môi trường;
- Mối quan hệ cùng loài, mối quan hệ khác loài; vai
trò của các mối quan hệ trong quần xã sinh vật.
- Nhận biết một số nhân tố trong môi trường.
Chương II:

Hệ sinh
thái
- Các khái niệm quần thể, quần xã, hệ sinh thái,
chuỗi, lưới thức ăn, bậc dinh dưỡng;
- Các đặc trưng cơ bản của quần thể, quần xã; các
mối quan hệ trong quần xã và hệ sinh thái; hiện
tượng và cơ chế duy trì cân bằng sinh học.
- Biết các dấu hiệu nhận biết quần thể, quần xã và
HST, lập và đọc được chuỗi, lưới thức ăn.
Sinh

CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ
I. CẤU TRÚC CỦA AXIT NUCLEIC
1.1. Cấu trúc ADN
1.1.1. Cấu trúc hóa học của ADN
- ADN luôn tồn tại trong nhân tế bào và có mặt ở cả ti thể, lạp thể. ADN
chứa các nguyên tố hóa học chủ yếu C, H, O, N và P.
- ADN là đại phân tử, có khối lượng phân tử lớn, chiều dài có thể đạt tới
hàng trăm micromet khối lượng phân tử có từ 4 đến 8 triệu, một số có thể đạt
tới 16 triệu đơn vị các bon.
- ADN cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, mỗi nucleotit có ba thành phần,
trong đó thành phần cơ bản là bazơnitric. Có 4 loại nuleotit mang tên gọi của
các bazơnitric, trong đó A và G có kích thước lớn, T và X có kích thước bé.
- Trên mạch đơn của phân tử ADN các đơn phân liên kết với nhau bằng
liên kết hoá trị là liên kết được hình thành giữa đường C
5
H
10
O
4
của nucleotit
này với phân tử H
3
PO
4
của nucleotit bên cạnh. Liên kết hoá trị là liên kết rất
bền đảm bảo cho thông tin di truyền trên mỗi mạch đơn ổn định kể cả khi ADN
tái bản và phiên mã.
- Từ 4 loại nucleotit có thể tạo nên tính đa dạng và đặc thù của ADN ở
các loài sinh vật bởi số lượng, thành phần, trình tự phân bố của nucleotit.
1.1.2. Cấu trúc không gian của ADN (Mô hình Oatxơn và Cric)


- ADN đặc trưng bởi số lượng, thành phần trình tự phân bố các gen
trong từng nhóm gen liên kết.
1.2. Cấu trúc ARN
- ARN là một đa phân tử được cấu tạo từ nhiều đơn phân
- Có 4 loại nucleotit tạo nên các phân tử ARN: ađenin, uraxin, xitozin,
guanin, mỗi đơn phân gồm 3 thành phần: bazơnitric, đường ribozơ (C
5
H
10
O
5
),
phân tử H
3
PO
4
.
- Trên phân tử ARN các nucleotit liên kết với nhau bằng liên kết hoá học
(liên kết phot phodieste) giữa đường C
5
H
10
O
5
của nucleotit này với phân tử
H
3
PO
4

R. Mỗi axit amin có kích thước trung bình 3 Ǻ, khối lượng khoảng 110 d.v.c
- Trên phân tử protein, các axit amin liên kết với nhau bằng liên kết
peptit đó là liên kết giữa nhóm amin của axit amin này với nhớm cacboxyl của
axit amin bên cạnh cùng nhau mất đi một phân tử nước. Nhiều liên kết peptit
tạo thành một chuỗi polipeptit.

Trích đoạn HỆ SINH THÁ CON NGƯỜI DÂN SỐ VÀ MÔI TRƯỜNG THIẾT KẾ BÀI DẠY THEO QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG. Menđen giải thích kết quả thí nghiệm. Thường biến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status