Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ sinh thái rừng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc bảo vệ môi
trường sống và nền kinh tế quốc dân ở nhiều quốc gia. Giữ đất, giữ nước, điều
hoà khí hậu, phòng chống ô nhiễm và thiên tai là những tác dụng chính của
rừng. Vì vậy, cho đến nay nhiều nước trên thế giới đã coi tác dụng bảo vệ môi
trường của rừng lớn hơn nhiều so với giá trị kinh tế của nó.
Tuy nhiên sức ép về kinh tế và dân số đã và đang dẫn đến việc sử dụng
quá mức tài nguyên rừng ở các nước đang phát triển, đặc biệt là nạn chặt phá
rừng bừa bãi. Tình hình đó làm cho nguồn tài nguyên có thể tái tạo được như
rừng và đất rừng bị cạn kiệt nhanh chóng, môi trường rừng nói riêng và môi
trường sống nói chung bị suy thoái nghiêm trọng. Thảm thực vật rừng thoái
hoá kéo theo quá trình suy thoái của đất do xói mòn, rửa trôi. Đất rừng ở
nhiều nơi bị hoang hóa trở thành những vùng đất trống đồi trọc, giảm sức sản
xuất của đất. Trên những vùng đất đó, tiềm năng sản xuất đều giảm, năng suất
cây trồng không cao, chức năng bảo vệ đất, bảo vệ môi trường cũng bị suy
giảm. Các nhà khoa học đã nhận định mất rừng dẫn đến trọc hoá đất đai là
nguyên nhân chính gây ra các thảm họa như thiên tai, bão lụt và hạn hán.
Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, tính đến đến ngày 31/12/2008
diện tích rừng trên toàn quốc là 12,9 triệu ha, đạt độ che phủ 38,7%; tổng diện
tích đất trống đồi núi trọc khoảng hơn 5 triệu ha chiếm 13,01% diện tích đất
tự nhiên và chiếm 35,1% diện tích đất có rừng. Ngoài diện tích đất trống đồi
núi trọc đã quy hoạch cho lâm nghiệp còn có một số diện tích đất trống trọc
đang được sử dụng trong nông nghiệp chưa được thống kê một cách cụ thể.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm và định nghĩa đất trống đồi trọc
Trần Đình Lý (2003) đưa ra định nghĩa "Đất trống đồi núi trọc là những
vùng đất chưa có thảm thực vật cây gỗ là chủ yếu hoặc đã có nhưng đã bị tàn
phá mà trên đó chỉ còn là những trảng cỏ, trảng cây bụi hoặc các loại cây ăn
quả, cây công nghiệp hay đồng cỏ chăn nuôi bị thoái hóa, năng suất thấp,
không ổn định". Đây là định nghĩa đầu tiên về đất trống đồi trọc ở nước ta.
Tác giả cũng đã căn cứ vào thành phần thực vật, cấu trúc phẫu diện và độ phì
của đất, phân chia đất trống đồi trọc ở nước ta thành 3 nhóm như sau:
- Nhóm I: Gồm những diện tích do rừng bị khai thác kiệt, hoặc do bị
đốt, chặt phá rừng để trồng cây nông nghiệp sau 2-3 vụ (đôi khi hơn) rồi
bỏ hóa.
- Nhóm II: Là các loại đất trống đồi trọc được hình thành do rừng bị
chặt, đốt để lấy đất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày lặp đi lặp lại nhiều lần
nhưng không có biện pháp bảo vệ và giữ gìn độ phì của đất, làm cho đất bị
xói mòn rửa trôi hóa mạnh.
- Nhóm III: Gồm các bãi cát ven biển và nội đồng, các loại núi trọc trơ
sỏi đá mà lớp đất mặt còn rất mỏng hoặc đất phát sinh chưa hoàn chỉnh [23] .
1.2. Chiều hƣớng nghiên cứu
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.2.1.1. Nghiên cứu ở ngoài nước
Trung tâm nghiên cứu Quốc tế về nông lâm nghiệp (ICRAF) trong báo
cáo hàng năm cho biết trong giai đoạn 1996-1998 đã nghiên cứu phủ xanh đất
trống đồi trọc bằng nhiều giải pháp khác nhau. Có thể nêu một số mô hình đã
thực hiện như sau:
Tại châu Phi: gồm các nước Zambia, Tanzania, Zambabuwe. Các mô
hình đã thực hiện:
Trịnh Thị Kim Hoàn -
- Mô hình trồng cây trên đỉnh đồi để chống xói mòn.
- Mô hình trồng cây họ đậu trong việc phủ xanh cải tạo đất.
- Mô hình sử dụng độ tàn che của cây họ đậu để kiểm soát cỏ dại.
Những nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện: phương pháp xây
dựng mô hình nông lâm kết hợp (CH.Trachummok, 1982; L. Roche, 1982),
Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
5
đào tạo và huấn luyện kỹ năng xây dựng mô hình nông lâm kết hợp để phủ
xanh đất trống đồi trọc (R.F. Fisher, 1991). Năm 1992, T.Tiunei và cộng
sự nghiên cứu về phục hồi thảm thực vật thứ sinh trên đất sau nương rẫy
ở Mengla - XiSuang banna (Trung Quốc) đã cho thấy, sau 10 năm rừng
phục hồi có 3 tầng: tầng cây gỗ ưu thế, tầng cây bụi, dưới cùng là tầng
cỏ và dây leo [42].
1.2.1.2. Nghiên cứu ở trong nước
Công cuộc phủ xanh đất trống đồi núi trọc ở nước ta đã được thực hiện
từ những năm 1960. Đến năm 1980 thực sự trở thành vấn đề cấp bách. Điều
đó được thể hiện qua nhiều chương trình dự án đã và đang thực hiện:
- Dự án PAM - phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
- Chương trình 327 - trồng rừng phòng hộ.
- Dự án trồng rừng trên đất cát biển Nam Trung Bộ Việt Nam (PACSA).
- Dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn JBIC tại 5 tỉnh miền Trung.
- Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng do Quốc hội thông qua tại kỳ
họp thứ 2, Quốc hội khoá X ngày 29/7/1997.
- Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước "Phủ xanh đất trống đồi núi
trọc" mã số 04A (1986-1990) do Bộ Lâm nghiệp chủ trì.
giảm sút đến mức báo động. Chất lượng của rừng tự nhiên còn lại đã bị hạ
thấp quá mức. Năm 1943, với diện tích 15 triệu ha, rừng có độ che phủ 43%
diện tích đất tự nhiên, nhưng ba mươi năm chiến tranh với nhiều nguyên nhân
khác nhau, đã làm cho diện tích của rừng thu hẹp khá nhanh, đến năm 1993
chỉ còn lại 9,5 triệu ha, che phủ 28% diện tích đất tự nhiên [41].
Trong những năm gần đây, do có chủ trương trồng rừng và bảo vệ rừng
nên diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, đến cuối năm 1999 độ che phủ
rừng đạt 33,2%. Theo thống kê năm 2003, diện tích rừng đến cuối năm 2002
đã đạt 35,5% diện tích tự nhiên [41].
* Giải pháp phủ xanh đất trống đồi núi trọc
Trước đây quan niệm phủ xanh là trồng rừng trên đất trống đã bị mất hoặc
chưa có rừng. Nhưng đến đầu những năm 1980, cùng với trồng rừng, các biện
pháp khác như nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp đều được
coi là phủ xanh đất trống đồi trọc.
Như vậy, phủ xanh đất trống đồi trọc không chỉ có trồng rừng, mà nó còn
có giải pháp khác đó là thực hiện canh tác theo mô hình nông lâm kết hợp, trồng
cây ăn quả, cây công nghiệp, xây dựng vườn rừng, đồng cỏ chăn nuôi
Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
7
* Phủ xanh đất trống đồi trọc bằng trồng rừng
Đối với việc trồng rừng (rừng sản xuất, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ)
bằng các loài cây nhập nội, các nghiên cứu thường tập trung vào việc tuyển
chọn và khảo nghiệm giống, nghiên cứu điều kiện lập địa, phương thức trồng,
sinh trưởng phát triển của các loài, cấu trúc rừng phục vụ cho công tác chăm
sóc tu bổ.
nông lâm kết hợp 3 tầng: tầng vượt tán là cây công nghiệp, tầng ưu thế sinh
thái là Cam bù và tầng dưới tán là cây ưa bóng đa tác dụng.
Phan Anh (2004) đã xây dựng mô hình Vườn - Ao - Chuồng (VAC), mô
hình Vườn - Ao - Chuồng - Rừng (VACR) nhằm nhanh chóng phủ xanh đất
trống đồi trọc ở Bản dân tộc Vân Kiều - Phú Lộc - Thừa Thiên Huế. Trên cơ
sở kết qủa đạt được tác giả đã đề xuất giải pháp phát triển vườn cây lâu năm
theo hướng vườn đồi, vườn rừng, phát triển lâm nghiệp theo hướng nông
nghiệp để làm vườn đồi vườn rừng.
1.2.3. Những nghiên cứu phủ xanh đất trống đồi trọc ở vùng nghiên cứu
Tại Thái Nguyên, công tác phủ xanh đất trống đồi trọc chủ yếu được
thực hiện qua các chương trình do Nhà nước đầu tư: Dự án trồng rừng PAM,
Dự án trồng rừng 327, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Ngoài ra còn
có các dự án do địa phương thực hiện như: Dự án rừng đặc dụng Thần Sa -
Phượng Hoàng, Dự án ATK Định Hoá, Dự án đầu tư trồng 5000 ha rừng
nguyên liệu cho nhà máy Ván dăm thuộc tỉnh Thái Nguyên.
Những nghiên cứu về phủ xanh đất trống đồi trọc còn rất hạn chế. Có thể
nêu lên một số công trình đã thực hiện như sau:
Đặng Kim Vui (2002) - Nghiên cứu đặc điểm về cấu trúc rừng thứ sinh
phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên. Kết quả cho thấy
khả năng phục hồi tự nhiên của thảm thực vật trong khu vực là không lớn, vì
vậy cần có giải pháp chăm sóc tu bổ.
Lê Ngọc Công (2003) - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và khả năng
phục hồi tự nhiên của các quần xã thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy tại
Thái Nguyên. Theo tác giả khả năng phục hồi tự nhiên của thảm thực vật trên
đất sau nương rẫy phụ thuộc rất nhiều vào mức độ thoái hoá đất, nguồn giống
và điều kiện lập địa [13].
Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
các chương trình nghiên cứu từ cấp Nhà nước đến cấp Bộ, cấp cơ sở đã và
đang thực hiện tại các trung tâm, viện nghiên cứu khoa học.
Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung phủ xanh đất
trống đồi núi trọc đã được công bố . Phần lớn các công trình là những bài báo
được đăng trên các tạp chí khoa học, tuyển tập các công trình nghiên cứu của
các Hội thảo, báo cáo của các đề tài nghiên cứu khoa học nhưng chưa có
chuyên khảo nào về lĩnh vực này.
Các nghiên cứu đã tập trung theo 3 hướng giải pháp: phủ xanh đất trống
đồi trọc bằng trồng rừng, phủ xanh đất trống trọc bằng khoanh nuôi tái sinh tự
nhiên, phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng các giải pháp NLKH.Mặc dù đã
đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc phủ xanh đất trống đồi
trọc nhưng cho đến nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề thời sự cần được giải
quyết như sau:
- Trước hết, đó là việc định lượng, đưa ra tiêu chí xác định và đánh giá
một cách chính xác về diện tích và tiềm năng đất trống đồi trọc. Đây là vấn đề
khó khăn nhất đối với công tác quy hoạch và thực hiện các giải pháp phủ
xanh đất trống đồi trọc hiện nay ở nước ta. Như trên đã trình bày, Bộ
NN&PTNT đã xếp tất cả các trạng thái thực bì từ Ia đến Ib, Ic, núi đá không
cây, bãi cát, bãi bồi vào đất trống trọc. Nghĩa là chỉ căn cứ vào hiện trạng
thảm thực vật, còn đất đai - một số điều kiện quyết định sự sinh trưởng và
phát triển của thực vật lại chưa được quan tâm. Điều đó đã gây ra khó khăn
cho các địa phương khi thực hiện giao đất giao rừng và thực hiện phủ xanh.
- Cho đến nay, Bộ NN&PTNT đã ban hành 2 quy phạm: Quy phạm các
của Bộ NN&PTNT trình Chính phủ về việc thực hiện chương trình trồng mới
5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 – 2004 Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Chƣơng 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG,
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu khoa học
Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân , đánh giá tiềm năng và
khả năng phủ xanh đất trống đồi núi trọc; thống kê và đánh giá hiệu quả của
các mô hình làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp phủ xanh đất
trống đồi trọc ở 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
2.1.2. Mục tiêu thực tiễn
Phần lớn diện tích đất trong vùng trước đây đều được che phủ bởi kiểu
rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới rất đa dạng và phong phú. Nhưng
đến nay đã bị phá hủy và thay thế phần lớn bởi các trạng thái thảm thực vật
thứ sinh nghèo kiệt và đất trống đồi núi trọc. Theo báo cáo kiểm kê đất đai
của Hạt kiểm lâm, diện tích ĐTĐNT của 8 xã phía nam huyện Đại Từ năm
tuyến và ô tiêu chuẩn.
- Tuyến điều tra được thiết lập vuông góc hoặc song song với đường
đồng mức, dựa trên thông tin về thảm thực vật và bản đồ của khu vực nghiên
cứu. Tuyến điều tra đi qua tất cả các xã, các dạng địa hình, đai độ cao, các
trạng thái rừng bị phá huỷ hay suy thoái do tác động của con người.
Đã thực hiện 2 tuyến như sau:
Tuyến 1: đi qua các xã Mỹ Yên, Quân Chu và TT Quân Chu, Cát Nê,
Tuyến 2: đi qua các xã Lục Ba, Vạn Thọ, Kí Phú, Văn Yên
- Ô tiêu chuẩn có kích thước 400m
2
(20x20m) cho đối tượng nghiên cứu
là thảm cỏ, cây bụi và 2000m
2
(40x50m) cho đối tượng nghiên cứu là rừng
thứ sinh và rừng già (rừng trưởng thành). Ô tiêu chuẩn được bố trí dọc theo
tuyến điều tra, mỗi tuyến điều tra bố trí 3 ô tiêu chuẩn để thu thập số liệu. Số
lượng ô tiêu chuẩn điều tra như sau:
- Thu thập số liệu (chiều cao, đường kính cây, độ tàn che) trên ô tiêu
chuẩn được thực hiện theo các phương pháp điều tra lâm học đang được áp
dụng hiện nay.
Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
14
* Đánh giá hiệu quả của các mô hình phủ xanh, dọc theo các tuyến điều
tra tiến hành thống kê, thu thập số liệu của các mô hình phủ xanh. Các mô
hình đã nghiên cứu gồm:
2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu
* Phân loại thảm thực vật theo khung phân loại của Thái Văn Trừng
(2000) [23] và UNESCO (1973) [33]. Sử dụng các tài liệu Danh lục thực vật
Việt Nam, tên cây rừng Việt Nam (2000) và cây cỏ Việt Nam để chỉnh lý tên
khoa học các loài cây [21].
* Đối với mẫu đất
Ở mỗi điểm nghiên cứu , chúng tôi lấy đất ở các vị trí khác nhau , sao
cho nó phản ánh được các môi trường , các mô hình ,Mẫu đất được lấy theo
tầng ở độ sâu ;0-10 cm ,10-20 cm ,20-30 cm ,sau đó các mẫu đất ở cùng tầng
của mô hình được trộn chung với nhau và đem phân tích theo tầng tại phòng
phân tích đất –khoa trồng trọt – Đại Học Nông Lâm – ĐHTN bằng các
phương pháp sau :
- Xác định độ ẩm: Cân 10 gam mẫu đất trên cân độ ẩm kett, bật đèn
hồng ngoại, xấy mẫu đến trọng lượng không đổi, đọc số đo độ ẩm trên cân .
- Xác định độ PH; Cân 30 gam mẫu đất cho vào cốc nhựa 120 ml, thêm
60 ml nước cất, đậy nắp cốc lại, đưa lên mấy lắc trong 10 phút, sau đó đun
bằng máy đo PH (PACH của Mỹ ).
- Xác định hàm lượng mùn (%) theo phương pháp tiu rin: Cân 0,1 gam
đất đã qua sấy 0,25 mm cho vào bình tam giác 100ml + 10 ml K
2
Cr
2
O
7
(0,4
N) lắc nhẹ. Đặt lên bếp cách cát đun sôi nhẹ trong 5 phút ở nhiệt độ 170
0
C -
180
0
O
5
%): Hút 5 ml dung tích mẫu sau
khi công phá, chỉnh đến PH =7 + dung dịch NaOH 10% , sau đó thêm 10 ml
H
2
SO
4
(5N) thêm 1,25 ml dung dịch Amoni molipdat 20% và 3 ml dung dịch
axit ascorbic 1 M đun cách thủy trên bếp khi cường độ màu lớn nhất, để nguội
đến nhiệt độ phòng, định mức đến 50 ml, đem so màu trên máy DERLL/2000,
số đọc được là % P
2
O
5
.
- Xác định hàm lượng Kali tổng số (% K
2
O) theo phương pháp quang
phổ phát xạ. Nguyên tắc của phương pháp này là thu bức xạ nguyên tử Kali
phát ra dưới tác dụng ngon lửa hồ quang. Khi bức xạ này đi qua máy quang
phổ nhiễm xạ thu được phổ bức xạ. Cường độ vạch phổ tỉ lệ với nồng độ
nguyên tố Kali trong mẫu. Đo cường độ vạch phổ ta tính được nồng độ
nguyên tố. Phép đo thực hiện trên máy quang phổ loại DFS 8-3. Độ nhạy
vạch K là 0,01%.
* Phân loại và đánh giá tiềm năng đất trống đồi trọc theo phương pháp
của Trần Đình Lý (2003).
* Hiệu quả kinh tế của các mô hình: sử dụng tính toán bằng phần
mềm Excel thông dụng trên máy tính với các chỉ tiêu và phương pháp tính
toán như sau:
thực địa, các bài học kinh nghiệm từ mô hình thực tế, kết hợp tham khảo tài
liệu, các chủ trương chính sách, các văn bản pháp lý hiện hành, các quy trình
hiện có đang áp dụng trong ngành nông lâm nghiệp hiện nay để đề xuất giải
pháp về kỹ thuật, chế độ chính sách và vốn cho phủ xanh đất trống đồi trọc.
2.5. Giới hạn của đề tài
- Đề tài nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc trên địa bàn 8 xã
phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Vận dụng phương pháp điều tra đánh giá hiệu quả các mô hình để đưa
ra giải pháp phủ xanh đất trống đồi núi trọc trên địa bàn huyện.
- Đánh giá hiệu quả tổng hợp trên 3 mặt, tuy nhiên chỉ đi sâu vào đánh
giá hiệu quả kinh tế, còn hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường sinh thái chỉ
dừng lại ở mức độ mô tả.
Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Chƣơng 3
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Đại từ là Huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên,
cách Thành Phố Thái Nguyên 25 Km, phía Bắc giáp huyện Định Hoá; Phía
nam giáp huyện Phổ Yên và Thành Phố Thái Nguyên; Phía đông giáp
huyện Phú Lương; Phía tây bắc và đông nam giáp tỉnh Tuyên Quang và
tỉnh Vĩnh Phúc.
15,9-23,2
Trung bình tối cao
26,9
28,7-31,1
19,5-26,6
Trung bình tối thấp
20,5
21,0-24,3
13,1-21,2
Biên độ nhiệt ngày đêm
6,3
6,7-7,3
5,0-7,8
(Nguồn; Báo cáo điều chỉnh ,bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến
năm 2010m, định hướng đến năm 2020)
Lượng bốc hơi trên địa bàn huyện là 1.012mm/năm. Trong các tháng
mùa khô hanh (tháng 11,12,1,2,3), lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa từ 2,3 -
4,8 lần gây khó khăn trong sản xuất nông nghiệp vụ đông xuân.
Hướng gió chủ đạo trên địa bàn huyện là gió Đông Bắc .Tốc độ gió trung
bình trong năm là 1,9 m/s, tháng có tốc độ gió trung bình cao nhất là tháng 8
(2,7m/s).
Nhìn chung, khí hậu của huyện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông
–lâm nghiệp, đa dạng hóa cây trồng, nhất là trồng lúa nước, các loại cây
rau màu và cây công nghiệp như Chè. Tuy nhiên, chế độ khí hậu của huyện
cũng có một số hạn chế như úng lụt hay hạn hán nên ảnh hưởng phần nào
tới sản xuất của người nông dân. Vì vây, công tác thủy lợi cần được quan
tâm thường xuyên.
Đại Từ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa hè
nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông khô hanh, lạnh.
- Độ ẩm không khí :độ ẩm không khí bình quân cả năm khoảng
năm từ 1.800mm - 2.000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm
nghiệp của Huyện ( đặc biệt là cây chè).
3.1.4. Thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.890 ha, trong đó đất nông
nghiệp chiếm 26,87%; đất lâm nghiệp chiếm 45,13%; còn lại là đất phi nông
nghiệp chiếm 28%. Trong tổng diện tích hiện có thì diện tích đất chưa sử
dụng chiếm 17,35%, chủ yếu là đất đồi núi và sông suối.
Trên địa bàn huyện đất được hình thành bởi 8 nhóm, trong đó có 4 nhóm
đất chính là: - Đất xám mùn trên núi có: 16.400 ha chiếm tỷ lệ 28,37% - Đất
Feralit phát triển trên đá biến chất: 15.107 ha chiếm 26,14 % - Đất Feralit
Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
21
phát triển trên phù sa cổ: 1.3036 ha chiếm 22,55 % - Đất phù sa Gley phát
triển trên phù sa cổ: 13.247 ha chiếm 22,94 %.
3.1.5. Tài nguyên
Rừng
Diện tích rừng toàn huyện là 24.468 ha. Trong đó rừng trồng trên 9.000
ha, rừng tự nhiên 15.000 ha. Hiện nay nhiều diện tích rừng trồng đã đến tuổi
khai thác, mặt khác diện tích đất có khả năng lâm nghiệp còn khá lớn, cần phủ
xanh để nâng cao độ che phủ và cũng là tiềm năng để phát triển cây lâm
nghiệp có giá trị cao.
Khoáng sản
Đại Từ có khá nhiều tài nguyên khoáng sản:
- Nhóm nguyên liệu cháy: Chủ yếu là than nằm ở 8 xã của huyện là: Yên
Lãng, Hà Thượng, Phục Linh, Minh Tiến, An Khánh, Cát Nê, trữ lượng lớn
cho người dân trồng chè. Giống cây chè nói riêng và nhiều giống cây khác có
giá trị cao phục vụ cho nông nghiệp, trồng rừng, cây sinh thái cảnh
quan nhằm tạo đa dạng sinh học cho môi trường và lấy gỗ cho các ngành sản
xuất khác đang được các vườn giống trong huyện ứng dụng công nghệ sinh
học trong quá trình gieo trồng rất tốt đáp ứng không chỉ nhu cầu trong huyện
trong tỉnh mà còn bán sang nhiều tỉnh lân cận. Đặc biệt trong lĩnh vực này
hiện nay một số hộ gia đình kinh doanh cá thể cũng rất mạnh dạn đầu tư và
làm chủ công nghệ tạo ra được những vườn giống tốt có quy mô rất lớn và
chuyên nghiệp. Họ còn tham gia sản suất cây giống cho chương trình hợp tác
phát triển Đức Deutscher Entwicklungs Dients (DED) được các chuyên viên
của tổ chức này đánh giá cao. Ngành sản xuất cây chè và giống cây trồng hiện
đang có thể là điểm sáng của nông nghiệp Đại Từ đem lại nguồn thu nhập
đáng kể cho người dân trong những năm gần đây.
Công nghiệp
Chủ yếu là khai thác, sơ chế khoáng sản và chế biến nông sản. Huyện có
2 mỏ than là mỏ Làng Cẩm-xã Phục Linh và mỏ Núi Hồng-xã Yên Lãng. Dự
án mỏ đa kim Núi Pháo-Nuiphaovica (liên doanh với một công ty của
Canada) bắt đầu được triển khai.
Du lịch
Điểm du lịch quan trọng nhất của Đại Từ là khu du lịch Hồ Núi Cốc với
diện tích 25 km², dung tích 175 triệu m³. Đây là khu du lịch thu hút nhiều
Trịnh Thị Kim Hoàn -
Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc và đề xuất
giải pháp phủ xanh tại 8 xã phía nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
23
khách trong và ngoài tỉnh đến nghỉ và tham quan, đồng thời cũng là nơi cung
cấp nước phục vụ sản xuất và nước sinh hoạt cho các huyện phía nam của tỉnh
24
3.3. Cơ sở hạ tầng, đƣờng giao thông
- Hệ thống cung cấp điện: Huyện Đại Từ có mạng lưới điện Quốc gia
kéo đến 31 xã, thị trấn.
- Giao thông: Đại Từ có mật độ đường giao thông khá cao so với các
Huyện trong Tỉnh. Tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn khoảng gần 600km.
+ Đường Quốc lộ 379, chạy dài suốt Huyện, dài 32km, đã được dải nhựa
+ Đường Tỉnh quản lý: Gồm 3 tuyến đường: Đán đi Hồ núi Cốc; Đại Từ
đi Phổ Yên; Khuôn Ngàn đi Minh Tiến -Định Hoá; Phú Lạc đi Đu - ôn Lương
Còn lại là các tuyến đường đá, cấp phối thuộc Huyện và xã quản lý, chủ
yếu là đường liên xã, liên thôn, xóm; Cả 31 xã, thị trấn đã có đường ô tô đến
trung tâm xã, song do đặc điểm của Huyện miền núi, hệ thống giao thông còn
gây ách tắc về mùa mưa lũ, do vậy chưa đáp ứng cho sự phát triển và giao lưu
hàng hoá trên địa bàn.
Tuyến đường sắt Quán triều - Núi Hồng dài 33,5 km là một thuận lợi
lớn trong việc phục vụ sản xuất và giao lưu hàng hoá (Chủ yếu là vận
chuyển than).
Nhìn chung, hệ thống giao thông của Huyện tương đối thuận lợi, song về
chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu (chủ yếu là đường đá cấp phối, đất), cần
phải có kế hoạch từng bước đầu tư nâng cấp hệ thống cầu, đường liên Huyện,
liên xã, xóm trong những năm tới.
- Thông tin liên lạc: Toàn Huyện đã được phủ sóng truyền thanh, truyền
hình, 31/31 xã, thị trấn có điện thoại; Hệ thống giao thông thuận tiện là điều
kiện thuận lợi cho Bưu điện phục vụ các thông tin, báo trí đến các xã, xóm
kịp thời trong ngày.
3.4. Giáo dục
Là huyện miền núi nhưng cũng nhận được nhiều đầu tư và hưởng các
chính sách phát triển giáo dục. Công tác giáo dục thường xuyên được chăm
lo, chất lượng giáo dục đã được quan tâm đầu tư có chiều sâu, hệ thống giáo
di tích lịch sử cách mạng nối liền với khu ATK Tân Trào- Tuyên quang
và Định Hoá.
3.5.2. Khó khăn
- Trình độ dân trí nhìn chung còn thấp nên việc tiếp thu các tiến bộ khoa
học kỹ thuật phục vụ xây dựng rừng và phát triển kinh tế còn chậm.