BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------
TRỊNH THỊ TRANG NHUNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG ĐẤT TRỐNG ĐỒI NÚI TRỌC
TẠI HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỦ XANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------
TRỊNH THỊ TRANG NHUNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG ĐẤT TRỐNG ĐỒI NÚI TRỌC
TẠI HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỦ XANH
những vùng đất đó, tiềm năng sẳn xuất đều giảm, năng suất cây trồng không
cao, chức năng bảo vệ đất, bảo vệ môi trường cũng bị suy giảm. Các nhà khoa
học đã nhận định mất rừng dẫn đến trọc hoá đất đai là nguyên nhân chính gây
ra các thảm họa như thiên tai, bão lụt và hạn hán.
Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, tính đến đến ngày
31/12/2008 diện tích rừng trên toàn quốc là 13,12 triệu ha, đạt độ che phủ
38,7%; tổng diện tích đất trống đồi núi trọc khoảng hơn 5 triệu ha chiếm
13,01% diện tích đất tự nhiên và chiếm 35,1% diện tích đất có rừng (Quyết
định 1267/QĐ-BNN-KL ngày 04/5/2009 về việc công bố hiện trạng rừng toàn
quốc năm 2008). Ngoài diện tích đất trống đồi núi trọc đã quy hoạch cho lâm
2
nghiệp còn có một số diện tích đất trống trọc đang được sử dụng trong nông
nghiệp chưa được thống kê một cách cụ thể. Phần lớn diện tích đất trống trọc
phát sinh từ các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau
nhưng vẫn còn tiềm năng cho sản xuất và phủ xanh. Vấn đề đặt ra là thực hiện
như thế nào để phát huy hiệu quả và tiềm năng vốn có của chúng. Nghĩa là
cần có những đánh giá chính xác hiện trạng, nhu cầu và điều kiện kinh tế của
từng địa phương để từ đó xác định chiến lược phủ xanh đúng đắn.
Huyện Lạc Sơn của tỉnh Hoà Bình là một huyện miền núi có tỷ lệ diện
tích đất trống trọc khá cao so với diện tích đất tự nhiên. Điều này có ảnh
hưởng đến chức năng phòng hộ, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường và
phòng tránh thiên tai. Để góp phần khắc phục những tồn tại nói trên, chúng
tôi đề xuất thực hiện đề tài đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc
tại huyện Lạc Sơn tỉnh Hoà Bình và đề xuất giải pháp phủ xanh” nhằm mục đích
đánh giá hiện trạng, tiềm năng đất trống đồi núi trọc và đề xuất giải pháp phủ
xanh hợp lý.
ta ước tính có khoảng 2,8 triệu ha đất đang hoặc đã qua canh tác nương rẫy,
4
hàng năm có khoảng 30 nghìn ha rừng nguyên sinh bị chặt hạ để làm nương
rẫy, vì vậy vô hình đã biến những diện tích rừng nguyên sinh thành những
vùng đất trống đồi núi trọc chỉ sau một vài chu kỳ canh tác [20].
Canh tác nương rẫy đã gây ra tình trạng xói mòn, thoái hoá đất do vậy
để phục hồi lại những vùng đất bị xói mòn, thoái hoá, đã có nhiều nhà khoa
học quan tâm và nghiên cứu.
1.2.1. Nghiên cứu ở ngoài nước
Trong thời gian gần đây với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, những
nghiên cứu nhằm phục hồi, phát triển đất trống đồi núi trọc đã và đang được
thực hiện tại nhiều nước trên thế giới. Các chương trình đã thực hiện chủ yếu
dựa vào nguồn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.
Trung tâm nghiên cứu Quốc tế về nông lâm nghiệp (ICRAF) trong báo
cáo hàng năm cho biết, trong giai đoạn 1996 – 1998 đã nghiên cứu phủ xanh
đất trống đồi trọc bằng nhiều giải pháp khác nhau. Có thể nêu một sô mô hình
đã thực hiện như sau:
Tại châu Phi: gồm các nước Zambia, Tanzania, Zimbabwe. Các mô
hình đã thực hiện [18]:
- Mô hình thảm cỏ luân phiên (Rotation wooslost) nhằm phủ xanh đất
trong thời kỳ bỏ hoá. Trong mô hình này, người ta đã dùng cây Điển
(Sesbania sesban) một loài cây thuộc họ Đậu trồng để phủ xanh đất trong thời
kỳ bỏ hoang. Sau 2 -3 năm có thể khai thác làm củi. phần còn lại đốt hoặc để
mục để tăng thêm chất mùn và chất dinh dưỡng cho đất.
- Mô hình trồng cây gỗ + cây ăn quả đa tầng (Multi-strata). Trong mô
hình này, các loài cây trồng chủ yếu là cây bản địa sẽ tạo ra một hệ thống
trồng trọt bền vững có nhiều sản phẩm và tăng thu nhập.
6
- Mô hình kỹ thuật SXNLN với cây ăn quả kết hợp quy mô nhỏ (SALT4)
- cơ cấu sử dụng đất thích hợp là 60% lâm nghiệp, 15% nông nghiệp, 25%
cây ăn quả (mô hình này đòi hỏi đầu tư cao).
Các mô hình trên đã được nông dân chấp nhận và cũng đã và đang được
kiểm nghiệm ở nhiều nước Đông Nam Á.
Tại châu Á gồm các nước: Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Các mô
hình đã thực hiện là:
- Nghiên cứu sử dụng tri thức bản địa trong canh tác phủ xanh kết hợp
bảo vệ đất và tăng thu nhập cho hệ nương rẫy.
- Mô hình nông lâm kết hợp để cải tạo thảm cỏ tranh (Imperata
cylindrinca).
- Mô hình trồng cây họ đậu trên đỉnh đồi để chống xói mòn.
- Mô hình sử dụng độ tàn che của cây họ đậu để kiểm soát cỏ dại.
Những nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện: phương pháp xây
dựng mô hình nông lâm kết hợp (CH.Trachummok, 1982; L.Roche, 1982),
đào tạo và huấn luyện kỹ năng xây dựng mô hình nông lâm kết hợp để phủ
xanh đất trống đồi núi trọc (R.F.Fisher, 1991).[18]
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển Lâm nghiệp ở các tỉnh
miền núi phía Bắc nước ta có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, nhìn tổng
thể thì quá trình phát triển vẫn còn tương đối chậm, diện tích đất trống đồi núi
trọc, đất không được sử dụng có hiệu quả và hợp lý vẫn không ngừng đã gia
tăng. Trong những năm qua, các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý có
những công trình nghiên cứu và đưa ra các chính sách để phục hồi phát triển và
đưa những diện tích đất trống đồi núi trọc vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế
cũng như giải quyết vấn đề nông thôn miền núi.
8
Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Sinh thái và tài nguyên
sinh vật Việt Nam đã và đang được thực hiện.
1.2. Xu hướng nghiên cứu phủ xanh đất trống đồi núi trọc
1.2.1. Khái niệm và phân loại đất trống đồi núi trọc
Trong nhiều tài liệu của nước ta hiện nay, đề cập đến ĐTĐNT thì vấn
đề cải tạo, sử dụng hợp lý chúng để đảm bảo sự phát triển bền vững đã trở
thành vấn đề rất được quan tâm. Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có tài liệu nào
trình bày rõ nghĩa và chính xác khái niệm này. Vì hiểu khái niệm ĐTĐNT
khác nhau dựa trên những tiêu chuẩn không giống nhau nên cách đánh giá về
số liệu diện tích ĐTĐNT đưa ra không thống nhất. Ví dụ, Bộ Lâm nghiệp (cũ)
và Tổng cục thống kê đưa ra số liệu diện tích ĐTĐNT của cả nước năm 1993
là 11 triệu ha, cũng trong thời gian đó các địa phương cũng đưa ra số liệu về
ĐTĐNT của địa phương mình nhưng khi tổng hợp thì các số liệu đó không
khớp nhau ở cả hai phía. Trong năm 2005 một số tài liệu cho rằng diện tích
ĐTĐNT của Việt Nam là 9,5 triệu ha, một số tài liệu khác nhau lại đưa số liệu
khoảng 11 triệu ha. Sở dĩ có sự sai khác đó là vì không thống nhất về khái
niệm nên việc xác định đối tượng và mức độ tác động để phủ xanh trên các
đối tượng đó cũng khác nhau, mức chi phí và cách thực hiện cũng khác nhau
[26].
Đất trống đồi núi trọc (Denuded hills and waste lands) là đất còn bị
hoang hoá hiện chưa có rừng hoặc chưa có thảm thực bì có giá trị sử dụng
nhất định che phủ hoặc chưa được sử dụng vào canh tác nông lâm nghiệp hay
các mục đích khác [Thuật ngữ lâm nghiệp, nhà xuất bản nông nghiệp 1996].
Có quan niệm cho rằng ĐTĐNT là những vùng đất trống không có cây
mọc. Với quan niệm này thì diện tích ĐTĐNT rất ít, nhất là ở những vùng
nhiệt đới, nơi có mưa nhiều, độ ẩm cao thì những vùng đất không có cây mọc
chỉ là sa mạc, đồi cát. Các bãi biển, đất trơ sỏi đá do xói mòn rửa trôi quá
- Đất hoang hoá
- Các bãi bồi ở các cửa sông, các dải cát ven biển và nội đồng hiện
không có cây gỗ hoặc có nhưng không đáng kể
10
- Các vùng trồng cây ăn quả, cây công nghiệp hay đồng cỏ chăn nuôi
đã bị thoái hoá, năng suất thấp, độ che phủ kém (
sinh trưởng phát triển của các loài, cấu trúc rừng phục vụ cho công tác chăm
sóc tu bổ.
Đối với việc trồng rừng nhằm mục đích phòng hộ và bảo vệ môi
trường, các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu phục hồi các hệ sinh thái rừng
nhiệt đới theo hướng đa loài nhiều tầng bằng các loài cây bản địa.
12
Trần Ngũ Phương (2000) đã mô tả quy luật cấu trúc và quá trình phục
hồi của các kiểu rừng nhiệt đới ở Việt Nam và đưa ra giải pháp tái sinh nhân
tạo bằng trồng rừng hỗn loài nhiều tầng kết hợp cây lấy gỗ, cây công nghiệp,
cây ăn quả, cây đặc sản và các sản phẩm phi gỗ khác. Theo mô hình này, tầng
trên (tầng cây gỗ) là các loài cây gỗ bản địa có giá trị thương mại cao. Tầng
dưới (tầng ưu thế sinh thái) là các loài cho quả, cây đặc sản. Tầng dưới tán là
các loài cây thuốc, cây làm thức ăn gia súc và cây lương thực.
Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Bá Chất, Vũ Đức Năng (2005) đã có thông
báo về kết quả xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài tại Cầu Hai – Phú Thọ.
Mô hình được xây dựng theo phương thức kết hợp cây phụ trợ để bảo vệ cây
non mới trồng. có 2 mô hình đã thực hiện sau đây:
- Cây phụ trợ là Keo, cây trồng chính là Vạng trứng + Trám trắng + Re
gừng.
- Cây phụ trợ là Cốt khí, cây trồng chính là Vạng trứng + Trám trắng +
Re gừng.
Kết quả cho thấy sau 2 – 3 năm cây sống 80 – 93%, mô hình có thể
hình thành rừng hỗn loài.
Đặng Văn Thuyết, Triệu Thái Hưng (2005) đề xuất kết cấu mô hình
rừng nhiều tầng hỗn loài cho đai rừng phòng hộ trên đất cát ven biển, sử dụng
cây Phi lao và các loài Keo chịu hạn làm cây trồng chính cho các mô hình
này.
biệt quan tâm, thể hiện qua việc ban hành 2 quy phạm nhằm lợi dụng năng
lực tái sinh tự nhiên cho phục hồi rừng:
Quy phạm các giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất và rừng
đặc dụng (QPN 14 - 92) và Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc
tiến tái sinh (QPN 21 - 98).
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng phục hồi tự nhiên của
thảm thực vật đã bị thoái hoá cần phải phủ xanh (Nguyễn Bá Chất và cộng sự,
14
1993; Lâm Phúc Cố, 1996; Nguyễn Ngọc Công, 2002…). Kết quả nghiên cứu
của các tác giả cho thấy thảm thực vật đã bị suy thoái đến thảm cỏ, thảm cây
bụi đều có khả năng phục hồi thành rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên.
vấn đề là thời gian và chất lượng rừng được phục hồi.
Lê Đồng Tấn và các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng mô hình khoanh
nuôi tái sinh tại một số địa phương: Kon Hà Nừng (giai đoạn 1990 - 1995),
Con Cuông - Nghệ An (giai đoạn 1992 – 1996); Sơn La (giai đoạn 1990 2000); Lai Châu (giai đoạn 2000 - 2002) và gần đây là tại Trạm Đa dạng sinh
học Mê Linh (giai đoạn 2001 – 2005) cho thấy khả năng phục hồi tự nhiên
của thảm thực vật không cao. Trên đất tốt sau 8 – 9 năm nếu không bị lửa
rừng, chặt phá hay chăn thả thì từ thảm cỏ có thể phục hồi thành rừng non đáp
ứng được yêu cầu phòng hộ. Còn về phương diện kinh doanh thì không đáp
ứng được yêu cầu phòng hộ. Về phương diện kinh doanh không đáp ứng được
do tỷ lệ các loài cây có giá trị kinh tế không nhiều. Trên đất xấu quá trình lâu
hơn, có thể mất 14 – 16 năm (ở Sơn La, Mê Linh – Vĩnh Phúc) mới có thể
hình thành rừng. Tuy nhiên, nếu có biện pháp lâm sinh thích hợp (phát luỗng,
vệ sinh, trồng dặm) thì quá trình sẽ nhanh hơn.
Đinh Hữu Khánh (2005) đã nghiên cứu khoanh nuôi thảm cỏ (trạng thái
IC) cho thấy sau 2 – 5 năm áp dụng giải pháp khoanh nuôi đã tăng độ che phủ
của thảm thực vật cây bụi. Tổ thành thực vật cũng thay đổi theo chiều hướng
đồi núi, các mô hình NLKH vùng ven biển.
Trước đây, sự kết hợp NLN đã đóng góp cho nền kinh tế tự cung tự
cấp. Thực tế hiện nay ở nhiều vùng núi hẻo lánh ở nước ta, NLKH đang tạo ra
những sản phẩm lương thực tại chỗ nhằm duy trì cuộc sống của đồng bào địa
phương; Một số nơi, sản phẩm NLKH đã trở thành hàng hoá. Đây là tiềm
năng và cơ hội cho sự thoát nghèo của người dân. Do vậy, các cấp ban ngành
liên quan cần tạo điều kiện thuận lợi để nông nghiệp, nông thôn miền núi có
cơ hội phát triển và hội nhập.
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển Lâm nghiệp ở các tỉnh
miền núi phía Bắc nước ta có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, nhìn tổng
thể thì quá trình phát triển vẫn còn tương đối chậm, diện tích đất trống đồi núi
16
trọc, đất không được sử dụng có hiệu quả và hợp lý vẫn không ngừng đã gia
tăng. Trong những năm qua, các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý có
những công trình nghiên cứu và đưa ra các chính sách để phục hồi phát triển và
đưa những diện tích đất trống đồi núi trọc vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế
cũng như giải quyết vấn đề nông thôn miền núi [20].
Từ những năm 1980 đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng mô
hình nông lâm kết hợp để phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Theo Phan Xuân Đợt (1994), sử dụng đất trống đồi núi trọc theo
phương thức nông lâm kết hợp nhằm phát huy hiệu quả tiềm năng lao động và
tài nguyên rừng phục vụ các nhiệm vụ kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường.
Lâm Công Định (1982, 1984) đã có một số công bố trong đó trình bày
cơ sở khoa học và cơ cấu sản xuất nông lâm kết hợp, những phương pháp
trong nông lâm kết hợp và giới thiệu một số mô hình nông lâm kết hợp có thể
thực hiện được ở nông thôn miền núi để phủ xanh đất trống đồi trọc.
Những nghiên cứu về cơ cấu cây trồng trong hệ canh tác nông lâm kết
giản. Song ngoài việc lựa chọn kỹ các loài cây trồng và vật nuôi phù hợp còn
bố trí thời gian quay vòng sao cho đất dốc có điều kiện phục hồi và phải áp
dụng biện pháp chăn dắt, có hàng rào cây xanh bảo vệ, ...
1.3. Những nghiên cứu phủ xanh đất trống đồi trọc tại tỉnh Hoà Bình
Tại Hoà Bình, công tác phủ xanh đất trống đồi núi trọc chủ yếu được
thực hiện qua các chương trình do Nhà nước đầu tư: Dự án trồng rừng PAM,
Dự án trồng rừng 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án hỗ trợ phát
triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015, Dự án LNXH Sông Đà, Dự án
trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở huyện Cao Phong, Dự án phát triển
vùng nguyên liệu cà phê tại một số xã vùng cao của huyện Lạc Sơn… Và mới
đây nhất có 2 huyện Cao Phong và Đà Bắc đang triển khai dự án D&G trồng
rừng nguyên liệu Keo tai tượng.
Nhìn chung những nghiên cứu về phủ xanh đất trống đồi núi trọc còn
rất hạn chế.
18
1.4. Một số nhận xét chung
Từ những phân tích trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Trên thế giới những nghiên cứu phủ xanh đât trống đồi trọc chủ yếu là
xây dựng mô hình nông lâm kết hợp theo hướng đa loài, nhiều tầng, nhiều sản
phẩm, cải tiến các hệ canh tác nông lâm nghiệp bằng việc sử dụng các loài
cây đa chức năng (trong đó chủ yếu là cây họ đậu) để tăng năng suất cây
trồng và bảo vệ đất.
Ở trong nước, phủ xanh đất trống đồi núi trọc là nhiệm vụ cấp thiết.
Điều đó được thể hiện qua các chương trình đầu tư cho trồng rừng của Nhà
nước, các chương trình nghiên cứu từ cấp Nhà nước đến cấp Bộ, cấp cơ sở đã
và đang thực hiện tại các trung tâm, viện nghiên cứu khoa học.
Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung phủ xanh đất
xây dựng mô hình, kỹ thuật trồng và chăm sóc cây. Đối với các mô hình
khoanh nuôi là các biện pháp lâm sinh (phát tỉa, trồng dặm) nhằm nâng cao
năng suất và chất lượng rừng. Trong khi những nghiên cứu về yêu cầu xã hội,
quy trình thực hiện, quyền lợi nghĩa vụ của người dân, đầu tư về khoa học kỹ
thuật, về vốn còn chưa được quan tâm thích đáng. Những thiếu sót này là
những nguyên nhân làm cho các mô hình ít đi vào cuộc sống và thường thất
bại sau khi hết kỳ hạn của chương trình, dự án.
- Các giải pháp phủ xanh cho từng đối tượng chưa rõ ràng, dẫn đến hiệu
quả không cao. Thực tế cho thấy có những vùng đất trống đồi trọc nếu phủ
xanh bằng giải pháp nông lâm kết hợp, làm kinh tế trang trại thì sẽ cho hiệu
quả cao hơn rất nhiều so với khoanh nuôi phục hồi rừng. Nhưng cũng có
những khu vực nếu phủ xanh bằng giải pháp làm kinh tế trang trại, vườn rừng
hay nông lâm kết hợp thì sẽ thu được lợi nhuận rất cao, nhưng vì tính cấp
thiết thì cần phải phủ xanh bằng phục hồi rừng. Đây cũng là vấn đề tồn tại cần
được giải quyết.
20
Tất cả những nội dung trên đã được đề cập đến trong báo cáo năm 2005
của Bộ NN&PTNT trình Chính phủ về việc thực hiện chương trình trồng mới
5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 – 2004.
- Huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình là một huyện miền núi thuộc vùng
miền núi phía Tây Bắc nước ta. Tuy nhiên, những nghiên cứu về phủ xanh đất
trống đồi trọc còn rất ít, đặc biệt là những nghiên cứu về giải pháp và quy
trình thực hiện nhiệm vụ phủ xanh đất trống đồi trọc tại địa phương.
- Phần lớn diện tích đất trống đồi trọc của huyện đều phân bố ở những
xã vùng sâu, vùng xa, địa hình dốc. Điều này có ảnh hưởng đến khả năng
phòng hộ và bảo vệ nguồn nước cũng như phòng tránh thiên tai không chỉ cho
các xã trong huyện mà còn đối với toàn tỉnh cũng như các địa phương lân cận.
- Đánh giá hiện trạng thảm thực vật.
- Phân loại đất trống trọc và đánh giá tiềm năng đất trống đồi trọc.
- Đánh giá thực trạng của công tác phủ xanh đất trống đồi trọc.
+ Tình hình giao đất giao rừng.
22
+ Đánh giá về đầu tư cho phủ xanh đất trống trọc (chủ trương chính
sách, vốn, khoa học công nghệ...).
+ Các hoạt động phủ xanh đất trống trọc khi được giao quyền sử dụng
đất.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình phủ xanh đất trống trọc.
+ Điều tra phân loại các mô hình phủ xanh.
+ Hiệu quả của các mô hình phủ xanh.
- Đề xuất giải pháp phủ xanh đất trống đồi trọc.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Điều tra ngoài thực địa được thực hiện theo phương pháp điều tra tuyến
và ô tiêu chuẩn theo phương pháp ngẫu nhiên.
Tuyến điều tra được thiết lập vuông góc hoặc song song với đường
đồng mức. Đã thực hiện 5 vùng nghiên cứu như sau:
- Vùng 1: đi qua các xã Miền Đồi, Tuân Đạo, Tân Lập, Mỹ Thành,
Nhân Nghĩa, Quý Hoà và Văn Nghĩa.
- Vùng 2: đi qua các xã Phú Lương, Phúc Tuy, Văn Sơn, Chí Đạo,
Chí Thiện và Thượng Cốc.
- Vùng 3: đi qua các xã Yên Nghiệp, Tân Mỹ, Vũ Lâm, Bình
Chân, Bình Cảng và Ân Nghĩa.
- Vùng 4: đi qua các xã Ngọc Lâu, Tự Do, Ngọc Sơn.
- Vùng 5: đi qua vùng trung tâm huyện gồm các xã Liên Vũ, Vụ
mô hình phủ xanh. Cụ thể đã làm việc với Ban lãnh đạo của Hạt Kiểm lâm,
Ban quản lý rừng phòng hộ huyện để thu thập số liệu về rừng và đất rừng, các
thông tin về việc thực hiện dự án 661, số liệu giao đất giao rừng, các biện
pháp kỹ thuật áp dụng trong khoanh nuôi phục hồi rừng. Thực hiện phỏng vấn
và làm việc với lãnh đạo các cấp xã, thôn, cán bộ chuyên môn về lâm nghiệp,
khuyến nông, khuyến lâm để tìm hiểu tình hình chăm sóc bảo vệ rừng, mức