đánh giá hiệu quả nuôi sinh khối của hai dòng artemia vĩnh châu và great salt lake trong ao đất tại ninh hòa - khánh hòa - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
o0o
PHAN THÀNH ĐÔNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NUÔI SINH KHỐI CỦA HAI
DÒNG ARTEMIA VĨNH CHÂU VÀ GREAT SALT LAKE
TRONG AO ĐẤT TẠI NINH HÒA - KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang -2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Đánh giá hiệu quả nuôi sinh khối của hai dòng
Artemia Vĩnh Châu và Great Salt Lake trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh Hòa”
là công trình nghiên cứu của tôi. Các kết quả thu được trong luận văn này là thành quả
nghiên cứu thực tế và độc lập của cá nhân tôi.
Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực,
chính xác và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình hoặc trong thông báo
khoa học nào. Tôi xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường, Bộ Giáo dục & Đào tạo và
pháp luật về lời cam đoan này.

Học viên

Phan Thành Đông ii

LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin trân trọng kính gởi đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha
Trang, Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại học Trường Đại học
Nha Trang lòng biết ơn chân thành vì tất cả những hổ trợ giúp đỡ trong khoảng thời
gian tôi học tập và nghiên cứu tại Trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai thầy hướng dẫn: Tiến sĩ Phạm Quốc
Hùng và Tiến sĩ Nguyễn Tấn Sỹ đã hướng dẫn đề tài và giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn đúng tiến độ.
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty muối Nha Trang đã tạo điều kiện về nguồn
nước ót để tôi thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị ở khu vực
Tân Ngọc - Ninh Ích - Ninh Hòa đã có nhiều giúp đỡ khi tôi thực hiện đề tài.
Kính gởi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Tấn Sỹ đã giúp đỡ tôi về ao nuôi, các

1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời của Artemia 6
1.1.6. Đặc điểm sinh sản 8
1.2. Một số đặc điểm của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và dòng Great Salt
Lake 10
1.2.1. Dòng Vĩnh Châu. 10
1.2.2. Dòng Great Salt Lake 10
1.3. Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản 11

iv

1.4. Tình hình nghiên cứu về nuôi thu sinh khối Artemia ở Việt Nam và trên thế
giới. 13
1.4.1. Trên thế giới 13
1.4.2. Tình hình nghiên cứu nuôi sinh khối Artemia ở Việt Nam 14
1.5. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 19
1.5.1.Vị trí địa lý 19
1.5.2. Khí hậu 21
1.5.3. Thủy văn 22
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu. 23
2.1.3.Thời gian nghiên cứu. 23
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1. Bố trí thí nghiệm 25
2.3.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 26
2.3.2.1. Xác định các yếu tố môi trường 26
2.3.2.2. Xác định tỷ lệ nở của trứng bào xác 27
2.3.2.3. Theo dõi sự sinh trưởng của Artemia 27

3.1.7. Năng suất sinh khối Artemia franciscana của 2 nghiệm thức 51

vi

3.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và dòng
GSL nuôi sinh khối trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh Hòa 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 58
1. Kết luận 58
1.1. Về hiệu quả sinh học 58
1.2. Về hiệu quả kinh tế 58
2. Đề xuất 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTV Cộng tác viên
DHA (22:6n-3) Axít decosahexaenoic
DO Dissolved oxygen Nồng độ oxy hòa tan (mg/L)
ĐH Đại học
ĐVT Đơn vị tính
GSL Great Salt Lake Hồ muối lớn
Lux Luxơ Đơn vị chiếu sáng
HUFA Highly unsaturated fatty acids Axít béo có mức chưa no cao.
Mg/L Miligam trên lít
Mg Miligam
Mm Milimet
N Nauplius Ấu trùng
N/L Nauplius/lít

Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 24
Hình 2.3. Sơ đồ ao thí nghiệm 26
Hình 2.4. Thiết bị theo dõi các yếu tố môi trường 27
Hình 2.5: Cách đo chiều dài của Nauplius và Artemia trưởng thành 28
Hình 3.1: Kết quả gây màu nước ở các nghiệm thức 38
Hình 3.2: Tốc độ sinh trưởng về chiều dài của Artemia fanciscana 40
Hình 3.3: Tốc độ sinh trưởng về khối lượng của Artemia 42
Hình 3.4: Phần trăm Artemia franciscana cái đẻ con (nauplius) ở các nghiệm thức
trong 12 tuần nuôi 48
Hình 3.5: Biến động mật độ quần thể trong ao nuôi thí nghiệm 50
Hình 3.6: Thu sinh khối Artemia franciscana 52
Hình 3.7: Năng suất sinh khối (tấn/ha/12 tuần nuôi) ở các ao nuôi 52

ix

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 3.1: Diễn biến các yếu tố môi trường ở các nghiệm thức 33
Bảng 3.2: Sinh trưởng về chiều dài (mm) của Artemia franciscana 38
Bảng 3.3: Sinh trưởng về khối lượng tươi (mg/cá thể) của Artemia franciscana 41
Bảng 3.4: Tỷ lệ sống (%) của A. franciscana ở các nghiệm thức 43
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu về sinh sản của Artemia franciscana 45
Bảng 3.6: Sức sinh sản (phôi nauplius/con cái) của Artemia franciscana ở 2 nghiệm
thức qua các tuần nuôi 47
Bảng 3.7: Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế nuôi thu sinh khối 54
A. franciscana dòng Vĩnh Châu 54
Bảng 3.8: Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế nuôi thu sinh khối 55
A. franciscana dòng GSL 55
Bảng 3.9: So sánh hiệu quả kinh tế của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và GSL

địa bàn là rất ít và còn nhiều hạn chế, chỉ có một vài nghiên cứu về độ mặn, mật độ,
phân lập, lưu giữ và nhân sinh khối tảo làm thức ăn cho Artemia nhưng chưa có nghiên
cứu cụ thể về dòng Artemia franciscana phù hợp với điều kiện môi trường địa phương
và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung các
cơ sở khoa học và xác định dòng Artemia franciscana phù hợp để nuôi sinh khối
Artemia tại Ninh Hòa - Khánh Hòa.

2

Từ thực tiễn trên, đề tài luận văn thạc sĩ “Đánh giá hiệu quả nuôi sinh khối
của hai dòng Artemia Vĩnh Châu và dòng Great Salt Lake trong ao đất tại Ninh
Hòa - Khánh Hòa” được thực hiện:
Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
 Đánh giá khả năng phát triển và hiệu quả kinh tế mang lại của 2 dòng
Artemia franciscana điều kiện ao đất tại Ninh Hòa – Khánh Hòa.
 Xác định được dòng Artemia franciscana thích hợp với điều kiện ao nuôi
tại Ninh Hòa - Khánh Hòa và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Nội dung nghiên cứu
 Đánh giá hiệu quả sinh học của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và
dòng Great Salt Lake nuôi sinh khối trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh
Hòa.
 Đánh giá hiệu quả kinh tế của Artemia franciscana dòng Vĩnh Châu và
dòng Great Salt Lake nuôi sinh khối trong ao đất tại Ninh Hòa - Khánh
Hòa.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
 Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung các dẫn liệu có giá trị
khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.
 Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ xác định được dòng Artemia phù
hợp với điều kiện nuôi trong ao đất và mang lại hiệu quả kinh tế cao ở
Ninh Hòa - Khánh Hòa.

1.1.2. Hình thái
Artemia thường có thân nhỏ, dài khoảng 1,2 – 1,5 cm. Artemia có thân phân đốt
rõ rệt gồm 3 phần: đầu, ngực và bụng, không có giáp đầu ngực [8].
Chính giữa phía trước đầu có mắt đơn, hai bên có đôi cuống mắt kép. Đầu có 5
đôi phần phụ. Đôi xúc giác thứ 2 của con cái và con đực khác nhau. Ở con cái chỉ là
một mấu lồi nhỏ. Ở con đực là thuỳ bám, thuỳ to khoẻ dùng để túm và cưỡi con cái
trước khi giao cấu. Hàm lớn, hàm nhỏ 1 và 2 cấu thành miệng [8].
Phần ngực có 11 đốt và 11 đôi chân ngực; chân ngực có dạng bản rộng gồm lá
trong, lá ngoài và lá quạt cấu thành. Giữa lá quạt và lá ngoài có một mảnh nhỏ mềm
mại đó là mang – cơ quan hô hấp của Artemia. Chân ngực phát triển và có 3 chức
năng: bơi lội, lọc thức ăn và hô hấp [8].
Phần bụng có 8 đốt, không có phụ bộ. Ở con cái đốt 1 và đốt 2 của phần bụng
kết hợp với nhau hình thành nang trứng. Ở con đực hình thành đôi cơ quan giao cấu.
Đốt cuối cùng phần bụng có chẻ đuôi dẹt và bằng, xung quanh có nhiều tiêm mao,
đuôi lớn hay nhỏ, tiêm mao nhiều hay ít thay đổi theo sự biến đổi của độ mặn. Độ mặn
càng cao, đuôi thu nhỏ lại [8].
Hình 1.2: Artemia franciscana
1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng của Artemia
Artemia có tập tính ăn lọc không chọn lựa và thức ăn của chúng là vi tảo, vi
khuẩn, sinh vật đơn bào, mùn bã hữu cơ,… Chúng có khả năng lọc được những hạt lơ
lửng trong môi trường nước có kích thước từ 1-50 µm [19, 30, 45]. Ở giai đoạn ấu
trùng chúng có thể sử dụng thức ăn có kích cỡ 25 – 30 µm và 40 – 50 µm khi trưởng
thành [31]. Ở ruộng nuôi thức ăn cho Artemia chủ yếu dựa vào việc bón phân gây màu
tảo trực tiếp trong ao nuôi hoặc gián tiếp trong ao gây nuôi tảo. Ngoài ra chúng còn sử

o
C Artemia có thể chết rải rác hoặc chết hàng loạt, sức
sinh sản giảm và khả năng phục hồi quần thể chậm. Khi nuôi Artemia ở phòng thí
nghiệm (nhiệt độ ổn định) cũng đã tìm thấy: ở nhiệt độ 30
o
C số lứa đẻ con (nauplius)
cao gấp chín lần so với nuôi ở nhiệt độ 26
o
C [1]. Đối với Artemia franciscana dòng
Vĩnh Châu -Việt Nam có đặc điểm thích nghi khá cao, đặc biệt với nhiệt độ, chúng có
thể tồn tại được ở nhiệt độ 38 - 41
o
C, thậm chí 42
o
C [4]. 6

1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng và vòng đời của Artemia
Theo Sorgeloos (1980) [12], Artemia có vòng đời ngắn (ở điều kiện tối ưu
Artemia có thể phát triển thành con trưởng thành và tham gia sinh sản sau 7-8 ngày
nuôi). Trong quần thể Artemia luôn có hai hình thức sinh sản là đẻ con và đẻ trứng;
sức sinh sản cao (trung bình 1500 - 2500 phôi). Số trứng/lần đẻ/con cái 70 – 300
trứng, nếu gây nuôi trong phòng thí nghiệm thì chỉ khoảng 30 – 40 trứng [6]. Hình 1.3: Vòng đời phát triển của Artemia [43]

Ngoài tự nhiên, Artemia đẻ trứng bào xác nổi trên mặt nước và được sóng gió

Artemia trưởng thành dài khoảng 10 mm (tùy dòng), cơ thể thon dài với hai mắt
kép, ống tiêu hóa thẳng, anten cảm giác và 11 đôi chân ngực. Con đực có đôi gai giao
cấu ở phần sau của vùng ngực. Đối với con cái rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử
cung nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11.

8Hình 1.5: Artemia trưởng thành (đực bên trái-cái bên phải) [43]
Tuổi thọ trung bình của cá thể Artemia trong các ao nuôi ở ruộng muối khoảng
40 - 60 ngày tùy thuộc điều kiện môi trường [2]. Tuy nhiên, quần thể Artemia trong
ruộng muối vẫn tiếp tục duy trì ngay cả trong mùa mưa khi độ mặn trong ao nuôi giảm
thấp (60 ppt) nếu ruộng nuôi không bị địch hại (tôm, cá, copepoda…) tấn công và vẫn
được cung cấp đầy đủ thức ăn [9]. Vì thế nên có thể kéo dài vụ nuôi nếu dự trữ đủ
nguồn nước mặn trong hệ thống ao chứa hoặc khi độ mặn giảm thấp đến 60 ppt thì
phải quản lý tốt hệ thống ao nuôi kiểm soát và khống chế sự phát triển của các địch hại
của Artemia [7].
1.1.6. Đặc điểm sinh sản
Khi trưởng thành con đực dùng đôi càng ôm phần bụng của con cái gọi là “hiện
tượng bắt cặp” để thụ tinh cho hoạt động sinh sản và hiện tượng này kéo dài suốt vòng
đời của chúng. Quá trình giao phối xảy ra trong tư thế bắt cặp, con đực sẽ cong mình
và dùng một trong hai gai sinh dục chuyển sản phẩm sinh dục vào buồng trứng của
con cái và trứng sẽ được thụ tinh. Trứng phát triển trong hai buồng trứng dạng ống ở
phần bụng. Trong vòng đời con cái có thể tham gia cả hai phương thức sinh sản là đẻ
con và đẻ trứng; trung bình mỗi con đẻ khoảng 1500 - 2500 phôi [8].
9


C, hàm lượng oxy hòa tan không thấp hơn 2 mg/L,
pH từ trung tính đến kiềm (7,0-9,0) [8].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vân và CTV (2010) [23], dòng Vĩnh
Châu có tỷ lệ sống cao trung bình đạt 89,9 % sau 14 ngày nuôi ở độ mặn 80 ppt, tốc độ
tăng trưởng trung bình 0,45 cm/ngày. Với vòng đời đạt 35 - 39 ngày và các chỉ tiêu
sinh sản như sau: Thời gian tiền sinh sản 16,2 ± 0,6 (ngày), thời gian sinh sản 15,4 ±
5,9 (ngày), thời gian hậu sinh sản 2,1 ± 1,6 (ngày), số lứa/con cái: 5,23 ± 1,96, chu kỳ
sinh sản 4,09 ± 1,29 (ngày), sức sinh sản 84 ± 26 (phôi/lần), tổng Cyst/con cái: 87 ±
44, tổng Nauplius/con cái: 392 ± 248, tổng phôi/con cái: 479 ± 258, tỷ lệ
Nauplius/vòng đời (%): 90,9 ± 11,8, số Nauplius/lứa: 92 ± 33 tất cả được thu thập ở độ
mặn 80 ppt.
1.2.2. Dòng Great Salt Lake.
Trên thế giới và Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về đặc điểm của dòng này
và trứng bào xác, sinh khối chủ yếu được thu từ ngoài tự nhiên. Nhưng nhìn chung có
thể nhận thấy những đặc điểm đặc trưng: Dòng GSL có nguồn gốc từ Hồ muối lớn -
Mỹ, có khả năng phát triển và chịu đựng tốt ở nhiệt độ cao. Theo Vanhaecke (1984)
[49] thì loài này có đặc điểm khác xa so với loài thu từ SFB. Hồ mặn Great Salt là một
trong các hồ nước mặn lớn trên thế giới với nhiệt độ biến động rất lớn trong năm (từ -
2
o
C đến 42
o
C vào mùa hè) mặc dù vậy nước không hề đóng băng do độ mặn quá cao

11

và vẫn quan sát thấy Artemia ở 3
o
C, từ lý luận trên, có thể nhận định đây là một dòng
Artemia franciscana rộng nhiệt. Kết quả theo dõi của Vanhaecke và Sorgeloos, 1989

phần lớn các loại tôm cá.
Hiện nay các trại sản xuất giống, ấu trùng Artemia được sử dụng rộng rãi nhất
bởi những lý do sau [8]:
 Giá trị dinh dưỡng cao (protein, acid béo không no HUFA cao).
 Sẵn có trên thị trường dưới dạng trứng bào xác (còn gọi là cyst).

12

 Không phụ thuộc mùa vụ, thời tiết và có thể thu với số lượng lớn (trứng bào
xác nở sau 24 giờ tính từ khi ấp).
 Có thể khống chế được bệnh cho ấu trùng nuôi (xử lý ấu trùng Artemia
trước khi cho ăn hoặc sử dụng chúng như một bao sinh học để chứa các chất
dinh dưỡng đặc biệt là thuốc phòng trị bệnh chuyển tới ấu trùng nuôi) [21].
Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành được gọi là sinh khối có giá trị dinh
dưỡng cao hơn Artemia mới nở từ trứng và được sử dụng là thức ăn phổ biến trong các
trại sản xuất giống, trại ương giống hay nuôi vỗ tôm, cá bố mẹ.
Artemia trưởng thành có giá trị dinh dưỡng rất cao (lớp vỏ giáp mỏng hơn 1
µm), chiếm 60 % lượng đạm và rất giàu amino acid tính trên khối lượng khô. Thêm
vào đó Artemia còn chứa một lượng đáng kể vitamin, sắc tố. Sử dụng sinh khối
Artemia trưởng thành có thể gây phát dục cho tôm bố mẹ mà không cần cắt mắt. Nhiều
nghiên cứu cũng đã chứng minh việc sử dụng sinh khối Artemia để nuôi vỗ tôm, cá bố
mẹ đã kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ và cải thiện chất
lượng ấu trùng [8].
Artemia có thân mềm với lớp vỏ mỏng, chúng bơi lội chậm chạp trong môi
trường nước có màu sắc hấp dẫn, trong điều kiện nước ngọt chúng có thể sống khoảng
8 giờ. Chính vì vậy, Artemia là loại thức ăn lý tưởng cho ấu trùng các loại tôm cá ở
giai đoạn đầu phát triển. Artemia không chỉ có giá trị sử dụng tiện lợi mà còn có giá trị
dinh dưỡng cao: hàm lượng protein chiếm 62 % và 27 % lipid (tính theo khối lượng
khô)…[8].
Các đặc điểm trên kết hợp với kỹ thuật làm giàu hoá sinh học nhằm tăng chất

nghiên cứu thu trứng bào xác Artemia từ tự nhiên (Argentina, Australia, Canada,
Colombia, Pháp, Trung Quốc,…). Cuối những năm 1980, Trường Đại học Ghent ở Bỉ
đã có các chương trình nghiên cứu quốc tế về nuôi và sử dụng sinh khối Artemia. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu và phát triển nghề nuôi Artemia trên thế giới cho đến nay chủ
yếu nhằm để gia tăng hiệu quả cho việc thu hoạch trứng bào xác (cyst) Artemia. Trong
khi đó, những nghiên cứu về sinh khối Artemia chưa được quan tâm đúng mức.
Trong giai đoạn gần đây nghề nuôi tôm, cá biển ở nhiều nước trên thế giới phát
triển mạnh (Thái Lan, Trung Quốc, Philippin, Indonesia,…) nên nhu cầu về trứng bào
xác và sinh khối Artemia ngày càng tăng. Do đó, nhiều quốc gia đã bắt đầu quan tâm
nghiên cứu nuôi thu sinh khối Artemia.

14

Sorgeloos, (1975) [42], nuôi sinh khối Artemia trong các thể tích nhỏ từ 1 - 20 L,
trong môi trường nước biển tự nhiên có độ mặn 35 ppt, pH từ 8,0 - 8,5, nhiệt độ 28 –
30
o
C với thức ăn sử dụng là sử dụng tảo sống và tảo khô.
Sorgeloos và Bossuyt (1980) [41] đã thử nghiệm nuôi sinh khối Artemia với 2
mật độ nuôi là 5000 - 10000 Nauplius/L, trong các bể nuôi có thể tích từ 2 - 5 m
3
, thức
ăn để nuôi Artemia là các phụ phẩm nông nghiệp như bột bắp, bột cám gạo. Trong
năm này Duivodi và CTV (1980) [31] cũng đã nuôi sinh khối Artemia trong các bể xi
măng để xác định sự phát triển ở các độ mặn khác nhau.
Zmora và CTV (2002) [45] đã nuôi sinh khối Artemia trong ao ở Israel bằng cách
bổ sung vào ao từ 3 - 5 triệu Nauplius hàng ngày, năng suất trung bình đạt 5
kg/ngày/1000 m
2
, tương đương 1500 kg/ha/tháng và nuôi kéo dài trong nhiều tháng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status