BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ĐÀO TẤN ĐẠT
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KIÊN
LONG CHI NHÁNH KHÁNH HOÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ĐÀO TẤN ĐẠT
Nguyễn Văn Ngọc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực
hiện đề tài nghiên cứu này.
Để có được những số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài, tác giả chân thành
cảm ơn các chuyên gia là quản lý các phòng ban của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam –
Chi nhánh tỉnh Khánh Hoà, các cấp quản lý của Ngân hàng TMCP Liên Long – Chi
nhánh Khánh Hoà, Ngân hàng bạn trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà.
Sau cùng tác giả không quên nói lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và
bạn bè đã ủng hộ, hỗ trợ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả Đào Tấn Đạt
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
thương mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà” là công trình nghiên cứu độc
lập và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Ngọc.
Các thông tin, số liệu nghiên cứu trong luận văn là chính xác, trung thực, nội
1.1.1.5. Phân loại cạnh tranh 13
1.1.2. Năng lực cạnh tranh 15
1.1.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh 15
1.1.2.2. Các cấp độ năng lực cạnh tranh 16
1.2. Cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại 20
1.2.1. Khái niệm về NHTM 20
1.2.2. Đặc điểm hoạt động của NHTM 21
1.2.3. Vai trò và chức năng của NHTM 23
1.3. Mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh 26
1.3.1. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter 26
1.3.2. Mô hình 6M của Phillip Kotler 31
1.3.3. Phân tích các thành tố từ Mô hình CAMELS 32
1.3.4. Tổng hợp các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại35
1.3.4.1 Năng lực tài chính 35
1.3.4.2 Năng lực hoạt động 37 iv
1.3.4.3 Năng lực điều hành 37
1.3.4.4 Năng lực công nghệ thông tin 38
1.3.4.5 Khả năng cung ứng dịch vụ 38
1.4. Xây dựng Ma trận hình ảnh cạnh tranh 38
1.4.1. Xác định các yếu tố đo lường 38
1.4.2. Xây dựng Ma trận 39
1.5. Đề xuất chiến lược từ Ma trận SWOT 40
Kết luận Chương 1 43
Chương II: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KIÊN LONG – CHI NHÁNH KHÁNH HOÀ 44
2.1 Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Kiên Long 44
3.4.5.1 Phân tích vi mô - Điểm mạnh 86
3.4.5.2 Phân tích vi mô - Điểm yếu 87
3.4.5.3 Phân tích vĩ mô - Cơ hội 87
3.4.5.4 Phân tích vĩ mô - Thách thức 87
3.4.5.5 Ma trận SWOT 89
Kết luận Chương II 90
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG CHI NHÁNH KHÁNH HOÀ 91
3.1 Một số định hướng chung 91
3.1.1 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa năm 2013 – 2020 và
định hướng đến năm 2030 91
3.1.2 Định hướng phát triển của Ngân hàng Kiên Long 92
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP
Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà 93
3.2.1 Giải pháp nâng cao năng lực tài chính 93
3.2.2 Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động 94
3.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực quản trị điều hành, kiểm soát rủi ro 97
3.2.4 Ứng dụng công nghệ ngân hàng 98
3.2.5 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 99
3.3 Kiến nghị 100
3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 100
3.3.2 Kiến nghị đối với Hội sở Ngân hàng Kiên Long 101
3.3.3 Kiến nghị đối với Ban Giám đốc Chi nhánh Khánh Hoà 102
Kết luận Chương 3 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 vi
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TCTD
Tổ chức tín dụng
TD
Tín dụng
TMCP
Thương mại cổ phần
TMNN
Thương mại Nhà nước
TTQT
Thanh toán quốc tế
VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WEF
The World Economic Forum - Diễn đàn kinh tế thế giới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 – Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM 38
Bảng 1.2 – Kết cấu của ma trận hình ảnh cạnh tranh 40
Bảng 1.3 – Ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) 41
Bảng 2.1 – Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Kiên Long 50
Bảng 2.2 – Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hòa 57
Bảng 2.3 – Cơ cấu tài sản của Ngân hàng Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hòa 58
Bảng 2.4 – Các chỉ số an toàn hoạt động của Ngân hàng Kiên Long 59
Hình 2.6 – Giá trị cốt lõi trong thương hiệu của Kienlongbank 61
Hình 2.7 – Sơ đồ cơ cấu tổ chức chi nhánh – Ngân hàng TMCP Kiên Long 69
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 – Năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với một số nước trong khu vực
năm 2012 17
Biểu đồ 2.1 – Đánh giá chất lượng dịch vụ của Kienlongbank Khánh Hòa 67
Biểu đồ 2.2 – Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với Kienlongbank Khánh
Hòa 67
Biểu đồ 2.3 – Kết quả so sánh nhân tố năng lực cạnh tranh các chi nhánh NHTM 79
Biểu đồ 2.4 – Biểu diễn chỉ số năng lực cạnh tranh bình quân của một số chi nhánh
NHTM tại Khánh Hòa 86 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng phải phát triển đủ mạnh để
đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, trong đó ngân hàng thương mại (NHTM) có vai trò
hết sức quan trọng, vì NHTM không chỉ là trung gian điều phối vốn chủ yếu cho nền
kinh tế, mà còn giúp ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy đầu tư và sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, thị trường Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hoà nói riêng, hệ thống các
tương lai.
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá năng lực của ngân hàng thông qua việc phân tích các tiêu chí đánh
giá: Quy mô vốn, tổng tài sản, khả năng thanh khoản, năng lực quản lý, nguồn nhân
lực, công nghệ, sản phẩm dịch vụ, hệ thống mạng lưới, …
- So sánh năng lực cạnh tranh của Kienlongbank Khánh Hòa với một số chi
nhánh NHTM khác trên địa bàn bằng ma trận hình ảnh cạnh tranh.
- Phân tích môi trường kinh doanh bằng ma trận SWOT nhằm đánh giá lợi thế
cạnh tranh cũng như những thách thức của ngân hàng trong tình hình mới.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần
Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến năng lực
cạnh tranh của Ngân hàng Kiên Long và các ngân hàng thương mại khác trên địa bàn
tỉnh Khánh Hoà, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu :
Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi
nhánh tỉnh Khánh Hòa, ngân hàng Kiên Long và các nguồn khác.
Số liệu sơ cấp: Thông qua điều tra một số chuyên gia về lĩnh vực ngân hàng
của Ngân hàng Nhà nước tỉnh Khánh Hòa và Ngân hàng TMCP Kiên Long –
Chi nhánh Khánh Hòa.
- Phương pháp thống kê so sánh, mô tả, tổng hợp.
nghiên cứu nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM cũng như đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đối với NHTM, về phương pháp nghiên cứu,
các nghiên cứu đã phân tích đánh giá dựa vào các tiêu chí về năng lực tài chính, năng
lực hoạt động, năng lực quản lý và công nghệ.
4
Thời gian gần đây, nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các NHTM là đề tài khá
phổ biến của các luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Nha Trang. Cụ thể như: [Nguyễn
Văn Dương (2012), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Ngoại
thương – Chi nhánh Nha Trang”], [Nguyễn Mậu Trừ (2012), “Nâng cao khả năng
cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh Khánh
Hoà”], [Nguyễn Thị Xuân Châu (2012), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân
hàng TMCP Hàng Hải – Chi nhánh Khánh Hòa”], [Võ Phượng Vy (2012), “Giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng SeABank tại tỉnh Khánh Hòa đến năm
2015”],…. Các luận văn đã nêu tính cấp thiết của việc phải nâng cao năng lực cạnh
tranh của các NHTM tại Khánh Hòa, cũng như hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh
tranh, năng lực cạnh tranh của NHTM. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích,
đánh giá các tiêu chí như năng lực tài chính, năng lực hoạt động, trình độ quản lý,
công nghệ và khả năng cung ứng dịch vụ ngân hàng. Đồng thời, bằng phương pháp
chuyên gia, các nghiên cứu đã sử dụng ma trận hình ảnh cạnh tranh để đánh giá, so
sánh khả năng cạnh tranh của một số chi nhánh NHTM tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa
như: Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (Agribank), Ngân hàng Hàng hải (Maritimebank) và Ngân hàng Đông Nam
Á (SeABank) với các NHTM khác.
Theo cập nhật của tác giả, cho đến nay đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hoà” chưa được đề
và các tổ chức, cá nhân khác có nhu cầu nghiên cứu thêm.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài các phần như mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, …. Kết cấu
của luận văn bao gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long
– Chi nhánh Khánh Hòa.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại
cổ phần Kiên Long – Chi nhánh Khánh Hòa và kiến nghị.
6
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
1.1.1. Cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
“Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản. Điểm lại các lý thuyết cạnh tranh
trong lịch sử có thể thấy hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái
hiện đại. Trường phái cổ điển với các đại diện tiêu biểu như: Adam Smith, John Stuart
Mill, Darwin và K.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau
này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ gồm ba quan điểm tiếp cận:
Tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harverd; Tiếp cận
tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc học phái Viên; Tiếp
cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển của lý thuyết Tân cổ điển. Như vậy, cạnh tranh là
một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan
phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực
bên trong thúc để nền kinh tế phát triển. Mặc khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến thúc đẩy quá trình tích lũy và tập
trung tư bản không đồng đều giữa các doanh nghiệp.
Có thể có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các
định nghĩa trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau:
Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một
nhóm) người nhằm giành phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Cạnh tranh giúp
nâng cao vị thế của người này nhưng làm giảm vị thế của những người còn lại.
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà
các bên muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay một
thị trường, một khách hàng,…) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung
mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện
pháp lý, các thông lệ kinh doanh…
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh có thể sử dụng nhiều
công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh
tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ
chức các kênh tiêu thụ), cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua
hình thức thanh toán,…
8
1.1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, là một xu thế tất yếu khách
quan và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Đối với các doanh nghiệp,
cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi. Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh
9
Thứ tư, đối với quan hệ đối ngoại, cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng
thị trường ra khu vực và thế giới, tìm kiếm thị trường mới, liên doanh liên kết với các
doanh nghiệp nước ngoài, qua đó tham gia sâu vào phân công lao động và hợp tác kinh
tế quốc tế, tăng cường giao lưu vốn, lao động, khoa học công nghệ với các nước trên
thế giới.
Bên cạnh các mặt tích cực của cạnh tranh, luôn tồn tại các mặt còn hạn chế,
những khó khăn trở ngại đối với doanh nghiệp mà không phải bất cứ doanh nghiệp nào
cũng có thể vượt qua. Trên lý thuyết, cạnh tranh sẽ mang đến sự phát triển theo xu thế
lành mạnh của nền kinh tế thị trường. Song, trong một cuộc cạnh tranh bao giờ cũng
có “kẻ thắng người thua”, không bao giờ “kẻ thua” cũng có thể đứng dậy được vì hiệu
quả đồng vốn khi về không đúng mục đích sẽ khó có thể khôi phục lại được. Đó là qui
luật tất yếu và sắt đá của thị trường mà bất cứ nhà kinh doanh nào cũng biết, song lại
không biết lúc nào và ở đâu mình sẽ mất hoàn toàn đồng vốn ấy. Mặt trái của cạnh
tranh còn thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, cạnh tranh tất yếu dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp yếu sẽ bị phá
sản, gây tổn thất chung cho tổng thể nền kinh tế. Mặt khác, sự phá sản của doanh
nghiệp sẽ dẫn đến hàng loạt người lao động bị thất nghiệp, gây ra gánh nặng lớn cho
xã hội, buộc Nhà nước phải tăng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ việc làm. Bên cạnh đó nó
còn làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác.
Thứ hai, cạnh tranh tự do tạo một thị trường sôi động, nhưng ngược lại cũng dễ
dàng gây nên tình trạng lộn xộn, gây rối loạn nền kinh tế. Điều này dễ dẫn đến tình
trạng để đạt được mục đích một số nhà kinh doanh có thể bất chấp mọi thủ đoạn “phi
kinh tế”, “phi đạo đức kinh doanh”, bất chấp pháp luật và đạo đức kinh doanh để đánh
bại đối phương bằng mọi giá, gây hậu quả lớn về mặt KT-XH.
1.1.1.3. Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh
Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định: Cạnh tranh là
động lực phát triển nội tại của mỗi nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại
trong điều kiện của kinh tế thị trường. Người tiêu dùng và các doanh nghiệp tác động
là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu, do đó là động lực bên trong
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cùng với mục đích tối đa hoá lợi nhuận, cạnh tranh đã
thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn diễn ra không đều ở các ngành, lĩnh vực kinh
tế khác nhau. Đây là tiền đề vật chất của các hình thái cạnh tranh.
Cạnh tranh còn là môi trường đào thải các doanh nghiệp không thích nghi được
với các điều kiện của thị trường. Ở nghĩa này, cạnh tranh là nhân tố hiệu chỉnh bên
trong của thị trường. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích vì lợi nhuận
và chi phối thị trường. Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức và uy tín của
mỗi chủ thể kinh doanh. Dưới tác động điều tiết vĩ mô, sự cạnh tranh ở mỗi nước còn
có bản chất chính trị khác nhau.
11
Cạnh tranh khác về bản chất so với thi đua XHCN. Phong trào thi đua XHCN
nổi lên cùng với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, công cụ kế hoạch hoá như
những hiện tượng của động lực thúc đẩy và phát triển kinh tế. Hiện tượng này không
mang màu sắc của “đấu tranh” giành giật, bởi vì trong đời sống kinh tế, chỉ tồn tại
một nhà đầu tư duy nhất và đồng thời là chủ nhân của quyền lực công cộng, đó là Nhà
nước. Vì vậy, thi đua không thể xuất hiện với tính cách là cuộc đấu tranh và là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh khác với thi đấu thể thao. Trong cơ chế
thị trường, con người được tự do và sáng tạo, không có luật chơi cụ thể riêng rẽ trong
mọi điều kiện. Trên thương trường, không thể áp dụng luật chơi và thước đo thành
tích như trong thi đấu thể thao. Hơn nữa, sự đua tranh trong hoạt động cạnh tranh
cũng khác với cuộc đua tranh đoạt một giải thưởng. Nếu đua tranh để đoạt một giải
thưởng là cuộc đua tranh một lần thì cuộc đua tranh trong kinh tế thị trường diễn ra
liên tục. Người tham gia cạnh tranh không được phép dừng lại, luôn phải tiến về phía
trước để chiến thắng.
bởi vì vẫn còn những trường hợp chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro.
- Chức năng “xúc tác” tích cực làm cho sản xuất thích ứng với biến động của cầu
và công nghệ sản xuất. Điểm mấu chốt của kinh tế thị trường là quyền lựa chọn của
người tiêu dùng. Người tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm tốt nhất. Nếu
một sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu thị trường, thì sự lựa chọn của người tiêu
dùng và quy luật cạnh tranh sẽ buộc nó phải tự định hướng lại và hoàn thiện. Do cạnh
tranh, các chủ thể kinh doanh chủ động đổi mới công nghệ, áp dụng những kỹ thuật
tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và phương thức
kinh doanh để thoả mãn yêu cầu thị trường, nâng cao vị thế của chủ thể cạnh tranh và
sản phẩm.
- Chức năng phân phối và điều hoà thu nhập. Không một chủ thể kinh doanh nào
có thể mãi mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trường. Các
đối thủ cạnh tranh ngày đêm tìm kiếm những giải pháp hữu ích để ganh đua. Trong
từng thời điểm, một sản phẩm hàng hoá với những ưu việt nhất định thoả mãn yêu cầu
của người tiêu dùng có thể chiếm được ưu thế trên thị trường, song vị trí của nó luôn
bị đe dọa bởi các sản phẩm cùng loại khác tiến bộ hơn. Do cạnh tranh, các nhà kinh
doanh không thể lạm dụng được ưu thế của mình. Vì vậy, cạnh tranh sẽ tác động một
cách tích cực đến việc phân phối và điều hoà thu nhập.
- Chức năng động lực thúc đẩy đổi mới. Giống như quy luật tồn tại và đào thải của
tự nhiên, cạnh tranh kinh tế luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh - những chủ
thể kinh doanh có tiềm năng, có trình độ quản lý và tri thức về kỹ thuật công nghệ, có
tư duy kinh tế và kinh nghiệm thương trường sẽ tồn tại, phát triển và ngược lại. Do đó,
cạnh tranh trở thành động lực phát triển không chỉ thôi thúc mỗi cá nhân các chủ thể
kinh doanh, mà còn là động lực phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia.
13
+ Cạnh tranh dọc: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân
thấp nhất khác nhau cùng tham gia vào thị trường. Khi đó, mỗi doanh nghiệp điều
chỉnh mức giá và lượng hàng hóa bán ra của mình sao cho có thể đạt lợi nhuận cao
14
nhất trên cơ sở quan sát giá bán của các doanh nghiệp khác. Qui luật cạnh tranh dọc
chỉ ra rằng sự thay đổi về giá bán hoặc lượng bán của doanh nghiệp sẽ có điểm dừng,
tức là chỉ sau một thời gian nhất định sẽ hình thành một mức giá thống nhất trên thị
trường buộc các doanh nghiệp phải hiện đại hóa sản xuất để giảm chi phí mới có thể
tồn tại và phát triển trong thị trường cạnh tranh.
+ Cạnh tranh ngang: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình
quân thấp nhất ngang nhau. Khác với cạnh tranh dọc, cạnh tranh ngang dẫn tới kết
quả là không có doanh nghiệp nào bị loại ra khỏi thị trường do có mức chi phí bình
quân thấp nhất ngang nhau. So giá cả ở mức tối đa, lợi nhuận giảm dần và có thể là
không có lợi nhuận hoặc tất cả các doanh nghiệp bị đóng cửa do nhu cầu mua quá
thấp. Trong tình hình đó, vì mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp không thể chấp nhận
kết quả do cạnh tranh mang lại mà sẽ vận động theo hai xu hướng: hoặc là chấm dứt
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, thống nhất với nhau một mức giá bán tương đối
cao, giảm lượng bán trên toàn thị trường để giành độc quyền; hoặc là các doanh
nghiệp phải tìm mọi cách để giảm chi phí sản xuất để chuyển từ cạnh tranh ngang
sang cạnh tranh dọc nhằm trụ lại được trên thị trường với mức lợi nhuận cao.
- Căn cứ vào phạm vi địa lý có cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế,
trong đó cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay trên thị trường nội địa đó là cạnh tranh
giữa hàng nhập khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu. Trong hình thức cạnh tranh
này, các yếu tố như chất lượng sản phẩm tốt, giá bán thấp, thời gian đưa hàng hóa ra
thị trường đúng thời điểm và điều kiện dịch vụ sau bán hàng như bảo hành, bảo
năng duy trì được vị trí của một hàng hóa nào đó trên thị trường thì người ta dùng
thuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hóa” hoặc “năng lực cạnh tranh của hàng hóa”.
Đó cũng là chỉ mức độ hấp dẫn của hàng hóa đó với khách hàng.
Hiện nay, các thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả năng
cạnh tranh” được sử dụng nhiều ở Việt Nam, trong khi thông dụng trong tiếng Anh
đều được sử dụng là “competitiveness”, cho nên chúng cùng chung một nghĩa và có
thể dùng thay thế cho nhau. Một định nghĩa chính xác cho khái niệm này đến nay là
vấn đề gây nhiều tranh luận. Theo M. Porter, hiện chưa có một định nghĩa nào về
năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến. Dưới đây là một số định
nghĩa về năng lực cạnh tranh:
i) Đối với các lãnh đạo doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh có nghĩa là sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu mà có được.
ii) “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một
quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế” [21].
Nguyên nhân dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực cạnh tranh do
quan niệm khác nhau:
i) “Năng lực cạnh tranh chỉ có nghĩa khi xem xét ở cấp độ quốc gia là năng
suất” [24].