BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN NGỌC HẢI PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ
CỦA NGHỀ NUÔI CHIM YẾN TRONG NHÀ
TẠI KHÁNH HÒA LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.NGUYỄN VĂN NGỌC Khánh Hòa – 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp
đỡ của giáo viên hướng dẫn. Các thông tin, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và khách quan do chính tác giả thu thập và phân tích, chưa được sử dụng
để bảo vệ một báo cáo hay một công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Nha Trang, tháng 9 năm 2014
Học viên cao học Nguyễn Ngọc Hải
ii
LỜI CẢM ƠN
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt và các ký hiệu vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục hình viii
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
6
1.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế 6
1.1.1 Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế 6
1.1.2 Các quan điểm mới về hiệu quả kinh tế 10
1.1.3 Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế 13
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngh
ề nuôi chim yến
17
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 17
1.2.2 Kinh tế-xã hội 18
1.2.3 Tổ chức sản xuất và khoa học công nghệ 19
1.2.4 Tình hình thị trường. 19
1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề nuôi chim
yến
20
1.3.1 Các chỉ tiêu phản ảnh kết quả kinh tế 21
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế 21
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả xã hội 22
1.3.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả môi trường
Tóm tắt chương 1
22
22
47
3.1 Thực trạng kết quả sản xuất của các hộ nuôi chim yến trong nhà tại
Khánh Hòa
47
3.1.1 Thông tin chung về chủ hộ và các tổ chức nuôi chim yến trong nhà 47
3.1.2 Thông tin về tình hình sản xuất của các hộ nuôi chim yến trong nhà 62
3.2 Phân tích hiệu quả kinh tế các hộ nuôi chim yến trong nhà tại Khánh
Hòa
68
3.2.1 Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế theo quy mô 68
3.2.2 Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế theo phương thức nuôi 71
3.2.3 Đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường của nghề nuôi chim
yến trong nhà tại Khánh Hòa
73
3.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi chim yến trong nhà tại
Khánh Hòa
75
3.3.1 Thuận lợi 75
3.3.2 Khó khăn 75
v
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CHO NGHỀ
BỘ KHCN: Bộ khoa học công nghệ
BỘ NN&PTNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
BỘ TNMT: Bộ tài nguyên môi trường
CITES : Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and
Flora (Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp)
DNA: Deoxyribonucleic acid (chuỗi phân tử)
IUCN: International Union for Conservation of Nature and Natural Resources (Liên
minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế)
GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
SNA: System of National Accounts (Hệ thống tài khoản quốc gia)
TSCĐ : Tài sản cố định.
IC : Intermediational Cost (Chi phí trung gian)
GO: Gross Output (Tổng giá trị sản xuất)
MI : Mix Income (Thu nhập hỗn hợp)
Pr : Profit (Lợi nhuận)
TC : Total Cost (Tổng chi phí)
VA: Value Advance ( Giá trị gia tăng)
vii
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 : Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa 26
Hình 2.2 : Mô hình nhà yến ở Nha Trang 36
Hình 2.3: Nhà lồng nuôi chim yến 37
Hình 2.4 : Ánh sáng bên trong nhà yến 38
Hình 2.5 : Mối liên hệ giữa kích thước vòng đảo lượn bên ngoài, bên trong lối vào, chổ
thông tầng và phòng ở của khâu thiết kế nhà yến cần chú trọng 39
Hình 2.6 : Hệ thống giá tổ trong nhà yến 40
Hình 2.7: Quy trình kỹ thuật thiết kế, xây dựng mô hình nuôi chim yến trong
nhà 41
Hình 2.8 : Sơ đồ quy trình nghiên cứu 42
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á có bờ biển dài, nhiều ao hồ,
sông ngòi, thời tiết nhiệt đới gió mùa ẩm thích hợp với nghề nuôi chim yến
. Những điều kiện tự nhiên và khí hậu này cung cấp nguồn thức ăn phong
2
phú cho chim yến. Điều kiện sinh cảnh lý tưởng cho chim yến là vùng có
độ che phủ 30% rừng cây, 20% mặt nước, 50% đồng lúa và cây bụi thấp
với khí hậu nóng ẩm. Đất nước ta có bờ biển dài 3.444km với 4.000 hòn đảo
và nhiều dãy núi nhô ra biển hình thành các eo vịnh, đầm phá có lợi thế phát triển quần
thể chim yến Hàng. Gía trị sản phẩm yến sào Việt Nam được đánh giá cao hơn sản
phẩm của các nước trong khu vực. Thị trường xuất khẩu yến sào của Việt Nam khá ổn
định, duy trì khách hàng, thị trường truyền thống khá tốt. Đơn vị hàng đầu của yến sào
Việt Nam có trình độ khoa học công nghệ trong lĩnh vực chuyên ngành yến sào, được
tích lũy nhiều kinh nghiệm và giữ bí quyết công nghệ. Đội ngũ chuyên gia kỹ thuật có
trình độ, tinh thần tâm huyết, say mê nghề nghiệp và sự hỗ trợ của các nhà nghiên cứu
khoa học trong và ngoài nước. Các hộ nuôi chim yến ở nước ta có tinh thần lao động
cần cù, chịu khó, tư duy sáng tạo là thế mạnh lớn đối với ngành nghề đặc thù này.
Khánh Hòa với lợi thế về ngành nghề khai thác yến sào truyền thống và lâu đời,
quần thể chim yến trên các đảo với số lượng ngày càng tăng do công tác bảo vệ và
khai thác có khoa học, ứng dụng tốt những thành tựu khoa học công nghệ mới. Loại
chim yến sống trong nhà đã được công ty Yến Sào Khánh Hòa quản lý phát triển quần
thể từ năm 2004 đến nay đã nhân đàn nuôi thành công trong toàn tỉnh Khánh Hòa và
các tỉnh trên toàn quốc. Môi trường sống vi mô của chim yến tại địa phương Khánh
Hòa được đảm bảo như : nhiệt độ trong nhà yến và nơi làm tổ từ 27
0
C – 31
0
C, độ ẩm
không khí nằm trong phạm vi 70%-85% Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển
nghề nuôi chim yến trong nhà mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân tại địa
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phân tích hiệu quả kinh tế của nghề nuôi chim
yến trong nhà của các đơn vị, tổ chức và các hộ nuôi tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa (trong
đề tài tác giả gọi chung là hộ nuôi ) .
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu hiệu quả của nghề nuôi chim yến trong nhà tại Khánh Hòa trên cơ sở
đánh giá hiệu quả kinh tế của các tổ chức, đơn vị và các hộ nuôi chim yến. Các số liệu
thu thập được tính từ năm 2010 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Với mục tiêu phân tích hiệu quả kinh tế của nghề nuôi chim yến trong nhà, đề
tài sử dụng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá về kết quả và hiệu quả kinh tế để phân tích
hiệu quả kinh tế của nghề nuôi. Các chỉ tiêu được sử dụng đê phân tích hiệu quả kinh
tế gồm: Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất (Gross Output); MI - thu nhập hỗn hợp (Mix
Income); Chí phí trung gian (Intermediational Cost); Năng suất lao động:GO/LĐ;
MI/LĐ; Hiệu quả sử dụng vốn: GO/IC; MI/IC; GM/IC; Các chỉ tiêu phản ánh sử dụng
chi phí , hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
4
- Các phương pháp điều tra, phân tích, so sánh, tổng hợp,… cũng được áp dụng
trong nghiên cứu này.
5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Các công trình nghiên cứu liên quan đến phân tích hiệu quả kinh tế của nghề
nuôi mà tác đã tham khảo và làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình như: luận văn
thạc sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Bão Sơn (2009), Đánh giá hiệu quả kinh tế , xã hội
nghề nuôi cá chẽm (LATES CALCARIFER, BLOCH, 1790) thương phẩm tại tỉnh
Khánh Hòa; Luận văn thạc sĩ của tác giả Trương Văn Bảo (2007), Thực trạng và giải
pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cây vải thiều trên địa bàn huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc
Giang .
Theo hiểu biết của tác giả, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu của các
nhà khoa học trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề chim yến và nuôi chim yến
trong nhà. Tuy nhiên chưa có đề tài nào nói về phân tích hiệu quả kinh tế của nghề
Khánh Hòa đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố vi khí hậu hang, thức ăn, tác động của
con người đến số lượng quần thể chim yến hàng và chất lượng tổ yến Khánh Hòa.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Cung cấp số liệu, dữ liệu về điều tra thực trạng và phân tích về hiệu quả kinh tế
của nghề nuôi chim yến trong nhà tại Khánh Hòa một cách tin cậy và khoa học.
- Những kết luận của đề tài sẽ là một tài liệu hỗ trợ cho cơ quan chức năng trong
việc lập kế hoạch và quy hoạch vùng nuôi chim yến trong nhà một cách có hiệu quả;
kết hợp với quy hoạch và khuyến cáo các mô hình nuôi thích hợp với điều kiện tự
nhiên, khí hậu của từng vùng.
- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân và hộ nuôi chim
yến trong nhà lựa chọn được phương thức nuôi, quy mô nuôi và giải pháp đúng đắn
nhằm phát triển một cách có hiệu quả và bền vững đối với nghề nuôi chim yến trong
nhà tại Khánh Hòa.
- Là tài liệu tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu tiếp theo của các tác giả và
những người nghiên cứu có liên quan.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung đề tài gồm:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế.
Chương 2. Đặc điểm của đối tượng, địa bàn và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3. Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề nuôi chim yến trong nhà tại Khánh
Hòa.
Chương 4. Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho nghề nuôi chim yến trong
nhà tại Khánh Hòa.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
1.1.
Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
1.1.1 Các quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế
mặt: trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân. Phải luôn có sự
cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị, xã hội. Đây là một nguyên tắc để
7
phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cách liên tục và lâu dài. Bất kỳ một
sự mất cân đối nào sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
Mặc dù đã có sự thống nhất rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh phản
ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫn chưa có sự thống
nhất trong quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các nhà kinh tế và thống kê có
nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh do điều kiện lịch sử và
giác độ nghiên cứu là không giống nhau.
+ "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu trong
tiêu thụ hàng hóa” (trích dẫn bởi Tạ Duy Bộ, 2003). Theo quan điểm này thì hiệu quả
là tốc độ tăng của kết quả đạt được như: Tốc độ tăng của doanh thu, của lợi nhuận.
Như vậy hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả hay với nhịp độ tăng của các
chỉ tiêu ấy. Quan điểm này thực sự không còn phù hợp với điều kiện ngày nay. Kết
quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất
(đầu vào của quá trình sản xuất). Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết quả sản
xuất tuy
có hai mức chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất
kinh doanh
của chúng là như nhau.
+ "Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm mà xã hội hoặc
thu nhập quốc dân”
(trích dẫn bởi Tạ Duy Bộ, 2003)
.
Xét trên phạm vi của doanh
được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải là giá trị”
(trích dẫn
bởi Tạ Duy Bộ, 2003)
.
Theo tác giả của quan điểm này, mức độ thỏa mãn nhu cầu
phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể chứ không phải giá trị trừu tượng nào đó.
Tuy nhiên quan điểm này gặp phải trở ngại là khó tính được tính hữu ích của sản
phẩm được sản xuất ra. Và nếu vậy thì chúng ta không thể so sánh được tính hữu ích
giữa các sản phẩm, do đó cũng không đánh giá được tính hiệu quả của hoạt động sản
xuất kinh doanh.
+ "Hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của đại
lượng kết quả và chi phí” (Đặng Đình Đào & Hoàng Đức Thân, 2002).
Công thức biểu diễn phạm trù này:
H = ΔK/ ΔC
ΔK : Phần gia tăng của kết quả sản xuất.
ΔC : Phần gia tăng của chi phí sản xuất.
H
: Hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Quan điểm này phản ánh hiệu quả chưa đầy đủ và trọn vẹn. Nó chỉ đề cập đến
hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng của kinh doanh sản
xuất và phần gia tăng của chi phí sản xuất chứ chưa đề cập toàn bộ phần tham gia
vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Xét trên quan điểm triết học Mác Lênin thì mọi sự
vật, hiện tượng đều có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau chứ không tồn tại một
cách riêng lẻ, độc lập. Sản xuất kinh doanh không nằm ngoài quy luật này, các yếu tố
"tăng thêm" giảm đi có liên hệ với các yếu tố sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp
các động tới kết quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là kết
quả tổng hợp
trình sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản ánh số lượng của hoạt động
sản xuất kinh doanh. Vậy khi xem xét, đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp
thì phải quan tâm cả kết quả cũng như hiệu quả của doanh nghiệp đó.
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi
điều kiện "động" của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện được trong sự vận động và
biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy
mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng. Theo Hoàng Hùng (2001):
Các quan điểm truyền thống chưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quả kinh
tế: Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ xem
xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất quan trọng
không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta
xem
10
xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ
nào. Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng đầy đủ được.
Thứ hai
, nó không tính yếu tố thời gian khi tính toán
thu
và
chi
cho một hoạt
động sản xuất kinh doanh. Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế theo
quan điểm này thường chưa tính đủ và chính xác. Thứ ba, hiệu quả kinh tế theo
quan điểm truyền thống chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm
trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao
động, thu về sản phẩm và giá cả. Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển
(O)
thu thêm trên một đơn vị đầu
vào (I) đầu tư thêm. Tỷ số DO/ DI được gọi là sản phẩm biên. Hiệu quả phân bổ
nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm. Thực
11
chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào.
Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên. Hiệu quả kinh tế là phần thu
thêm trên một đơn vị đầu tư thêm. Nó chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu
quả sử dụng nguồn lực là tối đa.
+Yếu tố thời gian, các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố trong tính
toán hiệu quả. Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng
nhau nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau
+ Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường:
Theo quan điểm toàn diện, hiệu quả kinh tế nên được đánh giá trên ba
phương diện: Hiệu quả tài chính, xã hội và hiệu quả môi trường. Hiệu quả tài
chính mà trước đây ta quen gọi là hiệu quả kinh tế thường được thể hiện bằng
những chỉ tiêu như lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ nội hoàn vốn, thời gian hoàn vốn Hiệu
quả xã hội của một dự án phát triển bao gồm lợi ích xã hội mà dự án đem lại
như: Việc làm, mức tăng về GDP do tác động của dự án, sự công bằng xã hội, sự
tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường
sinh thái. Một số tác giả khác khi đánh giá hiệu quả kinh tế cho rằng cần phân
biệt hai khái niệm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế được hiểu
là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra.
Còn hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa các lợi ích xã hội thu được
đảm bảo mục tiêu xã hội (tạo việc làm, phát triển đồng đều giữa
các vùng, các cộng đồng, các tầng lớp cư dân, giữ gìn bản sắc văn hoá, ); ba là
sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế suy thoái môi trường,
Ba mục tiêu trên luôn luôn được tính toán một cách kỹ lưỡng trong xây dựng và
thực hiện các dự án phát triển nông thôn. Một dự án phát triển được coi là đạt
hiệu quả chỉ khi đồng thời cùng một lúc đáp ứng được cả mục tiêu tài chính, xã
hội và môi trường…
+ Coi việc đánh giá dự án thông qua việc so sánh giữa lợi ích và chi phí.
Quan điểm đánh giá hiệu quả gắn với việc xem xét quá trình phát triển và tăng
trưởng cho phép đưa ra một cách nhìn tổng quát hơn về hiệu quả kinh tế. Một
mặt, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống về đánh giá hiệu quả
kinh tế ở chỗ nó cũng nhằm so sánh chi phí bỏ ra và lợi ích thu được. Mặt khác,
quan điểm này có cách nhìn nhận rộng hơn về khái niệm chi phí và lợi ích.
- Về chi phí, các quan niệm truyền thống chỉ chú ý chủ yếu vào các yếu tố
tiền bạc, vật chất, công sức bỏ ra cho một dự án đầu tư. Quan điểm mới cho rằng
ngoài yếu tố chi phí trên còn phải tính đến các chi phí phi vật chất và gián tiếp
như các tác động bất lợi của dự án đầu tư đến môi trường (ô nhiễm môi trường,
thay
đổi bất lợi cho hệ sinh thái,vv ) và đến xã hội như khoảng cách giàu và
nghèo,
công bằng trong phân phối
tiền, nguyên vật liệu) để đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp. Bản chất của
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự thực hiện yêu cầu của quy luật
tiết kiệm thời gian.
Các Mác đã cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng
đặc
biệt. Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quản lý đó. Con người tạo
ra
của cải vật chất bằng sức lao động. Lao động được đo lường bằng thời gian. Với
một mục tiêu nhất định con người phải thực hiện trong một thời gian lao động ít
nhất, hay
nói một cách khác thì trong một thời gian lao động nhất định kết quả đạt
được phải
cao nhất. Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu (thời gian hao phí lao động thấp nhất).
Điều này có nghĩa là với mức chi phí nhất định thì doanh nghiệp phải đạt kết quả tối
đa hoặc ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu.
Tuy nhiên, để hiểu rõ
bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản
xuất kinh doanh, cũng cần
phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất
kinh doanh. Trước đây trong lý luận cũng như thực tiễn đã tồn
tại sự nhầm lẫn giữa
hai phạm trù hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh, khi đó đã coi
kết quả là mục đích và coi hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu.
Từ quan niệm nhầm lẫn đó dẫn đến sự hạn chế trong phương pháp luận giải quyết
vấn đề, đôi khi người ta hay coi đạt được kết quả là đạt được hiệu quả và rõ ràng điều
14
tiêu của
doanh nghiệp đạt được ở trình độ nào. Nhưng xem xét hiệu quả kinh tế
không chỉ
dừng ở đó mà thông qua đó có thể phân tích, tìm ra các nhân tố cho phép
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Từ đó có thể có các giải pháp nhằm đạt
mục tiêu của
doanh nghiệp ở mức độ cao hơn với chi phí về nhân tài, vật lực và tiền
vốn ít hơn. Như
vậy, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu
cần đạt và trong
nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để
nhận biết khả năng tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả.
Như đã đề cập trên, bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu quả của lao
động xã hội, được so sánh giữa chất lượng kết quả lợi ích thu được với lượng hao phí
lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả hoạt động kinh doanh là tối đa hóa kết quả
hoặc tối thiểu hóa chi phí trên nguồn vốn sẵn có. Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt
được trên cơ sở nâng cao năng suất lao động và chất lượng công tác. Để đạt hiệu
quả ngày càng cao và vững chắc, đòi hỏi các nhà kinh doanh không những nắm
15
chắc các tiềm năng tiềm ẩn về lao động, vốn, kỹ thuật… mà còn phải nắm vững tình
hình cung
cầu hàng hóa trên thị trường, đối thủ cạnh tranh…hiểu được thế mạnh
thế yếu của doanh nghiệp để khai thác hết mọi tiềm năng hiện có, tận dụng được
những cơ hội
vàng của thị trường, ngoài ra phải nghiên cứu và nhận thức một cách
đầy đủ bản chất và các quan điểm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Từ việc
đánh giá đúng hiệu
quả, cho phép doanh nghiệp phát hiện khả năng và tìm đúng
chi phí bỏ ra, chênh lệch giữa kết quả thu về và chi phí đã bỏ ra càng lớn thì hiệu quả
kinh tế càng cao và ngược lại.
+ Về mặt định tính: mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng,
nỗ lực, trình độ và năng lực quản lý ở các khâu, các cấp quản lý và sự gắn bó của việc