PHN M U
Hin nay ng v Nh nc ta rt quan tõm ti cht lng cuc sng
ca ngi nụng dõn. Do ú ngoi vic trng cõy nụng nghip thỡ ng v
nh nc luụn quan tõm khuyn khớch ngi nụng dõn phỏt trin thờm
ngh ph cú th l chn nuụi ln, chn nuụi g. Nhm mc ớch nõng cao
thu nhp cho ngi lao ng.
Trong thi gian thc tp trung tõm cụng ngh sinh hc Vin Di truyn
nụng nghip- B Nụng Nghip, tụi ó cú nhiu iu kin xung a bn xó
Tõn lp huyn an phng tnh H tõy nghiờn cu v cỏc loi cõy
trng ti xó. V ti õy tụi hon ton bt ng trc s i mi ti xó, v
c bit nguyờn nhõn chớnh do vic trng nm em li. Nm v cỏc dc
liu ca nm cú giỏ tr kinh t cao, m doanh thu c t vic trng nm
rt ln v ln hn so vi vic trng cỏc cõy trng khỏc. Chớnh vỡ lý do trờn
m tụi ó chn ti: Trong thời gian thực tập trung tâm công nghệ
sinh học Viện Di truyền nông nghiệp- Bộ Nông Nghiệp, tôi đã có
nhiều điều kiện xuống địa bàn xã Tân lập huyện Đan phợng tỉnh
Hà tây để nghiên cứu về các loại cây trồng tại xã. Và tại đây tôi hoàn
toàn bất ngờ trớc sự đổi mới tại xã, và đợc biết nguyên nhân chính do
việc trồng nấm đem lại. Nấm và các dợc liệu của nấm có giá trị kinh tế
cao, mà doanh thu đợc từ việc trồng nấm rất lớn và lớn hơn so với việc
trồng các cây trồng khác. Chính vì lý do trên mà tôi đã chọn đề tài:
Phõn tớch hiu qu kinh t ca sn xut nm xó Tõn Lp- huyn an
Phng- tnh H Tõy.
*Mc ớch nghiờn cu ca ti:
1
- Góp phần hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển sản xuất
nấm của nước ta nói chung và địa bàn xã Tân Lập nói riêng.
- Phản ánh thực trạng của sản xuất nấm ăn, hiệu quả của nó trên địa
bàn xã Tân Lập.
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất nấm ăn
Bảng 1: Tỷ lệ % so với chất khô.
Độ Èm
(w)
Protein Lipit Hydrat
cacbon
Tro Clo
3
Trứng 74 13 11 1 0 156
Nấm mì 89 24 8 60 8 381
Nấm hương 92 13 5 78 7 392
Nấm sò 91 30 2 58 9 345
Nấm rơm 90 21 10 59 11 369
Bảng 2: Hàm lượng vitamin và chất khoáng.
Đơn vị tính: mg/100g chất khô
Axit
nicotini
c
Riboflavi
n
Thiamin Axit
asobic
Iron Can xi Phot
pho
Trứng 0,1 0,31 0,4 0 2,5 50 210
Nấm
mì
42,5 3,7 8,9 26,5 8,8 71 912
Nấm
hương
54,9 4,9 7,8 0 4,5 12 171
năm trở lại đây, trồng nấm mới được xem như là một nghề mang lại hiệu
quả kinh tế cao. Các tỉnh ở phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm và mọc nhĩ,
sản lượng đạt trên 10.000 tấn/năm. Nấm được tiêu thụ tại thị trường nội địa
và chế biến thành dạng hộp, muối xuất khẩu. Các tỉnh phía Bắc như Thái
Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Nội…đã có nhiều cơ sở quốc
doanh, tập thể, hộ gia đình trồng nấm. Trong những năm đầu thập kỷ 90,
phong trào trồng nấm mỡ được phát triển mạnh mẽ tổng sản lượng đạt
khoảng 500 tấn/năm. Thị trượng tiêu thụ chủ yếu là nấm muối xuất khẩu
sang Nhật Bản, Italia, Đài loan, Thái Lan…
5
1.2. Tính cấp thiết phải đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất nấm.
Việt Nam là một trong những nước có đủ điều kiện để phát triển
mạnh nghề trồng nấm, do:
-Nguồn nguyên liệu để trồng nấm là rơm, rạ, thân gỗ, mùn cưa, bã
mía các loại phế liệu sau thu hoạch rất giàu chất Xenlulo ở Việt Nam rất
phong phú. Nếu tính trung bình mét tấn thóc sẽ cho ra 1,2 tấn rơm, rạ khô
thì tổng lượng rơm rạ trong cả nước đạt con số vài chục triệu tấn/năm. Chỉ
cần sử dụng 10% số nguyên liệu kể trên để trồng nấm thì sản lượng nấm sẽ
đạt vài trăm ngàn tấn /năm.
-Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào và giá công lao động rẻ.
Tính trung bình một lao động nông nghiệp mới chỉ dùng đến 30 – 40% quỹ
thời gian. Chưa kể đến mọi người lao động phụ đều có thể tham gia trồng
nấm được.
Điều kiện tự nhiên (về nhiệt độ, độ Èm ) của Việt Nam rất thích
hợp cho nấm phát triển. Cả hai nhóm nấm (nhóm ưa nhiệt độ cao: nấm
hương, méc nhĩ , nhóm ưa nhiệt độ thấp: nấm mỡ, nấm hương, nấm sò )
ở Việt Nam đều trồng được.
Phân vùng: đối với các tỉnh phía Nam tập trung trồng nấm rơm, méc
nhĩ; các tỉnh phía Bắc trồng nấm mỡ, nấm hương, nấm sò
Song, do nhiều nhiệm vụ sản xuất lương thực được ưu tiên hàng đầu,
được tính về kế hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nền
kinh tế quốc dân, bằng cách so sánh các hiệu quả của sản xuất với các chi
phí hoặc nguồn dự trữ sử dụng”.
7
Theo tác giả Lê Thị Thụ: “hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp nhất
về chất lượng của sản xuất kinh doanh. Nội dung của nó so sánh kết quả
thu được với chi phí bỏ ra ”.
Chóng ta có thể tìm thấy những quan điểm tương tự qua những công
trình luận án của Nguyễn Định, Nguyễn Thị Thụ…nhìn chung quan điểm
của các nhà khoa học có những khía cạnh phân biệt nhưng đều thống nhất
với nhau, hiệu quả kinh tế là lợi Ých tối ưu mang lại của mỗi quá trình sản
xuất kinh doanh.
Phương pháp tính hiệu quả kinh tế là so sánh kết quả sản xuất và chi
phí bỏ ra nên có những cách tính khác nhau về chỉ tiêu này:
*Về kết quả sản xuất có những quan điểm cho là:
- Tổng giá trị gia tăng (VA)
- Lợi nhuận (Pr)
- Tổng giá trị sản lượng hoặc tổng giá trị sản xuất (GO)
- Hoặc là phần kết quả tăng thêm tăng thêm(∆Q)
*Có những quan điểm khác về chi phí:
- Tổng chi phí (TC)
- Chi phí vật chất (VC)
- Chi phí trung gian (IC)
- Chi phí lao động (LC)
- Chi phí từng yếu tố (YC)
- Hoặc chi phí tăng thêm (∆F)
- Từ khái niệm hiệu quả kinh tế, xác định bằng cách so sánh các
kết quả thu được với chi phí bỏ ra.
8
H = Q/CF (1a); H=CF/Q(1b)
Sự khác nhau là ở chỗ “Bằng cách nào” đây chính là công nghệ, mà
trước hết công nghệ phải phụ thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật và
vốn…
Nền kinh tế chịu sự chi phối của quy luật khan hiếm nguồn lực trong
khi nhu cầu của xã hội về hàng hoá và dịch vụ ngày càng tăng và đa dạng.
Do vậy đòi hỏi xã hội phải lùa chọn, từng doanh nghệp phải lùa chọn, sao
cho với một lượng tài nguyên nhất định tạo ra khối lượng hàng hoá dịch vụ
cao nhất. Đây cũng chính là mục tiêu của doanh nghiệp và của xã hội. Nói
một cách cụ thể là ở một mức sản xuất nhất định làm sao để có chi phí vật
chất và lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất. Được như vậy thì
lợi Ých của nhà sản xuất, người lao động và xã hội được nâng lên, nguồn
lực mới được tiết kiệm. Như vậy xã hội không chỉ quan tâm tới sản xuất mà
rất coi trọng hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế có thể hiểu là không lãng phí
nguồn lực, là tiết kiệm nguồn lực.
Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và
phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia đó là: thoả mãn ngày càng tăng về
nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên của xã hội. Đánh giá kết
quả sản xuất là đánh giá về mặt sản lượng sản phẩm sản xuất tức là xem xét
về mặt chất lượng của quá trình sản xuất đó.
10
Xét về mặt hiệu quả cũng có nhiều loại: hiệu quả sản xuất, hiệu quả
kinh tế, hiệu quả kỹ thuật…trong đó hiệu quả kinh tế là vấn đề trọng tâm.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh chất lượng của
hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế cũng có nghĩa là
nâng cao hiệu quả kinh tế. Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi hoạt
động sản xuất và là yêu cầu của công tác quản lý kinh tế. Như vậy, hiệu
quả kinh tế chính là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, trình độ
sử dụng và quản lý các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp và của toàn bộ
nền kinh tế.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng
+ Hiệu quả phát triển: thể hiện sự phát triển của các doanh nghiệp và
các vùng. Đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như: tình hình đời sống
vật chất, trình độ dân trí do kết quả phát triển sản xuất và nâng cao hiệu
quả kinh tế.
Trong các kết quả kinh tế xem xét thì hiệu quả kinh tế là trọng tâm và
quyết định nhất. Hiệu quả kinh tế được đánh giá toàn diện đầy đủ nhất khi
có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội và hiệu quả phát triển.
Theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu chúng ta có thể xem xét hiệu
quả theo góc độ sau:
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: chúng ta tính hiệu quả kinh tế cho toàn
ngành kinh tế quốc dân. Dùa vào chỉ tiêu này chúng ta đánh giá vấn đề đầu
tư, chính sách của Nhà nước…một cách toàn diện, tránh tư tưởng bảo vệ,
cục bộ địa phương chủ nghĩa.
12
+ Hiệu quả kinh tế ngành: Tính riêng cho từng ngành sản xuất. Ngành
có thể là ngành lớn như nông nghiệp, công nghiệp hoặc phân ngành nhỏ
như trồng trọt, chăn nuôi.
+ Hiệu quả kinh tế vùng: vùng ở đây muốn nói tới vùng kinh tế, vùng
lãnh thổ như: tỉnh, huyện, xã
+ Hiệu quả kinh tế theo quy mô: tổ chức sản xuất có nhiều loại như:
quy mô lớn, quy mô trung bình và quy mô nhỏ. Chúng ta phải phân loại
hiệu quả kinh tế một cách tương đối để thuận tiện trong quá trình nghiên
cứu. Song trên thực tế các loại hiệu quả kinh tế nêu trên, có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, từng ngành sản xuất, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, không phải thực tế lúc nào cũng diễn ra thuận chiều, đôi
khi lại bộ phận nào đó lại ảnh hưởng xấu tới lợi Ých toàn cục, lợi Ých
trước mắt ảnh hưởng tới lợi Ých lâu dài. Do vậy trong quá trình nghiên cứu
khi đề xuất các giải pháp cần cân nhắc kỹ, tránh những ảnh hưởng xấu trên
chi phí.
kể đến mọi người lao động phụ đều có thể tham gia trồng nấm được.
Điều kiện tự nhiên ( về nhiệt độ, độ Èm…) rất thích hợp cho nấm phát
triển. Cả hai nhóm nấm ( nhóm ưa nhiệt độ cao: nấm hương, méc nhĩ…,
nhóm ưa nhiệt độ thấp: nấm mỡ, nấm hương, nấm sò…) ở Việt Nam đều
được trồng. Mặt khác vốn đầu tư ban đầu để trồng nấm rất Ýt so với vốn
đầu tư cho các ngành sản xuất khác.
14
Kỹ thuật trồng nấm không phức tạp. Mọi người dân bình thường có
thể tiếp thu được công nghệ trồng nấm trong thời gian ngắn.
Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và trên thế giới tăng nhanh do sự
phát triển chung của xã hội và dân số.
-Hiệu quả kinh tế trồng sản xuất các loại nấm ăn:
+ Đối với nấm mỡ (chi phí cho 1 tấn rơm rạ):
1000 kg rơm rạ x 200 đồng/kg = 200.000 đồng
Hoá chất (đậm, lân, bột nhẹ) = 140.000 đồng
Giống nấm 8 – 10 kg = 120.000 đồng
Công lao động 30 công x 15.000 đồng = 450.000 đồng
Chi phí khác = 50.000 đồng
Tổng chi phí cho 1 tấn rơm rạ = 960.000 đồng.
Năng suất trung bình thu hoạch là 20kg nấm tươi/1 tấn rơm rạ thì giá
thành sẽ là:
960.000 đồng / 200 kg = 4.800đồng/kg nấm tươi.
Giá bán lẻ trung bình tại thị trường trường bình từ 8.000 – 10.000
đồng/ 1kg.
+ Đối với nấm sò: (chi phí/ 1 tấn rơm rạ)
1.000kg rơm rạ x 200 đồng/1 kg = 200.000 đồng
Tói PE, nót bông = 180.000 đồng
Giống nấm 40 kg x 10.000 đồng = 400.000 đồng
Công lao động 30 công x 15.000 đồng = 450.000 đồng.
Khấu hao dụng cụ, giầu giá = 100.000 đồng
Năng suất trung bình là 15 kg nấm khô/ 1m
3
nguyên liêu thì giá thành
là:
740.000 đồng / 15 kg = 49.300 đồng /1 kg
Giá nấm hương khô bán tại thị trường Hà Nội từ 70.000 – 80.000
đồng/1 kg.
Ngoài sản phẩm là nấm thu được, người sản xuất còn tận dụng được
phần phế thải thân cây gỗ để chuyển sang làm chất đốt.
+Hiệu quả kinh tế trồng méc nhĩ:
Trên mùn cưa:
Số lượng tính cho 1.000 tói trọng lượng 1,3 – 1,4 kg/ tói.
Đơn giá sản xuất: 1.000 đồng/túi.
(Chưa kể công chăm sóc, thu hái)
Từ nguyên liệu đến kết thúc nuôi sợi:
Mùn cưa 100kg x 300 đồng/ kg = 300.000 đồng
Tói P.P + bông nót + cổ nót = 150.000 đồng
Giống méc nhĩ = 100.000 đồng
Nhiên liệu (than, củi) = 100.000 đồng
Công (đơn giá 15.000 đồng/ công) = 250.000 đồng
Khấu hao cộng chi phí khác = 100.000 đồng
Tổng cộng: 1.000.000 đồng
Đơn giá: 1.000 đồng/ tói
Chi phí chăm sóc, thu hái sản phẩn:
Công chăm sóc: 290.000 đồng/ 1.000 tói
17
Khấu hao cộng chi phí khác = 100.000 đồng/ 1.000 tói
Tổng chi phí cho 1 tói mùn cưa từ khi sản xuất đến khi thu hái xong
là: 1.390.000 đồng/ 1.000 tói = 1.390 đồng.
Sản phẩm thu được:
Bông nót: 5 kg x 15.000 đông/ kg = 75.000 đồng
18
Tói nilon: 5kg x 16.000 đồng/ kg = 80.000 đồng
Các phu gia = 360.000 đồng
Năng lượng (than, củi) = 150.000 đồng
Khấu hao nhà xưởng cộng dụng cô = 150.000 đồng
Công lao động: 50 công x 15.000 đồng/ công = 750.000 đồng
Các chi phí khác = 200.000 đồng
Tổng chi phí đầu vào 2.365.000 đồng
Năng suất tu được 60 kg linh chi tương ứng với 20 kg linh chi khô
2. Đặc điểm kỹ thuật:
+Nguyên liệu: Tất cả các loại phế thải của ngành nông nghiệp giàu
chất Xenlulô đều là nguyên liệu chính để trồng nấm. Thống kê 1 số loại
nguyên liệu thông dụng nhất.
Rơm rạ: Rơm và rạ phơi khô không bị mốc, đánh đống, bảo quản
dùng dần.
Nếu rơm rạ đã bị mốc, có màu đen, vụn lát do phơi không được nắng,
bị ngấm nước mưa nhiều ngày thì không lên dùng để trồng nấm vì năng
suất thấp.
Bông phế thải: nguyên liệu được tạo ra ở các nhà máy rệt sợi sau khi
lấy gần hết sợi bông, phần còn lại là các hạt, bông vụn. Nguyên liệu phải
không mốc, phơi thật khô.
Mùn cưa: Các loại mùn cưa gỗ màu, không có tinh dầu, phơi khô ( cao
su, bồ đề, ).
19
Thân cây gỗ: cành lá còn xanh tốt, có độ tuổi từ 3 – 5 tuổi, gỗ mềm có
nhựa màu trắng (mít, sung, ngái, bồ đề, so đũa, dâu gia xoan, dừa, cao
su ), đường kính thân gỗ 5 – 20 cm.
Các loại phụ gia (phân vô cơ, hưu cơ, ): tỷ lệ phối trộn với số lượng
tuỳ theo từng loại nấm khác nhau.
suất nấm sẽ cao và ngược lại. Hiện có nhiều nơi sản xuất giống nấm, bạn
nên tìm đến những địa chỉ đáng tin cậy để mua giống.
+Nhà xưởng:
Yêu cầu chung về nhà xưởng trồng nấm cần đảm bảo các yếu tố: có hệ
thống cửa để điều chỉnh độ thông thoáng khi cần thiết, sạch sẽ, càng mát
càng tốt, độ Èm cao. Trước và sau mỗi đợt trồng nấm cần phải vệ sinh thật
tốt quanh khu vực nuôi trồng và trong nhà. Có thể xông hoặc đốt bột lưu
huỳnh hay phun thuốc phoóc môn tỷ lệ 0,5% trước khi đưa nguyên liệu vào
nhà trồng nấm một tuần.
Đây là vấn đề rất quan trọng trong quá trình trồng nấm, đặc biệt là nhà
trồng nấm liên tục, nếu vệ sinh không tốt sẽ làm giảm năng suất nấm mỗi
vụ nuôi trồng. Nguyên nhân dấn đến tình trạnh này là do sâu bệnh đang
phát triển nhanh chóng trong nhà và quanh khu vực trồng nấm. Một số
dạng nhà để trồng nấm như sau:
+Nhà chữ A:
Dùng cọc tre, cây gỗ thẳng, đường kính 7 – 12cm có chiều dài 2,4 m
các thanh tre, gỗ nhỏ, dài tối đa 20 m làm nan dọc theo nhà, thanh dài 2,4
m làm nan song song với cọc trụ.
Trung bình một nhà trồng nấm hình chữ A nên làm dài từ 10 – 20 m,
cứ cách 2 m có một cặp cọc trô.
21
Chiều rộng nhà khoảng 2 m, có lối đi ở giữa rộng 0,4 m.
Mái phủ nilon thứ sinh, phía trên mái lợp một líp lá mía, thân cây ngô,
lá chuối, líp lá bề ngoài tạo độ mát (nép chắc 2 líp lại).
Nền nhà dưới các tán cây ăn quả (chuối, nhãn, vải, mít ) hoặc cây lấy
gỗ, bóng mát Nếu không có tán cây, có thể làm trên các khu đất trống, sân
gạch nơi dể thoát nước. Có thể trồng các loại cây có dây leo (mướp, bí ngô,
gấc, đậu ) cho bò trên mái càng tốt. Phần mái giáp mặt đất có rãnh thoát
nước.
Hai đầu hối làm cửa ra vào để điều chỉnh ánh sáng và khi cần thiết.
sử dụng hệ thống tài khoản quốc gia (SNA).
*Q có thể là:
Q: là tổng giá trị sản xuất (GO)
Q: là giá trị gia tăng (VA)
Q : có thể là lợi nhuận (Pr)
Lợi nhuận : Pr ; GPr : lãi thô
NPr: lãi ròng
*CF chi phí có thể là:
CF: có thể là tổng chi phí (TC)
CF: có thể chi phí cố định (FC)
CF: có thể là chi phí biến đổi (CV)
23
CF: có thể là chi phí của từng yếu tố sản xuất (YC)
CF: có thể là chi phí trung gian (IC)
Phương pháp xác định Q và CF nêu trên là chung nhất, tuỳ điều kiện
cụ thể mà chúng ta vận dụng.
Công thức xác định hiệu quả kinh tế có thể biểu diễn:
H = Q/ CF (1)
Biểu diễn dưới dạng:
H = GO/ TC (1.1);H = VA/ TC (1.2);H= Pr/ TC (1.3) H = VA/
TC (1.2); H= Pr/ TC (1.3)
H = GPr/ TC (1.3.1) ; H = NPr/ TC (1.3.2)
Mẫu số và tử số có thể thay đổi tuy theo mục đích sử dụng
Ngoài ra còn có chỉ tiêu :
H = ∆Q/ ∆CF (2)
Biểu diễn dưới dạng:
H = ∆GO/ ∆TC (2.1); H = ∆VA/ ∆TC (2.2); H= ∆Pr/ ∆TC (2.3)
H = ∆GPr/ ∆TC (2.3.1); H = ∆NPr/ ∆TC (2.3.2)
Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là việc làm hết
sứ phức tạp. Vì vậy để phải ánh một cách đầy đủ và toàn diện hiệu quả kinh
25