BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG PHẠM VĂN TUYỂN
CẢI TIẾN LƯỚI RÊ HỖN HỢP
KHAI THÁC MỘT SỐ LOÀI CÁ CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ
CAO Ở HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHA TRANG - 2010
ii
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ v
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Nghiên cứu ngoài nước 3
1.2. Nghiên cứu trong nước 6
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1. Nội dung nghiên cứu 11
2.1.1. Đánh giá hiện trạng nghề lưới rê hỗn hợp ở huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định 11
2.1.2. Cải tiến lưới rê hỗn hợp ở huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định 11
2.1.3. Đánh giá hiệu quả khai thác lưới rê cải tiến 11
2.2. Phương pháp nghiên cứu 11
2.2.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trạng nghề lưới rê hỗn hợp 11
2.2.2. Phương pháp tính toán và lựa chọn kết cấu lưới 12
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 14
2.2.4. Phân tích và xử lý số liệu 19
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
3.1. Hiện trạng nghề lưới rê hỗn hợp tỉnh huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định 20
3.1.1. Cơ cấu nghề nghiệp nghề khai thác hải sản tỉnh Nam Định 20
3.1.2. Đối tượng khai thác mùa vụ và ngư trường khai thác 20
3.1.3. Đặc tính kỹ thuật tàu thuyền làm nghề lưới rê hỗn hợp 22
3.1.4. Đặc điểm kỹ thuật lưới rê hỗn hợp 23
3.1.5. Vốn đầu tư cho nghề lưới rê hỗn hợp 27
3.1.6. Hạch toán kinh tế 28
3.1.7. Thành phần sản lượng cá đánh bắt bằng lưới rê hỗn hợp 29
3.2. Cải tiến lưới rê hỗn hợp ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 31
Số liệu trong luận văn được Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Chủ nhiệm đề
tài cấp Bộ nói trên cho phép sử dụng. Kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không
trùng lặp với bất cứ luận án bảo vệ học vị nào đã có trước đây.
Hải Phòng, ngày 22 tháng 10 năm 2010
Tác giả
Phạm Văn Tuyển ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Đức Sĩ và TS. Hoàng Hoa
Hồng là những người trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận
văn này.
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Nội dung viết tắt
1 ALMRV
Đánh giá Nguồn lợi Sinh vật Biển Việt Nam (Assessments of
the living marine Resources in Viet Nam)
2 2a
Kích thước mắt lưới
3 a
Kích thước cạnh mắt lưới
4 CP
Chi phí
5 CT
Cải tiến
6 cv
Mã lực
7 d
Đường kính chỉ lưới
8 ĐC
Đối chứng
9 DTTB
Doanh thu trung bình
10 ĐVT
Đơn vị tính
11 FL
Chiều dài thân cá
12 g
Gram
13 GHTC
Giới hạn tin cậy
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản tỉnh Nam Định 20
Bảng 3.2: Thông số cơ bản vỏ tàu làm nghề lưới rê hỗn hợp 22
Bảng 3.3: Thống kê máy chính và máy phụ trang bị trên tàu 22
Bảng 3.4: Thống kê trang thiết bị hàng hải, khai thác 23
Bảng 3.5: Vàng lưới rê hỗn hợp trang bị trên tàu theo nhóm công suất 23
Bảng 3.6: Kích thước mắt lưới (2a) trung bình từng phần theo nhóm tàu 24
Bảng 3.7: Chiều cao kéo căng (H
0
) trung bình của từng phần lưới theo các khối tàu . 25
Bảng 3.8: Hệ số rút gọn giềng phao, giềng chì 26
Bảng 3.9: Vốn đầu tư cho nghề lưới rê hỗn hợp (ĐVT: Triệu đồng) 27
Bảng 3.10: Sản lượng khai thác bình quân của nghề lưới rê hỗn hợp (ĐVT: Kg) 28
Bảng 3.11: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận trung bình trong năm (ĐVT:Trđ/tàu/năm). 29
Bảng 3.12: Thành phần sản lượng cá đánh bắt bằng lưới rê hỗn hợp tàu NĐ2798TS 29
Bảng 3.13: Thành phần sản lượng cá đánh bắt bằng lưới rê hỗn hợp tàu NĐ2789TS 30
Bảng 3.14: Tần suất cá thu vạch bị đánh bắt trên tàu NĐ 2798 TS và NĐ2789TS 30
Bảng 3.15: Kích thước cá thu vạch bị đánh bắt trên tàu NĐ2798TS và NĐ2789TS 31
Bảng 3.16: Tính toán kích thước mắt lưới rê hỗn hợp cải tiến 32
Bảng 3.17: Tỷ số giữa đường kính chỉ lưới và cạnh mắt lưới 33
Bảng 3.18: Lựa chọn độ thô chỉ lưới rê hỗn hợp cải tiến 33
Bảng 3.19: Hệ số rút gọn quan hệ với tiêu hoa nguyên vật liệu và lực cản 34
Hình 2.6: Vị trí thử nghiệm mùa gió Tây Nam 18
Hình 3.6: Cá thu vạch (Scombobermorus commerson, Lacepède, 1801) 21
Hình 3.7: Cá thu ngàng (Acanthocybium solandri, Cuvier, 1831) 21
Hình 3.8: Cá thu chấm (Scombermorus guttatus, Bloch & Schneider, 1801) 21
Hình 3.9: Cá ngừ chù (Auxis thazard, Lacepède, 1800) 21
Hình 3.10a: Kích thước mắt lưới trung bình từng phần lưới theo nhóm tàu 25
Hình 3.10b: Chiều cao trung bình từng phần lưới theo nhóm tàu 25
Hình 3.11: Vốn đầu tư cho nghề lưới rê hỗn hợp theo nhóm công suất tàu 28
Hình 3.12: Tần suất cá thu vạch đánh bắt được theo nhóm chiều dài 30
Hình 3.13: Bản vẽ chi tiết lưới rê hỗn hợp cải tiến 35
Hình 3.14: Bản vẽ trang bị phao chì lưới rê hỗn hợp cải tiến 37
Hình 3.15: Lắp ráp lưới chao phao với lưới thân 01 38
Hình 3.16: Lắp ráp lưới thân 01 với lưới thân 02 38
Hình 3.17: Lắp ráp lưới thân 02 với lưới thân 03 38
Hình 3.18: Lắp ráp lưới thân 03 với chao chì 39
Hình 3.19: Năng suất khai thác lưới cải tiến và lưới đối chứng 41
Hình 3.20: Năng suất khai thác cá thu vạch của lưới đối chứng và lưới cải tiến 44
Hình 3.21: Tương quan chiều dài thân cá và khối lượng cá thu vạch 45
Hình 3.22: Tương quan chu vi lớn nhất thân cá và khối lượng cá thu vạch 45
Hình 3.23: Tương quan chiều dài thân cá và khối lượng cá thu ngàng 47
Hình 3.24: Tương quan chu vi lớn nhất thân cá và khối lượng cá thu ngàng 47 vi
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
Nước ta có bờ biển dài khoảng 3.260 km, có nghề cá phát triển từ lâu đời với
nhiều nghề đánh bắt khác nhau. Các nghề đánh bắt chính hiện nay là nghề lưới kéo,
nghề lưới vây, nghề lưới rê và nghề câu. Ngoài những nghề đánh bắt chính nói trên thì
các nghề đánh bắt khác cũng phát triển, như nghề mành, nghề lồng bẫy, nghề chụp
mực… 19.
Cá thu vạch là loài cá kinh tế phân bố rộng từ vùng gần bờ đến ngoài khơi,
vùng nước từ độ sâu 15-200m. Thức ăn chủ yếu là các đàn cá nhỏ như cá trích cá trích,
cá cơm, Ngư cụ khai thác chính là lưới rê trôi, lưới kéo, Chiều dài tối đa thân cá có
thể đạt đến 220cm 33. Ở Việt Nam cá thu vạch phân bố rộng từ Vịnh Bắc Bộ đến
Đông Tây Nam Bộ. Mùa vụ khai thác quanh năm và ngư cụ khai thác chính: lưới rê,
câu, lưới đăng Kích thước cá khai thác dao động từ 600 – 800mm 34.
Tàu thuyền nghề lưới rê có 39.107 chiếc chiếm 33%, nghề lưới kéo 19%, nghề
câu 18%, nghề lưới rê 6% còn lại các nghề khác 22% tổng số lượng tàu thuyền trong
cả nước 2.
Lưới rê hỗn hợp là loại lưới rê đơn, có kích thước mắt lưới thay đổi theo chiều
cao của lưới nhằm mục đích khai thác một số loài cá phân bố ở các độ sâu khác nhau.
Lưới rê hỗn hợp được sử dụng ở huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định thường có 2÷3 loại
kích thước mắt lưới khác nhau từ 160÷200mm, có chiều cao kéo căng từ 40÷50m.
Ngoài ra, lưới rê hỗn hợp ở đây được chế tạo từ những sợi lưới xe lơi, chỉ lưới được
cấu tạo từ 24÷42 sợi cước đơn 6.
Lưới rê hỗn hợp thường được thả ở những vùng biển có độ sâu phù hợp để
tường lưới phủ kín các lớp nước (từ lớp nước mặt đến sát đáy). Biên dưới của lưới có
lắp giềng và chì để giữ lưới luôn làm việc sát đáy và biên trên lắp giềng có gắn phao
xốp để giữ lưới nổi ở độ sâu nhất định. Khung giềng chì và phao giữ tường lưới thẳng
đứng, chắn ngang đường di chuyển của đàn cá 13.
Nghề lưới rê hỗn hợp huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định đánh bắt chủ yếu ở vùng
biển Vịnh Bắc Bộ và ngư trường đánh bắt thay đổi theo 02 mùa gió Đông Bắc và Tây
Nam 20. Đối tượng khai thác chủ yếu của lưới rê hỗn hợp là cá thu, cá ngừ, cá
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu tính toán của Baranov (1914) về xác định kích thước mắt lưới rê
căn cứ vào:
- Chiều dài thân cá:
.ka
:k
là hệ số phụ thuộc vào đối tượng đánh bắt và k được xác định bằng thực
nghiệm.
:
chiều dài đối tượng đánh bắt.
- Trọng lượng cá:
3
'. Gka
:'k
tuỳ theo tỷ lệ L/H (kích thước chiều dài/ kích thước bề rộng) của cá.
Khi áp dụng hai công thức trên có một số khó khăn:
* Mức độ chính xác phụ thuộc vào quá trình thí nghiệm
130mm lưới PA sợi đơn số 14, 15 hệ số rút gọn U
gp
= 0,5 để khai thác cá vược. Tác
giả đã xây dựng đường cong lựa chọn mắt lưới rê 100mm sợi xe và đề xuất nhóm kích
thước cá thể cần quy định cấm khai thác. Kết quả nghiên cho thấy, để tăng năng suất
khai thác cho nghề lưới rê cần phải:
- Lựa chọn kích thước mắt lưới phù hợp với đối tượng khai thác.
- Lựa chọn độ thô chỉ lưới phải đảm bảo đủ độ bền nhưng càng mềm mại và càng
nhỏ càng tốt. Theo kinh nghiệm, tỷ số thường lựa chọn d/a = 0,01.
- Màu sắc chỉ lưới: chọn màu phù hợp với môi trường và để cá khó phát hiện ra
lưới.
- Sức căng chỉ lưới: lưới phải có trang bị phao chì phù hợp, sao cho sức căng chỉ
lưới càng nhỏ càng tốt. Như vậy, cá dễ bị mắc hơn và năng suất khai thác sẽ cao hơn.
- Trang bị phao chì: Phải phù hợp để lưới định hình tốt nhất trong nước, tránh bị
xoắn lưới, tránh cho sức căng lưới quá lớn và cũng không để lưới bị nghiêng quá nhiều
dưới tác động của dòng chảy.
- Thời gian đánh bắt tốt nhất là ban đêm, vào những ngày không trăng để cá khó
phát hiện ra lưới.
Nghiên cứu tính chọn lọc của lưới rê đơn đối với cá ngừ chù (Auxis thazard) sử
dụng hai loại lưới có thông số cơ bản như sau 27:
Loại A: kích thước mắt lưới 2a =60mm; vật liệu là Nylon 210D/4; kích thước
lưới tấm là 1.000 x 100 mắt; lắp ráp với hệ số rút gọn ngang U
gp
=0,05.
Loại B: kích thước mắt lưới 2a =100mm; vật liệu là Nylon 210D/6; kích thước
tấm lưới là 1.000x100 mắt; lắp ráp với hệ số rút gọn ngang U
gp
=0,05.
Kết quả nghiên cứu, xác định được chiều dài nhóm chiều dài cá đóng lưới với
số lượng cá thể cao nhất từ 326-400mm; chiếm xấp xỉ 70% số cá thể bị đánh bắt.
- Tính toán cải tiến lưới rê căn cứ vào đối tượng khai thác (loài cá, kích thước
cá, phân bố, ) và điều kiện môi trường ngư cụ hoạt động có đối tượng khai thác sinh
sống(độ sâu, độ trong, ).
6
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đánh bắt của lưới rê: kích thước mắt lưới,
hệ số rút gọn, vật liệu chỉ lưới, màu sắc vật liệu, lực căng nền lưới, tính mềm mại của
chỉ lưới và trang bị phao chì.
Trên đây là tiêu chí cơ bản đề tài làm cơ sở tính toán, lựa chọn cải tiến lưới rê
hỗn hợp đạt hiệu quả đánh bắt.
1.2. Nghiên cứu trong nước
Dự án ALMRV II, đa số các tàu lưới rê trôi ở tỉnh Nam Định hoạt động vùng
khơi có công suất máy >45cv. Tàu thường được trang bị 1 trong hai loại lưới, lưới 10
(2a=100mm) hoặc lưới 16 (2a=160mm). Mỗi một tàu thường có khoảng 100-150 cheo
lưới tương ứng độ dài của lưới khi thả khoảng 5-7 km. Nhìn chung, trang thiết bị hàng
hải trên tàu đơn giản, rất ít tàu có định vị và thiết bị dò cá. Phần lớn các tàu chỉ có la
bàn và máy bộ đàm để thông tin liên lạc với tàu bạn khi hoạt động trên biển. Thời gian
cho 1 chuyến biển của đội tàu rê khơi khá dài, thường khoảng 10 ngày. Trong khi đó
thời gian chạy đi đến ngư trường và chạy về đã hết 1 ngày. Ngư trường đánh bắt chủ
yếu của đội tàu này khá rộng thường từ Thanh Hoá đến Quảng Ninh và ở độ sâu vùng
nước >30 m 1.
Thời gian bắt đầu thả lưới vào khoảng 5 giờ chiều và thu lưới tuỳ thuộc từng
tàu. Nhưng thông thường thời gian ngâm lưới khoảng trên 5 giờ. Sản phẩm đánh bắt
chủ yếu là cá thu ngàng (Acanthocybium solandri), thu vạch (Scomberomorus
commerson), cá ngừ sọc dưa (Sarda orientalis), cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis), cá
bè xước (Scomberoides tol), cá nhám cào (Sphyrna lewini). Kích thước mắt lưới
2a=100mm, thông thường bắt được cá thu cỡ > 3 kg/con và kích thước mắt lưới
2a=160mm chủ yếu bắt được cá thu kích cỡ >5 kg/con 1.
Theo kết quả điều tra nguồn lợi của dự án ALMRV bằng lưới kéo đáy, tổng trữ
lượng cho toàn vùng biển Vịnh Bắc Bộ đạt giá trị cao nhất (181.900 tấn) vào mùa Tây
kích thước mắt lưới lớp ngoài 2a = 320 - 340mm, sợi PA 210D/6, chiều cao 7 mắt,
chiều dài 200 mắt. Kết quả thử nghiệm cho thấy hai lưới có sản lượng khai thác tương
đương nhau nhưng lưới có chao chì ít bị rách hơn 9.
Theo (Nguyễn Long, 1987), nghiên cứu thử nghiệm loại lưới rê 3 lớp với kích
thước mắt lưới lớp trong 2a = 80 mm, vật liệu PA210D/6 và lớp ngoài có kích thước
mắt lưới 2a = 320 mm, vật liệu sử dụng là Kapron 10,7/3; chiều cao lưới 3 m. Kết quả
nghiên cứu cho thấy năng suất khai thác mực nang của ngư cụ đạt được rất tốt và đã
được nhân rộng và phát triển trên toàn quốc 10.
Kết quả nghiên cứu (Nguyễn Long, 1992), nghiên cứu sử dụng lưới rê 3 lớp với
chiều cao lưới H = 2,2m; H = 2,6m và H = 8,2m; chiều dài mỗi tấm lưới là 50m. Kích
thước mắt lưới của tấm lưới trong 2a = 42mm; 52mm; 62mm và 80 - 82mm. Kích thước
mắt lưới của tấm lưới ngoài 2a = 300mm và 400mm. Vật liệu chỉ lưới được sử dụng đối
với lưới lớp trong là cước sợi đơn d = 0,18mm và lưới lớp ngoài là cước sợi đơn d =
0,35mm. Kết quả nghiên cứu cho thấy kích thước mắt lưới 2a = 52mm cho kết quả tốt
nhất và chiều cao lưới rê 3 lớp khai thác cá tốt nhất nên nhỏ hơn 3m 11.
8
Năm 1996 – 1997, dự án JICA kết hợp giữa Việt Nam và Nhật Bản sử dụng
lưới rê trôi với các loại kích thước mắt lưới: 2a = 73mm; 95mm; 100mm; 123mm;
150mm và 160mm khai thác ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ. Kết quả cho
thấy kích thước mắt lưới 100mm và 150mm cho năng suất cao và ổn định.
Nghiên cứu khai thác mực đại dương và mực ống ở vùng biển xa bờ bằng nghề
lưới rê, câu và chụp mực, sử dụng lưới rê với 3 loại kích thước mắt lưới khác nhau 2a =
50mm, 60mm và 70mm; mỗi cheo lưới có chiều dài là 55m và chiều cao 12÷14m. Kết
quả nghiên cứu cho thấy, năng suất khai thác của lưới rê thả nổi lớn hơn lưới rê thả chìm
(thả chìm sâu 4m). Lưới có kích thước mắt lưới 2a = 50mm có năng suất cao nhất đạt
0,41kg/cheo/đêm 12.
Kết quả nghiên cứu về một số thông số cấu trúc lưới rê khai thác cá ngừ ở vùng
biển miền Trung và Đông Nam Bộ cho thấy: Năng suất khai thác của lưới rê phụ thuộc
vào kích thước mắt lưới, vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ kích thước mắt lưới
nhóm tàu có chiều dài càng nhỏ thì vốn đầu tư nhỏ và mang lại lợi nhuận cao hơn
nhóm tàu có chiều dài lớn hơn. Đa phần tàu có chiều dài lớn hơn17m là tàu được vay
vốn từ chương trình khai thác hải sản xa bờ của chính phủ với chủ trương tạo điều kiện
cho ngư dân vay vốn ưu đãi và những người ít có kinh nghiệm cũng tham gia khai thác
hải sản. Hơn nữa, do tàu có chiều dài lớn hơn 17m, lắp máy với công suất lớn nên dẫn
đến tiêu hao nhiên liệu nhiều và làm tăng chi phí sản xuất 3.
Nghiên cứu ảnh hưởng của hệ số rút gọn đến năng suất của lưới rê trôi và thành
phần loài. Lưới rê trôi 2a =100mm; vật liệu PA210D/18, chiều cao là 100mắt; chiều
dài 100m. Lưới lắp ráp giềng phao với hệ số rút gọn là 0,50 và 0,60. Kết quả thí
nghiệm cho thấy, tổng số các loài cá bị đánh bắt bằng lưới rê trôi tầng mặt với cả hai
loại hệ số rút gọn là 0,50 và 0,60 là 32 loài. Số loài bị đánh bắt bằng lưới rê trôi với hệ
số rút gọn bằng 0,50 kém hơn so với 0,60 và tần suất xuất hiện của các loài cá cũng
với hệ số 0,50 cũng thấp hơn so với 0,60. Hệ số 0,50 tần suất xuất hiện trung bình là
1,34 và 0,60 tần suất xuất hiện là 3,34. Thành phần loài cá bị đánh bắt tăng khi tăng hệ
số rút gọn của lưới rê 23.
Năng suất trung bình của lưới rê với U
gp
= 0,50 là 17kg/km; thấp hơn năng suất
trung bình của lưới rê với U
gp
= 0,60 (23,2kg/km) 23.
Tần suất phân bố chiều dài: nhìn chung đối với hệ số rút gọn 0,50 đánh bắt
được nhóm kích thước rộng hơn so hệ số rút gọn 0,60. Tiến hành phân tích sinh học
của 4 loài: cá thu ngàng, cá ngừ vằn, cá ngừ vây vàng và cá ngừ chù cho thấy 23:
- Cá thu ngàng: chiều dài thân cá bị đánh bắt từ 700-1.300mm và tập trung từ
700-1.100mm. Chiều dài trung bình thân cá bị đánh bắt đối với hệ số rút gọn 0,50 thấp
hơn hệ số rút gọn 0,60.
- Cá ngừ vằn: chiều dài thân cá bị đánh bắt từ 40-55 cm và tập trung từ 40-
45cm. Chiều dài trung bình thân cá đánh bắt đối với hệ số rút gọn 0,50 không khác so
với hệ số rút gọn 0,60.
đồng/tàu.
Như vậy, các công trình nghiên cứu về nghề lưới rê ở nước ta từ trước đến nay
chỉ tập trung nghiên cứu về lưới rê ba lớp, lưới rê đơn tầng đáy và lưới rê trôi tầng
mặt mà chưa có công trình nào đề cập sâu đến cải tiến lưới rê hỗn hợp.
11
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
2.1.1. Đánh giá hiện trạng nghề lưới rê hỗn hợp ở huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định
- Hiện trạng tàu thuyền
- Hiện trạng ngư cụ
- Năng suất khai thác
- Thành phần sản lượng khai thác
- Kích thước cá đánh bắt,
2.1.2. Cải tiến lưới rê hỗn hợp ở huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định
- Lựa chọn kích thước lưới (chiều cao của lưới, chiều cao các phần lưới có kích
thước mắt lưới khác nhau )
- Tính toán kích thước mắt lưới, độ thô chỉ lưới ở từng phần lưới.
- Lựa chọn vật liệu dây giềng và trang bị phù tùng cho lưới mới,
2.1.3. Đánh giá hiệu quả khai thác lưới rê cải tiến
- Thi công vàng lưới
- Bố trí thí nghiệm: sơ đồ bố trí thí nghiệm và số lượng mẻ lưới thí nghiệm,
- Thành phần loài khai thác,
- Năng suất khai thác,
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là thực nghiệm và phân tích. Ngoài
ra, còn sử dụng phương pháp phi thực nghiệm như phỏng vấn, điều tra tại các bến cá,
khảo sát thực tiễn vv. Các phương pháp được gắn với ba nội dung như trên cụ thể
như sau:
2.2.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trạng nghề lưới rê hỗn hợp
Chiều dài thân cá (mm)
:k
hệ số đối với từng đối tượng đánh bắt được xác định dựa vào mặt cắt thân
cá và được tính theo công thức:
.2,0
max
C
k (2.2)
Trong đó: C
max
: chu vi mặt cắt lớn nhất của thân cá
:
chiều dài thân cá (mm)
Việc xác định kích thước mắt lưới cho từng phần trong một cheo lưới phụ thuộc
chính vào đối tượng đánh bắt. Do đó, căn cứ vào kết quả điều tra hiện trạng và đặc
điểm sinh học cũng như tập tính phân bố của đối tượng khai thác và các quy định của
pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Từ đó, tính toán và xác định kích thước mắt
lưới phù hợp, số lượng kích thước mắt lưới cần thiết trên một cheo lưới.
+ Xác định độ thô chỉ lưới: Căn cứ theo tính năng đánh bắt, tính toán độ thô chỉ
lưới theo công thức:
t
m
t
m
a
a
d
Đối với trường hợp nước tĩnh sức nổi của phao cần trang bị như sau:
P = G
lưới
+ G
giềng
(2.5)
G
lưới
; G
giềng
: là trọng lượng của lưới và của dây giềng trong không khí (kg)
Đối với trường hợp nước chảy thì sức nổi của phao cần trang bị cho lưới xác
định phụ thuộc vào dòng chảy:
P = 1 ÷ 2 (G
lưới
+ G
giềng
) (2.6)
- Lưới rê trôi:
Trang bị phao chì cho lưới rê trôi giống trang bị phao chì lưới rê cố định. Để lưới
rê trôi làm việc ở mọi tầng nước sức nổi của phao nhỏ (phao gắn trên dây giềng phao)
phải nhỏ hơn tổng lực chìm của lưới.
ΣP
nhỏ
< ΣQ – Trong đó:
ΣQ= ΣQ
lưới
+ ΣQ
giềng
)
2
(2.9)
Trong đó:
14
f: Hệ số ma sát của nền đáy
k: Hệ số lực cản thuỷ động
S: Diện tích làm việc của lưới
V
n
: Tốc độ dòng chảy
V
lưới
: Tốc độ trôi lưới
+ Tính toán trọng lượng áo lưới theo diện tích giả: (Nguyễn Trọng Thảo, 2005)
)(.
00
kggSG (2.10)
Trong đó:
G: Trọng lượng áo lưới (kg)
S
0
: Diện tích kéo căng tấm lưới (m
2
)
g
0
: Trọng lượng của 1m
2
- Đàm thoại: 6 băng
- Máy phát điện: 3 KVA Hình 2.1: Tàu NĐ2790TS thử nghiệm lưới rê hỗn hợp cải tiến
2.2.3.2. Lưới đối chứng
Lưới đối chứng được lựa chọn thử nghiệm thông qua lấy mẫu ngẫu nhiên và tỷ
lệ mẫu lưới sử dụng phổ biến ở huyện Hải Hậu.
Lưới rê đánh giá các thông số lưới đối chứng; kích thước cạnh mắt lưới; độ thô
chỉ lưới, hệ số rút gọn…có sự tương đồng so với lưới cải tiến.
Dựa trên năng suất đánh bắt thuộc nhóm tàu chia làm ba nhóm công suất như
trong phần thực trạng nghề lưới rê hỗn hợp huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định.
Dựa đánh giá lợi nhuận và sản lượng đánh bắt so với các tàu khác. Lựa chọn
dựa vào đánh giá trình độ chủ tàu và thuyền trưởng.
Mẫu lưới lưới hỗn hợp trên tàu NĐ 2790TS (lưới đối chứng) có thông số cấu
trúc cơ bản như:
- Kích thước mắt lưới thân 01: 2a =165mm
- Kích thước mắt lưới thân 02: 2a = 175mm.
- Hệ số rút gọn giềng phao U
gp
=0,55 và hệ số rút gọn giềng chì U
gc
=0,68.
- Chiều dài dây giềng phao (01 cheo lưới): 50,00 mét
- Chiều cao kéo căng lưới thân 01: 26,40 mét
- Chiều cao kéo căng lưới thân 02: 17,50 mét