Phân tích lợi thế cạnh tranh của đồ gỗ việt nam so với trung quốc khi xuất khẩu sang mỹ - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
MÔN MARKETING TOÀN CẦU
ĐỀ TÀI SỐ 1.
PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA GỖ
VÀ CÁC SẢN PHẨM GỖ VIỆT NAM SO VỚI
TRUNG QUỐC XUẤT KHẨU SANG THỊ
TRƯỜNG HOA KỲ.
Thành phố Hồ Chí Minh tháng
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tình hình chung ngành gỗ xuất khẩu của thị trường Việt Nam 1
1.1Tình hình xuất khẩu chung của ngành gỗ Việt Nam 1
1.2Các mặt hàng gỗ xuất khẩu của Việt Nam 3
1.3Nguồn nguyên liệu gỗ của Việt Nam 4
2. Tình hình nhập khẩu gỗ của Hoa Kì 6
2.1. Quy mô thị trường gỗ tại Hoa Kì 6
2.2. Những luật định của thị trường Hoa Kì 6
2.2.1. Vấn đề chung về hải quan 6
2.2.2. Vấn đề chung về Thuế và thuế nhập khẩu 7
2.2.3. Vấn đề chung về Chứng chỉ/ tiêu chuẩn Mỹ và quy tắc dán nhãn 8
2.3. Thị hiếu tiêu dùng hàng gỗ của Hoa Kì 9
2.4. Tình hình nhập khẩu gỗ của Hoa Kì 11
3. Phân tích lợi thế cạnh tranh gỗ Việt Nam so với gỗ Trung Quốc tại thị trường Mỹ 13
3.1. Yếu tố thâm dụng 13
3.1.1 Yếu tố cơ bản 13
3.1.2 Yếu tố tăng cường 16
3.2Yếu tố nhu cầu 20
3.3Các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan 27
3.3.1 Mô tả các ngành công nghiệp hỗ trợ 27
3.3.2 Một số tiến bộ của ngành công nghiệp hỗ trợ của hai nước 27

1.Tình hình chung ngành gỗ xuất khẩu của thị trường Việt Nam
1.1Tình hình xuất khẩu chung của ngành gỗ Việt Nam
Biểu đồ: Tổng sản lượng gỗ và các mặt hàng từ gỗ xuất khẩu thời kì 2008 – 2010
Không riêng gì với các ngành khác, ngành gỗ cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoang
kinh tế cuối năm 2007 đầu 2008. Trước khủng hoảng này, kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ có
dấu hiệu sụt giảm tương đối, từ 4,95% cuối năm 2007 giảm còn 4,51% cuôi năm 2008. Tuy
nhiên, trong thời kì nội và hậu khủng hoảng, kim ngạch xuất khẩu vẫn có bước phát triển rõ rệt
sau từng năm. Nhìn vào biểu đồ trên, có thể thấy tỉ trọng xuất khẩu của ngành gỗ so với tổng kim
ngạch xuất khẩu giai đoạn 2008 đến 2010 trong khoảng 4,5 – 5% và có xu hướng tăng dần qua
các năm, bất chấp sự sụt giảm kim ngạch
xuất khẩu toàn quốc trong năm 2010. Sự
tăng trưởng về tỉ trọng xuất khẩu của gỗ
và các mặt hàng từ gỗ phần nào thể hiện
rằng ngành gỗ và đồ gỗ đóng vai trò
không nhỏ trong chiến lược gia tăng khả
năng xuất khẩu của Việt Nam.
Theo chiến lược Quốc gia 2006 – 2015,
ngành gỗ và đồ gỗ sẽ là 1 trong 10 ngành
xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam trong
giai đoạn này. Chiến lược của ngành
cũng đưa ra mục tiêu phát triển: năm
2015, giá trị xuất khẩu sẽ đạt 5,4 tỉ USD
và năm 2020 là 7 tỉ USD.
Năm 2010, với kim ngạch hơn 3,4 tỷ
USD đã đưa ngành gỗ bước lên vị trí thứ
6 trong top 18 mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam.
So với các quốc gia xuất khẩu gỗ khá lớn trong khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia,
… thì giá trị xuất khẩu gỗ và các mặt hàng từ gỗ của Việt Nam chỉ mới đạt vị trí thứ 4 trong khu
vực (theo báo cáo năm 2010 của ASEAN Furniture Industries Council)

tương đương gỗ đặc nhưng giá thành có thể rẻ hơn đến 40%
- Ván lạng Veneer: sản xuất từ cây gỗ tròn (gỗ địa phương hay các dòng gỗ tròn cao cấp
nhập khẩu) bằng phương pháp lạng mỏng, độ dày chỉ khoảng vài dem (1 dem = 0,1mm)
nhưng vẫn giữ lại được những đường nét vân gỗ tự nhiên.
- Ván nhân tạo/ ván ép: có cái loại phổ biến như: ván MDF – sử dụng cây cao su nghiền ra,
tẩm sấy và ép lại thành tấm; ván HDF cao cấp hơn, nguồn gốc từ gỗ tạp nghiền, độ ép
chặt hơn, gáy tấm ván trông mịn hơn so với ván MDF; ván Okal – sử dụng dăm gỗ tạp và
mạt cưa ép thành tấm nhưng kết cấu xốp chứ không kết chặt như 2 loại trên. Tát cả các
loại ván trên thường được dán lớp Veneer lên bề mặt để có được bề mặt gỗ tự nhiên. Việt
Nam có thể tự sản xuất hay nhập những loại ván nhân tạo này từ Trung Quốc (giá rẻ và
chất lượng cũng kém bền do lớp Veneer quá mỏng), hay Thái, Malaysia (giá đắt hơn 40%
với lớp Veneer dày hơn từ 3 – 6 lần)
Trong khi đó, gỗ thành phẩm là gỗ đã qua quá trình gia công: tẩm, sấy, trang trí bề mặt (chạm,
khắc, khảm…) Do đó, các sản phẩm gỗ thành phẩm khi xuất khẩu sẽ đem lại giá trị cao hơn do
gia trị gia tăng từ công nghệ và lao động. Các mặt hàng gỗ thành phẩm được chia là 4 nhóm mặt
hàng chính:
- Nhóm thứ nhất: nhóm sản phẩm đồ mộc sử dụng ngoài trời. VD như: bàn ghế vườn, ghế
băng, ghế xích đu… được làm hoàn toàn từ gỗ hoặc có sự kết hợp với các vật liệu khác.
- Nhóm thứ 2: nhóm sản phẩm đồ mộc dùng trong nhà. Bao gồm: các loại bàn ghế, giường
tủ, giá kệ sách, đồ chơi, ván sàn… thuần gỗ hay kết hợp với da, vải.
- Nhóm thứ 3: nhóm đồ gỗ mỹ nghệ, chủ yếu được làm từ gỗ rừng tự nhiên và được áp
dụng các kĩ thuật chạm, khắc, khảm…
- Nhóm thứ 4: sản phẩm dăm gỗ sản xuất từ gỗ rừng trồng mọc nhanh như gỗ Keo, Bạch
đàn…
4
1.3. Nguồn nguyên liệu gỗ của Việt Nam
Trước đây, Việt Nam chủ yếu sử dụng nguyên liệu gỗ phục vụ cho xuất khẩu là gỗ rừng tự
nhiên, bởi diện tích rừng tự nhiên còn khá lớn. Tuy nhiên trong những năm gần đây, diện tích
rừng tự nhiên đã bị sụt giảm nghiêm trọng (chỉ còn 9,44 triệu ha, trữ lượng 720,9 triệu m3 gỗ) đã
khiến Việt Nam phải chuyển sang sử dụng nguồn gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng. Hàng năm Việt

2. Tình hình nhập khẩu gỗ của Hoa Kì
2.1Quy mô thị trường gỗ tại Hoa Kì
Mỹ là nước nhập khẩu gỗ và hàng nội thất hàng đầu thế giới. Năm 2010 vừa rồi, Mỹ đã nhập
khẩu trên 80 tỷ USD gỗ nói chung. Chỉ tiêu cho đồ gỗ và nội thất tại Mỹ đã gia tăng đáng kể,
trong đó các bang miền Tây luôn giữa vị trí hàng đầu. Hiện tại, bang Califonia là thị trường tiêu
thụ gỗ lớn nhất nước Mỹ, ngoài ra còn có các bang như Texas, Florida. Ở phía Đông Bắc, bang
Washington, Nevada, Utah, Arizona và Colorado được dự báo là có tiềm năng tăng trưởng cao
nhất trong tương lai.
Không chỉ nhập khẩu, Mỹ cũng là nước xuất khẩu gỗ và đồ gỗ hàng đầu thế giới và ngành công
nghiệp gỗ của Mỹ cũng rất năng động. Tổng số các công ty chế biến gỗ ở Mỹ lên tới 86.000
công ty, trong đo có khoảng 19.000 công ty sản xuất gỗ, 53.000 công ty sản xuất đồ gỗ và 14.000
công ty chế tạo nội thất. Oregon là bang sản xuất đồ gỗ lớn nhất của Mỹ, trong khi bang North
Caronia là gang sản xuất đồ gỗ nội thất lớn nhất. Ngành công nghiệp gỗ của Mỹ rất chủ động
trong việc xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 5-6 tỷ USD. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây, mức độ năng động của ngành công nghiệp gỗ bị giảm sút, nguyên
nhân chủ yếu là vì hàng hóa Mỹ bị đội giá do giá lao động cao và tỉ giá đô la Mỹ ngày càng cao
so với nhiều đồng tiền khác (trừ Euro sau chiến tranh Iraq đã tăng giá so với đồng đô la Mỹ).
Phân tích nhập khẩu của Mỹ cho tháy những mặt hàng nhập khẩu lớn nhất là: bàn ghế bằng gỗ
(chiếm 15% nhập khẩu của nhóm HTS94), phụ kiện ghế dùng cho xe cộ bằng kim loại (13%), đồ
gỗ nhà bếp (8%), bàn ghế văn phòng (7%), gỗ tùng bách (39% nhập khẩu).Phần lớn nhóm hàng
gỗ và ché biến được nhập khẩu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, một phần được chế biến để
xuất khẩu và tái xuất khẩu.
Đặc điểm nổi bật nhất của thị trường Mỹ là quy mô lớn, nhu cầu tăng thường xuyên và rất đa
dạng sản phẩm. Nhưng đây cũng là khó khăn cho nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có
Việt Nam vì các đơn hàng thường rất lớn nên khó đáp ứng được yêu cầu. Thị trường Mỹ cũng là
thị trường mở nên cạnh tranh rất ác liệt, cụ thể như sự cạnh tranh đến từ những quốc gia có
truyền thống nhập khẩu gỗ vào thị trường Mỹ từ trước đến nay: Brazil, Canada, Trung Quốc,
Indonesia, Malaysia…
2.2Những luật định của thị trường Hoa Kì
2.2.1 Vấn đề chung về hải quan

10%.
2.2.2 Vấn đề chung về Thuế và thuế nhập khẩu:
Mức thuế ở Mỹ nói chung là thấp. Đối với đồ gỗ thuộc mã HS 44, thuế quan thay đổi từ 0 đến
10,7%. Trên thực tế, thuế đánh vào gỗ dán cao nhất (8 và 10,7%). Thuế suất được áp dụng cho
hàng gỗ nội thất (mã HS94) đa số là 0% và có một số mặt hàng đệm giường bằng lông vịt có
mức thuế 9 và 13% (HST 94043080 và 94049085 và 13%).
Một số công ty sản xuất gỗ lâm sản nhà đã phàn nàn về gánh nặng thuế phụ thu đánh vào các
nhà nhập khẩu, điều này sẽ làm tăng mức thuế nhập khẩu. Cụ thể:
 Phí xử lý hàng hóa (MPF) (0,21%) theo giá FOB, trị giá từ 25 USD đến 485 USD. Phí
này do Hải quan Mỹ và Puerto Rico thu.
 Thuế bảo quản cầu cảng (HMT) (0,125%) giá FOB
 Loại khác: phí thanh quản và tiền đặt cọc (bond) nộp cho Hải quan
Biểu thuế nhập khẩu của Mỹ được đăng trên mạng của Ủy ban Thương mại Quốc tế của
Mỹ là: www.usitc.gov
2.2.3 Vấn đề chung về Chứng chỉ/ tiêu chuẩn Mỹ và quy tắc dán nhãn:
Chứng nhận vệ sinh dịch tễ: Rơm hay đồ bao bọc bằng gỗ khi nhập vào Mỹ phải có giấy chứng
nhận vệ sinh dịch tễ. Giấy chứng nhận này có thể do nhà xuất khẩu cung cấp. Giấy chứng nhận
cần xác nhận rằng các sản phẩm không bị nhiễm bệnh hay dịch của gỗ. Quy định này do Văn
7
phòng điều tra sức khỏe động thực vật ban hành tại các điều khoản của 7 CFR 300 và 7 CFR
319. Giấy chứng nhận xử lý nhiệt cũng được yêu cầu đối với việc nhập khẩu các nguyên liệu
đóng gói bằng gỗ.
Một số đạo luật đặc biệt được Mỹ áp dụng nhằm thúc đẩy chương trình khai thác tài nguyên
rừng bền vững trên khắp thế giới, như: chứng chỉ FSC – CoC và đạo luật Lacey.
Chứng chỉ FSC – CoC là chứng chỉ quốc tế về chuỗi hành trình sản phẩm, do Hội đồng quản trị
rừng thế giới xác nhận. nhằm thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt
môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và kinh tế. Hiện nay đã có khoảng 55% doanh nghiệp Việt
Nam được cấp chứng chỉ này.
Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ quy định doanh nghiệp khi xuất khẩu đồ gỗ, lâm sản vào Hoa Kì thì
cần phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của nguồn nguyên liệu làm ra sản phẩm đó. Cho

và địa chỉ người xuất khẩu và người nhập khẩu, mô tả chính xác chủng loại gỗ.
8
HTS 94: Đồ nội thất: Bao gồm các loại ghế, đồ đạc dụng cụ trong bệnh viện; các đồ đạc trong
nhà, văn phòng, giường tủ, bàn ghế, đệm; đèn và các tám ngăn xây dựng làm sẵn… Các đồ dùng
này có thể làm hoàn toàn bằng kim loại, gỗ, nhựa, hay làm khung có bọc da, vải hoặc các vật liệu
khác.
Đối với danh mục hàng này, việc nhập khẩu phải:
1. Phù hợp với các tiêu chuẩn sản phẩm tiêu dùng của Uỷ ban an toàn tiêu dùng (CPSC) về
an toàn tiêu dùng
2. Đối với đệm: phù hợp với các tiêu chuẩn Underwriter’s Laboratory (UL), do CPSC quản
lý.
3. Các đồ có thành phần là vải dệt phải ghi theo các quy định TFPLA về xác định nguồn gốc
vải.
2.3 Thị hiếu tiêu dùng hàng gỗ của Hoa Kì:
Gỗ nguyên liệu tại Mỹ được phân loại như sau:
• Gỗ cứng: là gỗ từ các cây hạt kín, hoặc loài cây lá rộng. Vd: Gỗ Thích, gỗ Mun, gỗ Sồi,
gỗ Dương, Tếch, Phi Lao…
• Gỗ mềm: là gỗ từ các cây hạt trần, hoặc loài cây lá kim. Vd như Thông, Bách Hương,
Bạch Quả
• Trong đó, gỗ nguyên liệu được sử dụng cùng là các loại gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ ép, ván ép
nhân tạo và ván Veneer.
Các chủng loại gỗ nguyên liệu được thị trường Hoa Kì nhập khẩu nhiều nhất lần lượt là Gỗ xẻ
bản lớn thuộc dòng gỗ cứng (Hardwood lumber/ sandwood), gỗ tròn thuộc dòng gỗ mềm
(Softwood log/ roundwood), kế đến là gỗ tròn thuộc cả dòng gỗ cứng và mềm. Ngoài ra còn các
sản phẩm từ gỗ: ván ép nhân tạo(Vaneer) và cả dăm gỗ (woodchips) để chế biến ván ép nhân tạo.
Năm 2010, nhu cầu đối với gỗ xẻ mềm tại Mỹ tăng 18% sau khi đạt mức thấp nhất trong vòng 50
năm vào năm 2009. Sư gia tăng nhu cầu đã đẩy giá gỗ ở tại Mỹ, Châu Á và Châu Âu tăng lên
cao và tiếp tục cao hơn cho đến năm 2011. Thêm vào đó, giá thông màu vàng ở miền Nam nước
Mỹ đã cao hơn 24% kể từ tháng 3/2011 so với mùa hè năm 2010. Xu hướng tương tự cũng được
thấy đối với loại gỗ Linh sam (Douglas) tại Tây Hoa Kì, và gỗ Vân sam (Spruce – pine), gỗ

thị trường Mỹ có khi phải sơn đến 10 lần.
2.4Tình hình nhập khẩu gỗ của Hoa Kì:
(Đơn vị tính: USD)
Rate Country 8/2009 – 7/2010 8/2008 – 7/2009 Change
(%)
1 Brazil 238,155,180 204,183,322 16,64
2 Chile 142,627,876 147,700,381 -3,43
3 China 106,476,741 119,457,017 -10,87
4 Canada 93,248,302 102,361,643 -8,9
5 Mexico 45,478,798 40,412,812 12,54
6 New Zealand 26,737,254 22,406,598 19,33
7 Malaysia 26,100,147 26,427,420 -1,41
8 Argentina 20,856,523 16,937,802 23,14
9 Indonesia 11,408,507 11,676,800 -2,3
10 Vietnam 9,100,590 4,700,911 93,59
11 Italy 7,768,792 8,723,028 -10,94
12 Peru 6,585,073 5,665,737 16,23
13 Ecuador 3,510, 782 1,159,435 202,8
14 Paraguay 3,092,575 4,205,983 -26,47
15 Netherlands 2,939,987 6,729,616 -53,18
16 Taiwan 2,406,211 4,829,938 -50,18
17 Bolivia 2,258,186 3,385,672 -33,3
18 Spain 1,357,541 1,918,214 -29,23
10
19 Colombia 1,219,682 872,108 39,69
20 Honduras 1,056,490 1,795,822 -41,17
21 Germany 770,738 1,900,383 -59,43
22 Nicaragua 734,119 844,038 -13,02
23 Finland 706,786 162,174 335,82
24 France 689,077 2,588,610 -73,38

Điều kiện tự nhiên
Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, với diện tích
327.500 km2, diện tích rừng bao phủ khoảng 30% với số
liệu thống kê được là khoảng 9,5 triệu km2. Với các trữ
lượng rừng được thống kê như sau (2008):
Địa hình Việt Nam đa dạng, bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ
biển và thềm lục địa. Có môi trường khí hậu nhiệt đới gió
mùa nóng ẩm, độ ẩm thường trên 80%, lương mưa hàng
năm vào khoảng 1200 – 3000mm. Vị trí trải dài từ vĩ độ 23
đến vĩ độ 8 của Bắc bán cầu nên khí hậu có sự khác biệt
theo từng vùng. Có thể chia khí hậu Việt Nam thành 2 đới
lớn, miền Bắc – khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt;
miền Nam do ít bị ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu nhiệt
đới khá điều hòa với 2 mùa khô và mùa mưa. Bên cạnh đó,
do cấu tạo địa hình bị chia cắt nên Việt Nam còn nhiều vùng
tiểu đới khí hậu có khí hậu ôn đới như Sapa, Lào Cai, Lâm
Đông, vùng khí hậu lục địa như Lai Châu, Sơn La. Với một
tổng thể điều kiện tự nhiên đa dạng, Việt Nam có nhiều khu
vực rừng có trữ lượng cao và chất lượng quý như :
- Vùng rừng Tây Bắc : với các loại cây Du, Thông 3
lá, Pơmu, Chò chỉ…
- Vùng rừng Trung Tâm : với Keo, Bồ đề, Bạch đàn,
Luồng…
- Vùng rừng Đông Bắc : với Lim xanh, Dẻ, Nghiến,
Thông nhựa, Vầu…
- Vùng rừng Bắc Trung Bộ : với các loài Lim, Sến,
Trai, Nghiến, mun, Thông nhựa…
- Vùng duyên hải Nam Trung Bộ : với đất đai nghèo
dinh dưỡng thích hợp với các khu rừng cao su,
- Vùng rừng Tây Nguyên với các loài Thông, Dẻ,

thế tuyệt đối để trồng trọt các giống cây sống trong khí hậu
từ Hàn đới đến Nhiệt đới với sản lượng khá lớn hàng năm.
Tuy nhiên ngành gỗ Trung Quốc cũng thường xuyên phải
đối mặt với nhiều thảm họa do thiên tai. Theo thông tin của
hãng đánh giá rủi ro Maple, Trung Quốc nằm trong top 3
những những có rủi ro và vô cùng nhạy cảm trước thiên tai.
Nhìn sơ qua lịch sử những trận thiên tai của Trung Quốc,
như bão lũ ở miền Trung và Nam Trung Quốc, hạn hán ở
miền Bắc, động đất ở khu vực phía Tây Nam đều để lại
những hậu quả nặng nề cả về con người, kinh tế và đặc biệt
làm ảnh hưởng đến các cánh rừng cũng như ngành công
12
Việt Nam cũng thường xuyên đối mặt với các đợt thiên tai
từ nhẹ đến nghiêm trọng hàng năm. Nhưng loại thiên tai ảnh
hưởng nhiều nhất đến ngành lâm nghiệp Việt Nam chính là
hạn hán. Hạn hán là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc cháy
rừng. Trong khi theo thống kê, Việt Nam có 6 triệu hecta
rừng dễ cháy như rừng Thông, Bạch đàn, Tràm…, trung
bình mỗi năm Việt Nam mất đi 16.000 ha rừng do cháy.
nghiệp gỗ của Trung Quốc. Cụ thể như thảm họa tuyết vào
năm 2008 tại phía Nam Trung quốc đã khiến cho 279 triệu
mẫu rừng ở 19 tỉnh, huyện, thành phố (Hồ Nam, Quý Châu,
Giang Tây, Hồ Bắc, An Huy, Quảng Tây và Triết Giang…)
bị ảnh hưởng, 1781 trang trại bị phá hủy nghiêm trọng, hầu
hết các rừng trẻ và trung niên trong khu vực bị phá hủy.
Nguồn lao động
Hiện nay, tình hình lao động của ngành là một vấn đề cần có
biện pháp tăng cả chất lượng và số lượng. Thời báo kinh tế
Việt Nam cho biết, trong khoảng 170 000 lao động ngành
gỗ, lao động trình độ đại học chỉ chiếm 3% công nhân kỹ

13
Bắc 23%, Bắc Trung bộ 7,2%, Nam Trung bộ 5,2%, Tây
Nguyên 7,4%, Đông Nam bộ 2%, Đồng bằng sông Cửu
Long 2,1% và Đồng bằng sông Hồng 0,2%.
độ dân cư cho thấy phần lớn người dân Trung Quốc tập
trung sinh sống nhiều ở khu vực Đông Bắc, Đông Nam và
Tây Nam.
Hình vẽ thể hiện sự phân bố các doanh nghiệp lâm sản
của Trung Quốc
Nhìn vào hình vẽ trên có thể thấy các doanh nghiệp hoạt
động trong ngành gỗ Trung Quốc có xu hướng phân bố
tương tự với tình trạng phân bố dân cư: tập trung chủ yếu ở
phía Đông Trung Quốc, nơi có mật độ dân cư và nguồn lao
động đông đúc. Do đó có thể nói, khu vực có dân cư đông
sẽ khiến cho hoạt động của ngành gỗ trở nên sôi động và
phát triển mạnh.
14
Nhìn vào bảng cơ cấu dân số theo độ tuổi có thể thấy dân
số trẻ Trung Quốc chiếm chủ yếu, đặc biệt trong độ tuổi lao
động. Thêm vào đó, mục tiêu của chính sách xã hội Trung
Quốc là tạo ra nhiều việc làm cho người trẻ thuận lợi cho
ngành công nghiệp gỗ nơi cần nhiều lao động trẻ với giá rẻ.
Chi phí lao động thấp là lợi thế quan trọng nhất của ngành
công nghiệp gỗ Trung Quốc. Tuy nhiên, có bằng chứng cho
thấy rằng có thể có sự thiếu hụt lao động có trình độ. Trong
đáp ứng sự thiếu hụt công nhân có trình độ, một số tỉnh
xem xét tăng tiền lương tối thiểu để thu hút thêm lao động.
Nhìn chung thì lực lượng nhân công rẻ và trình độ tay nghể
của người lao động Trung Quốc vẫn cao hơn Việt Nam.
Tuy nhiên, cả Việt Nam và Trung Quốc đều phải đối mặt

những kĩ thuật sản xuất truyền thống được lưu truyền và
phát triển là một nguồn vốn kiến thức quốc gia vô
giá,đem lại lợi thế cạnh tranh lớn cho ngành gỗ mỹ nghệ
Việt Nam khi xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

lệ thấp do các nhà máy Trung Quốc chủ yếu vẫn bắt chước
các thiết kế.
• Sự am hiểu thị trường: Trung Quốc vẫn là quốc gia đứng đầu
về xuất khẩu gỗ thành phẩm và thị trường chủ yếu vẫn là
Mỹ, do đó có thể nói Trung Quốc khá am hiểu về thị trường
Mỹ.
Tiềm lực tài chính
• Các công ty chế biến gỗ có vốn đầu tư nước ngoài đóng
một vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành công
nghiệp gỗ Việt Nam, không chỉ trong lĩnh vực xuất khẩu
mà còn trong lĩnh vực trình độ công nghệ, đào tạo nhân
lực, đa dạng hoá sản phẩm và thậm chí là nâng cao hình
ảnh về ngành công nghiệp gỗ trên thị trưòng thế giới.
• Đây là thời cơ rất tốt để thúc đẩy sản xuất ở Việt Nam khi
các doanh nghiệp Đài Loan xây dựng và mở rộng quy mô
nhà máy tại đây, đặc biệt là tại Tp.HCM vì họ đang tăng
tốc để đối đầu với Trung Quốc trong cuộc chạy đua xuất
khẩu vào thị trường Mỹ và Châu Âu. Có cở sở để đặt
niềm tin và sự lạc quan vào tiềm năng ở đây và vì vậy
một nguồn vốn khổng lồ đã được đầu tư để đặt dấu ấn
chắc chắn vào thị trường sản xuất đồ nội thất đang lên
này.
Tiềm lực tài chính phát triển ngành gỗ:
Trung Quốc là một trong những quốc gia phát triển nhận
được nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài lớn nhất (People

nghiệp thuộc ngành gỗ với mục tiêu như sau:
STT Hạng mục 06 – 10 11 - 20 Total %
A
Chi phí đầu

31,946.1
7
68,413.63
100,359.8
0
94
1
Quản lý bền
vững rừng và
chương trình
phát triển
16,214.5
5
28,220.80 44,435.35 44.3
2
Bảo vệ rừng,
bảo tồn đa
dạng sinh học
và chương
trình phát triển
dịch vụ môi
trường
3,871.00 10,262.60 14,133.60 14.1
3
Chương trình

Tổng số vốn
cần thiết
33,885.34 72,873.72
106,759.0
6
100

18
3.2Yếu tố nhu cầu:
Việt Nam Trung Quốc
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
Đã có sự bùng nổ về nhu cầu các sản phẩm đồ gỗ
trong thị trường nội địa
Sự tăng trưởng kinh tế trong nước, đời sống của người dân
đã được nâng cao. Từ đây, nhu cầu các sản phẩm gỗ phục
vụ cuộc sống cũng tăng rất mạnh mẽ. Các hộ gia đình có
điều kiện kinh tế và đời sống khác nhau có những nhu cầu
rất khác nhau. Tuy nhiên, nhu cầu chủ yếu của các gia đình
là các sản phẩm đồ gỗ gia dụng như giường, tủ và bàn ghế.
Khảo sát ngẫu nhiên tại 210 hộ gia đình khu vực thành thị
của 7 tỉnh cho thấy mức tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ bình quân
hộ gia đình là 3 triệu đồng/năm. Đồng thời 100% số hộ gia
đình trả lời rằng họ đang có nhu cầu về sử dụng sản phẩm
gỗ và nhu cầu sản phẩm đồ gỗ bình quân là 6 triệu đồng/hộ
gia đình. Điều này cho thấy nhu cầu sản phẩm đồ gỗ trong
hộ gia đình người dân là tương đối lớn.
Khảo sát tại 10 khác sạn và nhà nghỉ cho thấy các nhà
nghỉ tiêu dùng trung bình 12 triệu đồng sản phẩm gỗ cho
một căn phòng, khách sạn hai sao sử dụng từ 16 đến 20
đồng/căn phòng, khách sạn ba sao sử dụng từ 20 – 30 triệu

nhu cầu tiêu dùng nội địa sản phẩm gỗ Trung Quốc chiếm
75% sản lượng, 25% dùng để xuất đi.
Sản phẩm Đồ gỗ của Trung Quốc luôn có mặt tại các thành
phố lớn như Hồng Kông, Thượng Hải, Bắc Kinh và một số
thành phố quốc tế khác để sẵn sàng bắt kịp trào lưu thị
trường.

19
MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA
THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC
Việt Nam ngày càng có nhu cầu cao đối với các sản
phẩm đồ gỗ
Nhu cầu sử dụng các sản phẩm đồ gỗ cho cả mục đích nhà
ở và thương mại tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong
những năm gần đây.
Theo kết quả nghiên cứu “phân tích thị trường bán lẻ
Việt Nam (2008 -2012)”, thị trường đồ gỗ trong nước dự
kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm lên tới
20% trong giai đoạn 2009-2012, lý do là số gia đình tăng
lên và mức thu nhập được cải thiện của tầng lớp trung lưu.
Theo kết quả của nghiên cứu “Phân tích thị trường bán lẻ
Việt Nam (2008-2012)”,.
Quá trình đô thị hóa nhanh, các dự án quy hoạch đô thị
đang triển khai – sẽ kéo theo nhu cầu cao đối với các
sản phẩm đồ gỗ
Tới năm 2020, dự đoán tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam sẽ
tăng 45,2%/năm so với tốc độ 27% hiện nay. Trong giai
đoạn 2010-2020, Việt Nam sẽ cần phát triển 364 triệu m2
nhà ở tại các thành phố, tương đương với gần 36 triệu
m2/năm. Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng này sẽ kích

ốc văn phòng và các công trình công cộng.
Xu hướng sản phẩm Đồ gỗ Trung Quốc:
Hiện nay, Trung Quốc có nhiều chủng loại hàng nội thất trên
thị trường, chủ yếu phục vụ cho nội thất khách sạn, nội thất
văn phòng và nơi công cộng.
Đối với nội thất gia đình, người Trung Quốc thường dựa vào
các yếu tố sau để chọn lựa:
- Thiết kế đơn giản, mang phong cách cá nhân trung
tâm
- Nguyên liệu gỗ phải chất lượng cao (người Trung
Quốc nói chung và người Á Đông nói riêng thích sưu
tầm đồ gỗ và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ có tính
giá trị cao)
- Phong cách cổ điển kết hợp phong cách Tây phương
hiện đại.
Đặc biệt, một số xu hướng sau đây sẽ là xu hướng phổ biến
tại thị trường Trung Quốc trong thời gian sắp tới:
- Nội thất nhà bếp – do người dân Trung Quốc ở các
thành phố lớn ngày càng sẵn sàng chi trả nhiều hơn
cho căn bếp của mình
- Đồ nội thất phải “xanh” – đây là kết quả của một
cuộc nghiên cứu sau những chương trình kế hoạch
nâng cao nhận thức về bảo vệ mội trường của Chính
phủ Trung Quốc tại các thành phố lớn. Do đó, các
doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng chú trọng hơn
đến việc chọn lựa nguồn nguyên liệu.
20
đáp ứng nhu cầu của du khách quốc tế. Cơ quan quản lý
ngành du lịch dự báo tới năm 2020 Hà Nội sẽ cần thêm
13.000 phòng tại các khách sạn từ 3-5 sao, và con số này

đầu tư nhỏ hoặc là cơ sở thực hiện việc gia công sản phẩm
cho các cơ sở sản xuất lớn.
Khảo sát ở 50 cơ sở sản xuất đồ mộc mới thành lập cho
thấy quy mô vốn đầu tư một cơ sở sản xuất đồ mộc nội địa
có giá trị từ 50 đến 100 triệu và 80% số cơ sở này thực
hiện sản xuất sản phẩm theo kiểu gia công theo đơn đặt
hàng của cơ sở sản xuất lớn hơn. Doanh thu bình quân của
các cơ sở sản xuất này biến động từ 30 – 70 triệu
đồng/tháng.
CÁCH TRUNG QUỐC ĐÁP ỨNG NHU CẦU NỘI ĐỊA
Trung Quốc có trên 50.000 cơ sở sản xuất với hơn 50 triệu
nhân công và sản xuất với doanh số gần 20 tỷ USD/năm.
Sản lượng gỗ nội địa của Trung Quốc đã giảm mạnh trong 10
năm qua, sau khi Chính phủ nước này ban bố lệnh cấm khai
thác gỗ. Tuy nhiên, theo WWF, nỗ lực bảo vệ rừng của Trung
Quốc lại khiến cho lượng gỗ nhập khẩu từ các quốc gia có
nạn đốn gỗ bất hợp pháp gia tăng. Trung Quốc hiện là một
trong những điểm đến chủ yếu của gỗ lậu - hơn 50% gỗ nhập
khẩu có xuất xứ từ Nga, Malaysia và Indonesia.
Theo Cục Lâm nghiệp Trung Quốc, nước này đã nhập khẩu 25,5
triệu m
3
gỗ lậu trong năm 2003. Báo cáo mới của WWF cho biết,
đến năm 2010 các khu rừng và đồn điền ở Trung Quốc cũng chỉ
đáp ứng chưa tới 50% tổng nhu cầu gỗ công nghiệp của nước này.
WWF nói rằng Trung Quốc có thể sản xuất gỗ bền vững trong các
khu rừng cấm khai thác để bớt phụ thuộc vào lượng gỗ từ bên
ngoài. Bên cạnh đấy, cũng cần có các sáng kiến để cải thiện hiệu
quả của quy trình chế biến, sử dụng gỗ nhằm giảm lãng phí.
21

ra. Nhiều người cho rằng sản phẩm của họ mua không
được sản xuất từ loại gỗ mà họ đã được cơ sở sản xuất cho
biết. Theo đánh giá của những người tiêu dùng việc thiếu
hệ thống tiêu chuẩn và kiểm soát chất lượng đang là cản
trở cho việc ra quyết định đầu tư mua sản phẩm gỗ. Một số
cho rằng đồ gỗ ngoại nhập sẽ được họ ưu tiên lựa chọn nếu
như phải ra quyết định mua sản phẩm. Kết quả khảo sát
cũng phản ánh rằng các cơ sở sản xuất đồ gỗ của Việt Nam
sẽ có khả năng mất dần thị phần nếu như họ không có sự
cải tiến về chất lượng đối với các sản phẩm tiêu dùng trong
nước.
Hình thức bán hàng hay cung cấp sản phẩm rất đa
dạng:
Hiện nay người mua hàng có thể trực tiếp đến các cửa hàng
22
buôn bán sản phẩm đồ gỗ để lựa chọn hàng cần mua. Nếu
người mua không muốn sử dụng các sản phẩm sản xuất
trước thì họ có thể đặt hàng và các cơ sở sản xuất đồ gỗ sẽ
cử người đến thiết kế và sau đó tiến hành sản xuất và lắp
đặt phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Người mua
hàng cũng có thể mua hàng trên mạng internet. Thông
thường các khách hàng có thu nhập thấp và nhu cầu tiêu
dùng sản phẩm có chất lượng thấp thường đến mua trực
tiếp ở các của hàng hoặc cơ sở sản xuất. Trong khi đó các
khách hàng có thu nhập cao và có nhu cầu sản phẩm với
chất lượng cao thường tìm đến các cơ sở sản xuất để đặt
hàng theo những thiết kế và chất lượng nhất định. Vẫn còn
rất ít khách hàng thực hiện việc mua hàng trên mạng
internet.
Giá cả sản phẩm phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người

Theo ý kiến của các cơ sở sản xuất thì việc sử dụng gỗ
nguyên liệu là gỗ khai thác từ rừng trồng gặp rất nhiều khó
khăn và giá thành sản phẩm cũng tương đối cao do:
- Gỗ khai thác từ rừng trồng trong nước đều là gỗ nhỏ và
gỗ non nên phải gia công xử
lý rất phức tạp và chi phí cao.
- Người dân Việt Nam vẫn chưa quan tâm và ưu tiên sử
dụng những sản phẩm gỗ được chế biến từ gỗ bằng rừng
trồng
THÀNH TỰU QUỐC TẾ ĐẠT ĐƯỢC CỦA NGÀNH
Ngành gỗ Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 4 trong khối các
nước Đông Nam Á (sau Malaysia, Indonesia và Thái Lan)
trong cuộc đua chiếm thị phần xuất khẩu đồ gỗ. Sản phẩm
đồ gỗ của Việt Nam đã xuất khẩu sang 120 nước, trong đó
EU, Mỹ, Nhật Bản là 3 thị trường lớn và rất khó tính thì
hàng của Việt Nam đã có được những vị thế nhất định,
trong tổng kim ngạch xuất khẩu thì Mỹ chiếm trên 20%,
EU chiếm 28%, Nhật Bản chiếm 24%. Tuy nhiên, đồ gỗ
Việt Nam hiện mới chiếm 0,78% tổng thị phần thế giới,
trong khi nhu cầu sử dụng loại hàng này luôn tăng nhanh
nên tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam là rất lớn.
Nhờ có hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Mỹ
từ cuối năm 2001, Việt Nam đã thâm nhập thị trường Mỹ
và năm 2003 đã đứng thứ 12 danh sách 15 nước xuất khẩu
lớn nhất vào Mỹ, chiếm tỷ trọng 0.7% nhập khẩu hàng năm
của Mỹ.
THÀNH TỰU QUỐC TẾ ĐẠT ĐƯỢC CỦA NGÀNH
Năm 2005, trị giá của lượng đồ gỗ nội thất thế giới đạt
khoảng 267 tỷ USD, riêng Trung Quốc là 37.9 tỷ USD chiếm
14% giá trị này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status