những giải pháp hoàn thiện mạng lưới bán hàng của công ty TNNH thương mại vạn thành - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là quy định bắt buộc trong chương trình đào tạo cho tất cả
sinh viên, học viên nói chung cũng như trong chương trình đào tạo cử nhân ngành quản
trị kinh doanh nói riêng. Nhằm củng cố ôn luyện và tổng hợp những kiến thức trong thời
gian học tập tại trường, cũng như giúp sinh viên ứng dụng kiến thức đã học vào thực tế
sản xuất kinh doanh, và có cái nhìn thực tế hơn, từ đó xem xét việc học lý thuyết trên
trường khác như thế nào so với thực tế. Sinh viên cần phải làm gì? Làm bằng cách nào?
Để sau khi hoàn tất chương trình thực tập sinh viên có một nền tảng riêng cho mình.
Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Cao Đẳng Số 3 đã giúp
đỡ em trong 3 năm học qua.
Cảm ơn thầy giáo Lê Đức Tâm đã hướng dẫn và đóng góp ý kiến cho đề tài thực tập
của em hoàn thiện hơn.
Em cũng chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị của công ty TNHH Thương Mại
Vạn Thành đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này.

Em xin chân thành cảm ơn.
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………….

………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
…………………………
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế thế giới đang trên đà phát triển, ngày càng có nhiều tổ chức, công ty
được thành lập và hoạt động. Cạnh tranh và sinh tồn là điều không thể tránh khỏi trong
kinh doanh. Chính vì thế mà mỗi tổ chức hoạt động kinh doanh phải lựa chọn riêng cho
mình những sách lược kinh doanh sao cho đạt hiệu quả kinh doanh cao, có vị thế vững
vàng trong thương trường, và ngày càng phát triển trên thị trường.
Quản trị Marketing là công cụ cực kỳ quan trọng, ngoài việc giúp công ty tìm ra
thị trường, tạo lợi thế cho doanh nghiệp, nó còn giúp doanh nghiệp duy trì và phát triển
thị trường. Marketing là hoạt dộng có tính chất nghiệp vụ và kỹ thuật, thông qua việc
nghiên cứu, dự báo nhu cầu thị trường, tìm ra các biện pháp để điều khiển các dòng hàng
hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường mục tiêu.
Hơn nữa quản trị Marketing có vị trí và vai trò quan trọng đối với các hoạt động
quản trị khác như: quản trị sản xuất, quản trị tài chính, quản trị nhân sự, thông qua việc
chỉ rõ nhu cầu của khách hàng mục tiêu, áp lực của cạnh tranh và đưa ra nhu cầu cung
ứng hệ thống sản phẩm và dịch vụ thích hợp.
Cùng với các biến số khác của Marketing-mix: sản phẩm, giá cả, xúc tiến hỗn hợp,
thì mạng lưới bán hàng cũng giúp cho công ty thỏa mãn nhu cầu thị trường tốt hơn, đó
chính là các trung gian Marketing, họ sẽ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc cổ động bán
hàng và giao hàng của doanh nghiệp đến tận tay người tiêu dùng.

Thành.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống mạng lưới bán hàng của công ty
TNHH Thương Mại Vạn Thành.
Giới hạn nghiên cứu: số liệu 3 năm.
Phương pháp nghiên cứu: Chuyên đề sử dụng các phương pháp khác nhau như
phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích dữ liệu do công ty cung cấp.
PHẦN I: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG MẠNG LƯỚI BÁN
HÀNG.
1.1 Những vấn đề cơ bản về hệ thống mạng lưới bán hàng
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có sự tham gia của nhiều công ty vào cùng
một lĩnh vực kinh doanh, việc cạnh tranh luôn diễn ra gay gắt, vì thế mà mỗi doanh
nghiệp luôn tìm cách để sản phẩm, hàng hóa của mình được phân phối rộng rãi và đến tay
người tiêu dùng một cách nhanh nhất. Do vậy họ cần phải sử dụng đến “các trung gian
Marketing”. Thông qua các trung gian, hàng hóa đến tay người tiêu dùng một cách có
hiệu quả nhất, thỏa mãn tốt hơn mục tiêu của công ty và nhu cầu của khách hàng. Chính
những người làm nhiệm vụ bán hàng trung gian này đã tạo nên hệ thống mạng lưới bán
hàng của công ty, hệ thống mạng lưới bán hàng là một trong 4 yếu tố quan trọng bậc nhất
của hệ thống Marketing- mix.
1.1.1 Khái niệm hệ thống mạng lưới bán hàng.
Có nhiều khái niệm về hệ thống mạng lưới bán hàng. Tùy theo những góc độ
nghiên cứu khác nhau, người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về hệ thống
mạng lưới bán hàng.
Xét ở tầm vĩ mô, mạng lưới bán hàng được xem là con đường vận động của hàng
hóa và dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Dưới góc độ của người tiêu dùng, hệ
thống mạng lưới bán hàng là tập trung các trung gian bán hàng hóa, dịch vụ đại diện cho
một công ty nào đó, họ là người đưa những sản phẩm, dịch vụ ấy đến tận tay người tiêu
dùng. Còn đối với người sản xuất, hệ thống mạng lưới bán hàng là sự tổ chức các quan hệ
bên ngoài (chuyển sở hữu, đàm phán) nhằm thực hiện hoạt động bán hàng sản phẩm, dịch
vụ của công ty theo cách thức, chính sách do công ty mình đặt ra.
Xét dưới góc độ quản lý, hệ thống mạng lưới bán hàng được xem như một lĩnh

thị trường. Nhiều công ty đã thấy rằng, để cạnh tranh thành công họ không chỉ cung cấp
các sản phẩm và dịch vụ tốt hơn đối thủ, mà còn làm tốt hơn khả năng sẵn sàng của
chúng ở những địa điểm xác định. Khi nào và làm thế nào để dáp ứng tốt nhất nhu cầu
của người tiêu dùng, chỉ có qua mạng lưới Marketing, những khả năng này mới được
thực hiện. Nhờ vào các thành viên trong mạng lưới như các nhà buôn, đại lý, môi giới,
các trung gian môi giới mà có thể tạo nên sự tiên lợi về địa điểm, chẳng hạn như khi sản
phẩm hàng hóa bán không hết thì sự tồn trữ sản phẩm hàng hóa đó cũng gần nơi khách
hàng tiện lợi cho việc mua sắm .Ngoài ra, các trung gian còn tạo sự tiện lợi về chủng loại
khi có sự chuyên môn hóa về chủng loại hay sắp xếp, bố trí các quầy thuận tiện cho việc
lựa chọn của người mua…
Đối với bất kỳ một hệ thống mạng lưới bán hàng nào trong công ty cũng thường bị
tác động bởi ba vấn đề trong nền kinh tế . Đầu tiên là có sự phù hợp giữa sản xuất chuyên
môn hóa theo khối lượng lớn với nhu cầu đặc biệt đa dạng, chính sự phù hợp này sẽ giải
quyết sự không thống nhất về số lượng phân loại và nghiên cứu trong suốt quá trình bán
hàng .Thứ hai, là sự khác nhau về không gian, liên quan tới việc vận tải sản phẩm từ nơi
sản xuất đến nơi tiêu dùng. Vấn đề thứ ba là tạo ra sự ăn khớp cung cấp với nhu cầu khi
chúng tập trung vào nhưng thời điểm khác nhau .
Bán hàng là một trong 4 yếu tố của mô hình chiến lược Marketing-mix, với một
hỗn hợp chiến lược gồm 4 yếu tố Marketing như (sản phẩm, giá, phân phối và hỗ trợ bán
hàng ) có thể điều chỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường trong lĩnh vực mà công ty
hoạt động .Việc sử dụng và điều chỉnh 4 biến số này sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả
không phải dễ dàng, vì thế mà cần phải có sự quản lý Marketing để các mục tiêu tiềm
năng phát triển phù hợp. Đặc biệt là môi trường kinh doanh như hiện nay, vấn đề cạnh
tranh để sinh tồn và phát triển lại càng gay gắt hơn, chính vì vậy mà việc sử dụng chiến
lược Marketing sao cho phù hợp là điều quan trọng và sống còn của doanh nghiệp, và hệ
thống mạng lưới bán hàng của công ty sẽ phát triển, sắp xếp như thế nào cũng là điều mà
nhà quản trị Marketing cần phải quan tâm .
1.1.3 Các trung gian Marketing và các dòng chảy trong mạng lưới Marketing
1.1.3.1 Các trung gian Marketing
Là những cơ sở kinh doanh hỗ trợ doanh nghiệp trong việc cổ động bán

chóng, có hiệu quả, doanh nghiệp cần phải tổ chức một hệ thống mạng lưới bán hàng,
kèm theo là những quy định ràng buộc của công ty đối với các thành viên trong mạng
lưới. Doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều kênh phân phối để khai thác thị trường mục
tiêu, cần làm các quyết định về mục tiêu phân phối vận chuyển, xử lý đơn đặt hàng, kho
bãi dữ trữ hàng…để đảm bảo cho việc đạt hiệu quả phân phối trong hệ thống mạng lưới
bán hàng là cao nhất.
1.1.3.2 Các dòng chảy trong mạng lưới Marketing
Khi một mạng lưới Marketing đã được phát triển, nhiều dòng chảy xuất hiện
trong nó. Những dòng chảy này đủ sự kết nối và ràng buộc giữa các thành viên trong
mạng lưới và các tổ chức khác với nhau trong bán hàng hóa và dịch vụ. Từ quan điểm
mạng lưới, những dòng chảy quan trọng nhất là:
+ Dòng chảy sản phẩm.
+ Dòng chảy thương lượng (đàm phán).
+ Dòng chảy quyền sở hữu.
+ Dòng chảy thông tin.
+ Dòng chảy xúc tiến.
+ Dòng chảy tiền tệ.
Dòng Dòng Dòng Dòng Dòng
thông tin đàm phán sản phẩm sở hữu xúc tiến

Sơ đồ 1: Dòng chảy chính trong mạng lưới Marketing bán hàng tiêu dùng.
- Dòng chảy sản phẩm (physical flow): thể hiện sự di chuyển vật chất thực sự của
sản phẩm từ khi còn là nguyên liệu thô cho đến khi chế biến thành sản phẩm thích hợp
đưa đến người tiêu dùng cuối cùng.
- Dòng chảy đàm phán: biểu hiện sự tác động qua lại lẫn nhau của bên mua và bán,
liên quan đến quyền sở hữu sản phẩm. Các nhận thức rằng công ty vận tải không nằm
trong dòng chảy này vì nó không tham gia vào đàm phán. Đồng thời cần phải thấy rằng
đây là dòng hai chiều chỉ rõ đàm phán liên quan đến sự trao đổi song phương giữa người
mua và người bán ở tất cả các cấp mạng lưới.
- Dòng chảy sở hữu (title flow): thể hiện sự chuyển quyền sở hữu từ người sản xuất

Người
bán buôn
Người
bán lẻ
Người
bán buôn
Người
bán lẻ
Người
bán buôn
Người
bán lẻ
Người tiêu
dùng
Người
tiêu dùng
Người
tiêu dùng
Người
tiêu dùng
Người tiêu
dùng
chảy thông tin từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng là thông tin hai chiều. Tất cả các
thành viên đều tham gia vào dòng thông tin và các thông tin này được chuyển qua lại
giữa các cặp thành viên. Phần lớn các thông tin này liên quan đến mua bán xúc tiến, đến
số lượng, chất lượng hàng hóa, thời gian, địa điểm giao hàng thanh toán
- Dòng xúc tiến (promotion flow): thể hiện sự hỗ trợ về truyền thông tin sản phẩm
của người sản xuất cho tất cả các thành viên trong mạng lưới dưới các hình thức quảng
cáo, bán hàng cá nhân, xúc tiến bán hàng và quan hệ công chúng, ở đây có sự tham gia
của các đại lý quảng cáo cung cấp và thực hiện dịch vụ quảng cáo. Người sản xuất và đại

- Tài chính: là việc cung cấp tín dụng hoặc cấp tiền để thúc đẩy giao dịch.
- Dữ trữ: là việc duy trì hàng tồn kho và bảo vệ sản phẩm để cung cấp dịch vụ
khách hàng tốt hơn.
- Phân hạng: phân loại sản phẩm thành các cấp khác nhau trên cơ sở chất lượng.
- Vận tải: sự vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi chúng được mua hoặc sử
dụng.
- Chấp nhận rủi ro: chấp nhận rủi ro kinh doanh trong vận chuyển hàng hóa và sở
hữu hàng hóa.
- Nghiên cứu Marketing: thu thập thông tin liên quan các điều kiện thị trường, khối
lượng bán mong muốn, các xu hướng khách hàng, các lực lượng cạnh tranh.
1.2 Cấu trúc mạng lưới bán hàng (mạng lưới Marketing)
1.2.1 Khái niệm
Cấu trúc mạng lưới Marketing là một tập hợp các tổ chức hay cá nhân làm nhiệm
vụ chuyển hàng hóa, sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Mọi hoạt động trong mạng lưới sẽ tạo nên dòng chảy hàng hóa từ nhà sản xuất đến
người tiêu dùng. Và tất cả những ai tham gia vào hoạt động của mạng lưới được xem là
thành viên của mạng lưới Marketing.
Các biến số của cấu trúc mạng lưới
-Chiều dài mạng lưới: được phản ánh bởi cấp độ trung gian tham gia vào mạng lưới
bán hàng đó.
-Chiều rộng của mạng lưới: là số lượng các trung gian mỗi cấp của mạng lưới.
1.2.2 Cấu trúc chung của hệ thống mạng lưới Marketing
1.2.2.1 Cấu trúc chung của mạng lưới bán hàng
Gồm 3 bộ phận
- Bộ phận đầu kênh: đây là nơi hàng hóa bắt đầu đi, ở đây thường là nhà sản
xuất, nhà nhập khẩu, nhà cung cấp.
- Bộ phận giữa kênh: gồm các trung gian hặc không có trung gian, các trung
gian thường nhà buôn, đại lý, hay môi giới.
- Bộ phận cuối kênh: nơi hàng hóa kết thúc sự vận động, đó là người tiêu dùng
cá nhân hay các nhà sản xuất khác.

- Mạng lưới 4: Là loại mạng lưới ba cấp. Nó được sử dụng khi có nhiều nhà sản
xuất nhỏ và nhiều người bán lẻ. Một đại lý được sử dụng để giúp phối hợp cung cấp sản
phẩm với khối lượng lớn đến thị trường mục tiêu.
Loại mạng lưới 3 và 4 là loại mạng lưới dài và đầy đủ nhất, là loại mạng lưới phổ
biến trong hoạt động bán hàng hiện nay. Nó giải quyết được mâu thuẫn sản xuất tập trung
tiêu dùng rộng khắp, tuy nhiên với việc sử dụng mạng lưới dài thì chi phí cho việc thiết
lập mạng lưới là lớn, việc điều hành và quản lý bán hàng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy nhà
quản lý cần phải đầu tư và quả lý một cách thích hợp để tránh trùng lắp và giảm chi phí
xuống.
1.3 Những nội dung cơ bản về tổ chức và quản lý mạng lưới bán hàng.
1.3.1 Tổ chức (thiết kế mạng lưới)
Thiết kế mạng lưới là đưa ra những quyết định liên quan đến việc phát triển
mạng lưới bán hàng mới hoặc cải tiến những mạng lưới bán hàng hiện tại. Qúa trình thiết
kế gồm 7 bước:
- Nhận dạng nhu cầu thiết kế mạng lưới.
- Xác định và phối hợp mạng lưới bán hàng.
- Phân loại công việc bán hàng.
- Phát triển các cấu trúc thiết kế mạng lưới.
- Đánh giá các biến số ảnh hưởng tới cấu trúc mạng lưới.
- Lựa chọn cấu trúc mạng lưới tốt nhất.
- Tìm kiếm các thành viên mạng lưới.
Tùy vào mục đích thiết kế mạng lưới là để phát triển, mở rộng tại những khu vực
thị trường mới hay để hoàn thiện hệ thống mạng lưới hiện tại mà người quản lý sẽ có
những quyết định quản lý khác nhau. Ở đây chúng ta xem xét việc thiết kế mạng lưới
dưới góc độ hoàn thiện hệ thống mạng lưới bán hàng thông qua việc xác định các mối
quan hệ giữa các biến số của công ty, tuyên truyền mục tiêu và chiến lược Marketing với
việc thiết kế mạng lưới bán hàng.
1.3.1.1 Thị trường mục tiêu và việc thiết kế mạng lưới
Thiết kế hệ thống mạng lưới bán hàng là nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu
và ước muốn của thị trường mục tiêu. Do vậy nhà quản lý cần xem xét các biến số của thị

khối lượng khách hàng và khách hàng tiềm năng trên một đơn vị địa lý. Khi mật độ thị
trường lớn đây là điều kiện tốt cho việc vận chuyển hàng hóa và lượng tồn kho sẽ thấp.
Ngược lại, nếu mật độ thị trường nhỏ thì hàng hóa vận chuyển ít hơn và lượng tồn kho
nhiều hơn.
- Thứ tư là: Sự ảnh hưởng của các hành vi thị trường, các yếu tố hành vi thị trường
là:
+ Thị trường mua khi nào?
+ Thị trường mua ở đâu?
+ Thị trường mua như thế nào?
Nhiệm vụ của các thành viên mạng lưới là phải đảm bảo sự có mặt của hàng hóa
trên thị trường bất kỳ lúc nào khách hàng muốn. Tuy nhiên nhà quản lý cần phải làm sao
cho lượng tồn kho của các thành viên mạng lưới là nhỏ nhất mà vẫn đảm bảo được tính
sẵn có của hàng hóa. Đây là yêu cầu của việc thiết kế mạng lưới.
Kiểu cửa hàng mà người tiêu dùng cuối cùng lựa chọn và vị trí của nó sẽ quyết định
thị trường mua ở đâu. Nó liên quan chặt chẽ đến các yếu tố địa lý thị trường. Có những
khách hàng thích mua ở chợ, có người muốn mua ở siêu thị, đại lý tất cả đó là thói quen
của khách hàng, nhà quản lý cần tìm hiểu thói quen đó như thế nào và có dễ thay đổi
không. Ngày nay, công việc bận rộn khiến mọi người luôn cảm thấy thiếu thời gian, vì
vậy hệ thống mạng lưới bán hàng cần đảm bảo sự thuận tiên và dễ dàng trong mua bán.
Sự thích thú trong thay đổi mua sắm của khách hàng quyết định thị trường mua sắm
như thế nào.
- Mua với khối lượng lớn.
- Mua tại nhà.
- Yêu cầu dịch vụ hay không?
Đáp ứng từng loại hành vi trên cần nhà quản lý phải thiết kế một mạng lưới bán
hàng đa dạng và phong phú.
1.3.1.2 Các yếu tố của công ty và thiết kế mạng lưới
Các yếu tố bên trong của công ty chính là sức mạnh để công ty quyết định
mình có vươn tới các thị trường mục tiêu hay không và vươn tới bằng cách nào để đạt
hiệu quả cao nhất.

cũng có nhiều công ty phải khó khăn mới tìm đủ trung gian đáp ứng mạng lưới của công
ty.
Dù dễ dàng hay khó khăn trong việc tuyển chọn thành viên của mạng lưới,
công ty phải xác định các thành viên mạng lưới cần có những đặc điểm nào, để phân biệt
với những thành viên mạng lưới của công ty khác.
1.3.2.2 Kích thích thành viên của mạng lưới
Kích thích các thành viên mạng lưới phải làm tốt ngay từ đầu từ việc hiểu
được nhu cầu và ước muốn các thành viên. McVey đã chỉ ra một số đặc điểm của các
thành viên trong mạng lưới: “ Người trung gian thường hành động như một người mua
hàng thay cho khách hàng của mình rồi sau đó mới là người bán hàng thay cho người
cung ứng của mình do đó họ quan tâm đến việc bán những sản phẩm mà khách hàng của
họ muốn mua ” .
Có 3 phương pháp phổ biến các nhà sản xuất thường sử dụng khuyến khích
các thành viên hoạt dộng: hợp tác, thiết lập quan hệ thành viên, xây dựng công trình phân
phối.
Các phương pháp này đều tập trung vào việc tạo quan hệ liên kết chặt chẽ
trong kênh, nhà sản xuất phải biết sử dụng các công cụ Marketing hỗn hợp để quản lý
kiểm tra hoạt động của mạng lưới.
1.3.2.3 Đánh giá hoạt động của các thành viên mạng lưới
Việc đánh giá các thành viên mạng lưới là rất quan trọng, là sự xem xét
tổng hợp và mang tính thời kỳ. Có nhiều tiêu chuẩn để đánh giá như: khối lượng bán,
duy trì lượng tồn kho, thời gian giao hàng cho khách, xử lý hư hỏng mất mát, những dịch
vụ của trung gian dành cho khách hàng…
- Hoạt động bán: là tiêu chuẩn quan trọng nhất và hay sử dụng để đánh giá
hoạt động của các thành viên mạng lưới. Thông qua người quản lý đánh giá hoạt động
dựa trên:
+Doanh số bán hiện tại của thành viên mạng lưới so với khối lượng bán trong
lịch sử.
+So sánh khối lượng bán của mỗi thành viên mạng lưới với tổng lượng bán các
thành viên trong mạng lưới.

2.1.2 Cơ cấu bộ máy của công ty
2.1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
- Mua:công ty mua hàng từ các hãng điện máy ở thành phố HCM, Đà Nẵng.
- Bán: công ty tiến hành phân phối các mặt hàng cho những nhà buôn sỉ và
nhà buôn lẻ ở khắp các huyện ở tỉnh tỉnh Phú Yên, ngoài ra công ty cũng thực hiện việc
bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.
2.1.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý
Là công ty mới thành lập, quy mô hoạt động còn nhỏ, bộ máy tổ chức quản lý
gồm những thành viên sau: giám đốc, phó giám đốc, kế toán, bộ phận bán hàng, bộ phận
lắp ráp và sửa chữa hay gọi là kỹ thuật viên, bộ phận thủ kho, bộ phận vận tải. Ta có sơ
đồ như sau:

Sơ đồ 4: sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của công ty TNHH Thương Mại Vạn Thành.
Nhiệm vụ của từng thành viên công ty:
- Giám đốc: là người đứng đầu đại diện cho nhân viên toàn công ty, người dẫn dắt
công ty phát triển, và giám đốc chịu trách nhiệm trước pháp luật nhà nước.
- Phó giám đốc (phụ trách kinh doanh): chỉ đạo theo dõi tình hình tiêu thụ, kế hoạch
mở rộng thị trường và đảm nhiệm chức năng của giám đốc khi có sự ủy quyền của giám
đốc.
- Kế toán: kiểm soát tình hình tài chính của công ty, lập và kiểm soát các chứng từ
có liên quan tới mua và bán của công ty, ngoài ra giám sát việc thu chi tài chính trong
công ty, cung cấp thông tin tài chính cho giám đốc và các cơ quan chức năng.
Kỹ thuật viên: khi người tiêu dùng mua hàng trực tiếp từ công ty, kỹ thuật viên có
trách nhiệm đến tận nơi lắp ráp, hướng dẫn cho khách hàng sử dụng. Nếu trong thời gian
bảo hành, hàng của công ty có sự cố thì kỹ thuật viên có trách nhiệm sửa chữa cho khách
hàng.
Trường hợp khách ở xa mua hàng của công ty, trong thời gian bảo hành có trục trặt
xảy ra, công ty phải ủy thác cho một kỹ thuật viên nào đó trên địa bàn gần nơi khách
hàng yêu cầu, những kỹ thuật viên này không phải là nhân viên chính thức của công ty,
công ty chỉ thiết lập quan hệ với họ bằng hình thức ký hợp đồng, khi có yêu cầu sửa chữa

1.Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ
01 204.270.000 1.406.688.16
4
1.615.224.161
2.Các khoản giảm trừ doanh thu 03
3.Doanh thu thuần về bán hàng và
cung cấp dịch vụ
10 204.270.000 1.406.688.16
4
1.615.224.161
4.Gía vốn hàng bán 11 191.142.000 1.317.384.53
8
1.539.016.173
5.Lợi nhuận gộp về bán hàng và
CCDV
20 13.128.000 89.303.626 76.207.988
6.Doanh thu hoạt động tài chính 21
7. Chi phí tài chính 22
-Chi phí lãi vay 23
8.Chi phí bán hàng 24
9.Chi phí quản lý doanh nghiệp 25 20.333.070 84.165.287 85.655.721
10.Lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh
30 (7.205.070) 5.138.339 (9.447.733)
11.Thu nhập khác 31
12.Chi phí khác 32
31.Lợi nhuận khác 40
14.Tổng lợi nhuận trước thuế 50 (7.205.070) 5.138.339 (9.447.733)
15.Thuế thu nhập doanh nghiệp 51 - 1.483.735 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status