- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
Ảnh hưởng của cơ cấu tuổi của dân số, và nhất là thời kỳ “Cơ cấu dân số
vàng” đến sự thay đổi và phát triển nền kinh tế xã hội là một vấn đề được nhiều nhà
kinh tế học cũng như nhà hoạch định chính sách quan tâm. Việc tính toán, dự báo
được những tác động này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đến các chính sách, chiến
lược mang tầm vĩ mô cũng như vi mô của nhà nước. Việt Nam là một nước có nền
kinh tế non trẻ, vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của các nguồn lực kinh tế đều có tác
động mạnh mẽ đến sự thay đổi cục diện của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là cơ cấu
dân số và nguồn lao động – một trong các yếu tố chính của nguồn lực kinh tế. Theo
kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 cho thấy Việt Nam đã chính thức bước
vào thời kỳ “Cơ cấu dân số vàng”, điều này đặt ra nhiều thuận lợi và thách thức đối
với nền kinh tế non trẻ của Việt Nam.
Chuyên đề “Phân tích tác động của cơ cấu tuổi của dân số tới tăng trưởng
kinh tế Việt Nam” nhằm mục tiêu phân tích một cách chi tiết ảnh hưởng của cơ cấu
tuổi dân số đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam và mô hình hóa, định lượng
mối quan hệ này.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của Chuyên đề được chia làm 3
chương bao gồm:
Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa cơ cấu tuổi của dân số và
tăng trưởng kinh tế.
Chương 2 : Thực trạng về cơ cấu tuổi của dân số và tăng trưởng kinh tế Việt
Nam giai đoạn 2000 - 2007
Chương 3 : Mô hình đánh giá tác động của cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng
kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 - 2006.
Để hoàn thành được chuyên đề này em xin chân thành cảm ơn Th.S Lê Đức
Hoàng, T.S Nguyễn Thị Minh và giảng viên Nguyễn Thùy Trang đã tận tình chỉ
bảo, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu lựa chọn đề tài, xác định hướng nghiên
cứu, sửa chữa và hoàn thiện bản báo cáo Chuyên đề. Em cũng xin cảm ơn các thầy,
cô giáo Khoa Toán kinh tế đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập.
Sinh viên
cùng với nó là tỷ lệ tiết kiệm giảm. Số liệu điều tra cho thấy hai đặc điểm nổi bật
cần quan tâm của nhân khẩu học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trước mắt.
- Một là: Tỷ trọng người trong độ tuổi lao động đang tăng nhanh và tiếp tục
tăng nhanh trong vòng năm năm tới.
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 3 -
- Hai là: Tỷ trọng người già sẽ tăng cao trong vòng 10 năm, và tỷ trọng dân số
dưới 15 tuổi đang giảm sẽ tiếp tục giảm mạnh.
Những sự thay đổi lớn này trong cơ cấu dân số sẽ có tác động quan trọng tới
các chỉ số phát triển kinh tế xã hội. Do đó một nghiên cứu định lượng nhằm đo
lường các tác động này là hết sức cần thiết trong việc xây dựng cơ sở khoa học cho
việc hoạch định các chính sách kinh tế xã hội phù hợp về việc làm, đầu tư cũng như
các chính sách về y tế và bảo hiểm y tế. Đề tài nghiên cứu này được lựa chọn thực
hiện từ những yêu cầu của lý thuyết và thực tiễn đó.
1.2. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa cơ cấu tuổi của dân số và tăng
trưởng kinh tế
1.2.1 . Một số quan điểm về ảnh hưởng của cơ cấu tuổi dân số tới tăng
trưởng kinh tế
Dân số luôn là vấn đề không chỉ có các nhà khoa học, các chuyên gia mà ngay
cả các Chính phủ, các tổ chức kinh tế - xã hội đều rất quan tâm. Không chỉ ngày nay
mà ngay cả trước kia, không chỉ với nước ta mà tất cả các nước trên thế giới đều
quan tâm. Sự quan tâm đó không chỉ vì sức ép của bùng nổ dân số, mà cả vì sức
mạnh của quốc gia, không chỉ quan tâm hạn chế mà cả khuyến khích phát triển dân
số. Dân số luôn luôn với hai tư cách vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu
dùng. Vì vậy quy mô, cơ cấu dân số có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển
kinh tế xã hội. Ảnh hưởng đó có thể là tích cực hoặc tiêu cực, tùy thuộc vào nhu
cầu, trình độ và khả năng phát triển của mỗi nước trong mỗi thời kỳ.
Trong những năm gần đây, yêu cầu tìm hiểu và đánh giá cụ thể hơn mối quan
hệ giữa biến động dân số với tăng trưởng kinh tế ngày càng cấp thiết hơn. Đặc biệt
các nước đang phát triển, đang trải nghiệm những biến động dân số mạnh mẽ do tác
- 5 -
•Lý thuyết dân số học “lạc quan”
Vào đầu những năm 1980, hàng loạt nghiên cứu thực chứng đã chỉ ra những
lập luận không thuyết phục của lý thuyết dân số học “bi quan”, trong đó quan trọng
nhất là lý thuyết này không tính đến tầm quan trọng của công nghệ và mức tích tụ
nhân lực trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các nghiên cứu thuộc
nhóm lý thuyết dân số học “lạc quan” cho rằng tăng dân số có thể tạo ra một nguồn
lực kinh tế quan trọng. Họ lập luận rằng dân số tăng lên cũng có thể làm tăng mức
tích tụ nhân lực và quốc gia có dân số lớn có thể tận dụng tính quy mô để hấp thụ
các tri thức, công nghệ cần thiết cho tăng trưởng.
Nghiên cứu của Simon (1981) [theo trích dẫn của Bloom và cộng sự, 2003]
chỉ ra rằng tăng dân số nhanh có thể có những tác động tích cực đến phát triển kinh
tế vì dân số tăng có thể tạo sức ép phải cải tiến công nghệ sản xuất - một nhân tố
quan trọng của tăng trưởng dài hạn. Một ví dụ khác là “Cách mạng xanh” từ những
năm 1950 đã làm tăng sản lượng nông nghiệp thế giới lên gần bốn lần dù chỉ sử
dụng thêm 1% đất đai, và nó đã giải quyết được nhu cầu cho một lượng lớn dân số.
•Lý thuyết dân số học “trung tính”
Vào đầu những năm 1990, một nhóm các nhà dân số học khác lại đánh giá tác
động của tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế ở một góc độ rộng hơn và thận trọng
hơn. Họ đại diện cho những người theo lý thuyết dân số học “trung tính” với quan
điểm cho rằng tăng dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế qua nhiều kênh khác
nhau mà những kênh này có thể lại tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tăng trưởng
kinh tế. Ví dụ, Srinivan (1988) cho rằng tăng trưởng kinh tế là sản phẩm của hàng
loạt các chính sách và thể chế phù hợp chứ không chỉ đơn thuần là do nhân tố dân
số. Ba lĩnh vực quan trọng được tập trung nghiên cứu trong dòng lý thuyết này
nhằm đánh giá tác động của tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế là tài nguyên tự
nhiên, tiết kiệm, và phương thức đa dạng hóa nguồn lực.
Trong thực tế, ba quan điểm lý thuyết trên đều đã ảnh hưởng một cách thực sự
đến chính sách ở cấp quốc gia cũng như toàn cầu. Chẳng hạn, trong những năm 80
của thế kỷ trước, do chấp nhận quan điểm thứ ba nên các nước phát triển và tổ chức
Số người trong nhóm tuổi lao động là nguồn nhân lực quan trọng, là vốn quý
của quốc gia, cần phải sử dụng số người trong nhóm tuổi này một cách tối ưu để tạo
ra sức sản xuất cao nhất cho xã hội. Căn cứ vào 3 nhóm tuổi trên người ta phân biệt
một quốc gia có dân số già hay trẻ.
- Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau: dân số được chia theo khoảng cách
đều nhau: 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm.
Sự thay đổi của số lượng dân trong cùng nhóm tuổi của một quốc gia theo thời
gian cũng cho biết những thông tin về sự trẻ hóa hay già hóa dân số. Có một sự
khác biệt đáng kể về cơ cấu tuổi giữa các nước phát triển và các nước đang phát
triển. Các nước phát triển thường có dân số già hơn các nước đang phát triển, tuy
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 7 -
nhiên tốc độ già hóa dân số ở các nước đang phát triển sẽ diễn ra nhanh hơn các
nước phát triển do hậu quả của “bùng nổ dân số” giai đoạn trước. Sự khác biệt về
cơ cấu tuổi dân số giữa các vùng trong một quốc gia thường chịu ảnh hưởng lớn từ
các dòng di dân. Các dòng di dân lớn thường tập trung ở nhóm tuổi trưởng thành và
nam giới, vì vậy tạo nên sự già hóa dân số ở vùng đi, sự trẻ hóa dân số ở vùng đến,
và ảnh hưởng tới cả tỷ số giới tính của các vùng.
Do mỗi nhóm tuổi trong dân số có một đặc trưng khác nhau (ví dụ như lao
động, tiêu dùng…) nên chúng sẽ có những tác động khác nhau về mặt kinh tế. Ví
dụ, nhóm dân số trẻ cần được đầu tư nhiều cho sức khỏe và giáo dục để có thể tạo
ra một lực lượng lao động tốt, trong khi nhóm dân số cao tuổi cần được đầu tư một
hệ thống chăm sóc y tế tốt cùng với một hệ thống hưu trí và trợ cấp xã hội bền
vững. Khi quy mô của các nhóm tuổi này thay đổi cũng đồng nghĩa với sức ép và cơ
hội kinh tế sẽ thay đổi theo bởi chúng sẽ tác động đến mức tăng trưởng kinh tế và
thu nhập bình quân đầu người. Vì lý do này mà bên cạnh việc quan tâm đến quy mô
và tốc độ thay đổi dân số, các nhà hoạch định chính sách cần phải tính đến sự thay
đổi cơ cấu tuổi của dân số trong các chiến lược phát triển của mình. Nói cụ thể hơn,
họ phải tính toán xem khi nào dân số đạt được “cơ cấu vàng”, cơ cấu này sẽ kéo dài
trong bao lâu, và phải tận dụng cơ cấu này thế nào cho quá trình tăng trưởng và phát
bố, chất lượng nguồn lao động. Một dân cư có số người trẻ dưới 15 tuổi đông và
chiếm tỷ trọng cao trọng dân số (thường do mức sinh cao), thông thường hàng năm
số người gia nhập lực lượng lao động nhiều hơn so với số người già ra khỏi lực
lượng lao động. Điều đó làm cho quy mô nguồn lao động không ngừng được tăng
lên, cơ cấu lực lượng lao động được trẻ hóa liên tục, dòng di chuyển của lao động
diễn ra nhiều và mạnh hơn, chất lượng nguồn nhân lực sẽ được cải thiện hơn so với
một dân cư già, với số người già chiếm đa phần trong dân số.
•Nguồn lao động ảnh hưởng tới cơ cấu tuổi của dân số
Dân số tác động đến nguồn lao động, nhưng đồng thời nguồn lao động cũng
tác động trở lại và ảnh hưởng đáng kể đối với sự biến đổi của các quá trình, các sự
kiện dân số. Quy mô nguồn lao động lớn và có xu hướng gia tăng, đồng nghĩa với
nó là hàng năm số người mới gia nhập đội ngũ lao động nhiều hơn so với số ra khỏi
lực lượng lao động. Nguồn lao động được trẻ hóa, dân số trong độ tuổi sinh đẻ tăng
lên, số trẻ em mới được sinh ra hàng năm nhiều hơn, quy mô dân số đông, cơ cấu
dân số trẻ lại. Ngược lại, khi số lượng lao động giảm, có nghĩa là số người trẻ mới
gia nhập vào nguồn lao động ít hơn so với số người già ra khỏi đội ngũ lao động,
dân số trong độ tuổi lao động - tuổi sinh đẻ, được bổ sung ít, số trẻ em mới được
sinh ra hàng năm không nhiều, mức sinh gia tăng chậm, quy mô dân số tăng không
đáng kể, dân số có xu hướng già hóa.
b. Cơ cấu tuổi của dân số và hành vi tiêu dùng
Dân số vừa là yếu tố của sản xuất nhưng đồng thời nó còn đóng vai trò như là
yếu tố của tiêu dùng. Là yếu tố của sản xuất, dân số được xem xét như là chủ thể
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 9 -
quyết định quy mô, phân bố, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động. Là yếu tố của
tiêu dùng , quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số quy định quy mô, cơ cấu,
chất lượng và sự phân bố các ngành nghề, các lĩnh vực hoạt động sản xuất của xã
hội, chi phối nội dung, tính chất của việc làm trong toàn bộ nền kinh tế. Sản xuất
bao nhiều, cho ai, cái gì, khi nào, ở đâu, chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ
tiêu dùng ra sao là do số lượng, cơ cấu, chất lượng dân số quy định.
đang đạt “cơ cấu vàng”. “Cơ cấu dân số vàng” sẽ kết thúc khi tỷ số phụ thuộc chung
bắt đầu tăng trở lại và vượt ngưỡng 50. Theo Ross (2004), khi dân số trong giai
đoạn “cơ cấu vàng”, nguồn lực đầu tư cho nhóm dân số trẻ sẽ cần ít hơn và có thể
được sử dụng vào phát triển kinh tế và phúc lợi hộ gia đình. Những lợi ích kinh tế
có được từ sự thay đổi cơ cấu dân số được gọi là “lợi tức dân số” và vì thế “lợi tức
dân số vàng” là mục tiêu mà chính phủ các nước phải tận dụng triệt để khi dân số
đạt cơ cấu “vàng”.
Hình 2: Giai đoạn "Cơ cấu dân số Vàng" ở một số nước trên thế giới
•Cơ cấu dân số vàng và tăng trưởng kinh tế ở một số nước trên thế giới
Hình 2 thể hiện thời gian diễn ra “cơ cấu dân số vàng” của một số nước trên
thế giới. Rõ ràng, mỗi nước sẽ có một giai đoạn dân số đạt “cơ cấu vàng” khác nhau
với thời điểm xuất phát và kết thúc khác nhau, phụ thuộc vào biến động dân số của
nước đó. Biến động dân số, cụ thể là mức sinh và mức chết, tác động đến phân bố
tuổi dân số và tạo ra “cơ cấu dân số vàng” - là một cơ chế tiềm tàng tác động đến
thành công kinh tế. Tuy vậy, điều đó sẽ chỉ xảy ra khi một nước có các thể chế xă
hội, kinh tế, chính trị cũng như các chiến lược, chính sách thích hợp cho phép hiện
thực hoá tiềm năng tích cực của quá tŕnh dân số. Điều này đă xảy ra với một số
nước trên thế giới, đặc biệt ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, khi tận dụng được
cơ hội dân số cho phát triển kinh tế kể từ những năm 1960 đến nay.
Khu vực Đông Á
Quá độ dân số của khu vực Đông Á diễn ra nhanh hơn (chỉ khoảng 50 đến 75
năm) so với nhiều khu vực khác trên thế giới. Phân tích của nhiều nghiên cứu chỉ ra
một số nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng của khu vực này, đó là nguồn nhân
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 11 -
lực tốt, tăng trưởng việc làm cao, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao. Giai đoạn phát triển
“thần kỳ” chứng kiến tỷ lệ chi cho giáo dục và y tế tăng lên nhanh chóng và
gắn liền với chúng là sự tăng trưởng mạnh về việc làm và năng suất lao động trong
các ngành dịch vụ và sản xuất, cũng như năng suất lao động của khu vực nông
nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan). Kết quả đó nhờ một phần vào sự sụt
- 12 -
kinh tế vĩ mô khác (tiền tệ, tài khóa, tỷ giá hối đoái…) nhằm thúc đẩy và hiện thực hóa tiềm
năng trong nước. Các ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành sản xuất, được đầu tư có trọng
điểm và phù hợp với nhu cầu, khả năng phát triển trong từng giai đoạn. Gắn liền chính sách
kinh tế là hàng loạt chính sách nhất quán và nhiều tham vọng để xây dựng một hệ thống giáo
dục tốt nhằm tạo một lực lượng lao động có giáo dục và kỹ năng - bộ phận dân số mà trong
những năm 1960 được gọi là “những quả trứng vàng” (Ohno, 2007). Chính sách y tế cũng
được đặc biệt coi trọng với việc hướng tới chăm sóc y tế toàn dân với mạng lưới cơ sở chăm
sóc y tế được xây dựng nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu mang tính đặc trưng của từng vùng,
khu vực. Ngay từ đầu những năm 1950 chính phủ Nhật Bản đă xây dựng chiến lược an sinh
xă hội sâu rộng, đặc biệt là hưu trí và bảo trợ xă hội, nhằm đảm bảo và hỗ trợ đời sống của
hàng triệu người lao động. Hệ thống an sinh xă hội nhiều tầng do nhà nước xây dựng và quản
lý đă giải quyết được một lượng lớn nhu cầu của người Nhật Bản.
Một điển hình khác cho việc tận dụng các cơ hội do “cơ cấu dân số vàng”
mang lại để phát triển kinh tế trong khu vực Đông Á là Hàn Quốc. “Cơ cấu dân số
vàng” của Hàn Quốc diễn ra trong một khoảng thời gian dài hơn so với Nhật Bản -
trong vòng 49 năm (1965-2014). Đây cũng chính là giai đoạn Hàn Quốc trải nghiệm
tăng trưởng kinh tế cao, đặc biệt từ đầu những năm 1960 cho đến giữa những năm
1980. Từ một nước nghèo với thu nhập bình quân đầu người 60 USD/năm vào năm
1948, Hàn Quốc vươn lên trở thành quốc gia có nền kinh tế đứng thứ ba ở Châu Á
và thứ 13 trên thế giới hiện nay. Các chiến lược phát triển kinh tế 5 năm đều định
hướng vào công nghiệp hóa nhanh dựa trên xuất khẩu. Để làm được việc này, chính
phủ Hàn Quốc đă đưa ra hàng loạt gói chính sách hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế
tư nhân cho xuất khẩu như vay ngân hàng lăi suất thấp, ưu tiên nhập khẩu nguyên
liệu cho sản xuất, cho phép vay vốn nước ngoài và ưu đăi thuế. Bên cạnh việc thúc
đẩy nội lực công nghiệp, chính phủ Hàn Quốc cũng chủ động hướng đến sự trợ giúp
về kỹ thuật và tài chính cùng với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Kết quả là
Hàn Quốc nhanh chóng trở thành một cường quốc kinh tế trong khu vực và là một
trong bốn nước công nghiệp mới (NICs) vào những năm 1980.
Khu vực Đông Nam Á
2045 79 59 53 50 47
2050 78 62 56 53 48
Chú thích: Tỷ số phụ thuộc chung được tính bằng tỷ số giữa tổng dân số trẻ
em (0-14) và dân số cao tuổi (65+) với 100 người độ tuổi lao động (15-65).
Nguồn: United Nations (2007).
Ước lượng của ADB (1997) cho thấy lợi tức dân số ở Đông Nam Á đóng
góp khoảng 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng thu nhập đầu người hàng năm, trong
khi kết quả tính toán của Bloom và Williamson (1998) là khoảng 1,0 điểm phần
trăm. Rõ ràng, lợi tức dân số của khu vực Đông Nam Á hiện nay sẽ không lớn như
lợi tức dân số của khu vực Đông Á thời kỳ 1960-1990. Một trong những nguyên nhân
quan trọng lý giải cho vấn đề này là tỷ lệ tăng dân số hoạt động kinh tế với tỷ lệ tăng
dân số không hoạt động kinh tế không khác nhau nhiều như ở khu vực Đông Á nên lợi
tức dân số của khu vực này cũng thấp hơn so với khu vực Đông Á (Bloom và cộng sự,
2003).
Bên cạnh các gói chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng xuất
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 14 -
khẩu, một điểm nhấn chính sách quan trọng chung ở các nước khu vực này trong
việc lồng ghép dân số với tăng trưởng và phát triển kinh tế là chiến lược giáo dục và
y tế. Việc Singapo tận dụng dấu hiệu của chuyển đổi dân số từ cuối những năm
1970 cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng mức bao phủ và chất lượng của hệ
thống giáo dục là một minh chứng cụ thể, trong khi Phi-lip-pin có cùng chất lượng
nguồn nhân lực xét theo mức độ giáo dục và y tế nhưng lại tăng trưởng chậm do tỷ
lệ sinh quá cao và chất lượng thể chế chưa tốt (Navaneetham, 2002). Malaysia đầu
tư xây dựng các cụm trường đào tạo nhân công chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu
phát triển của các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế tạo, với vai trò là
nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở nước này trong hơn hai thập kỷ vừa qua.
Thái Lan cũng thể hiện các nỗ lực xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho tăng
trưởng bằng các chính sách giáo dục, y tế mạnh mẽ gắn liền với chiến lược phát
triển của một số ngành sản xuất chủ lực. Tuy nhiên, phân tích của Ohno (2008)
phản ánh một thực tế, dân số thành thị đang tăng nhanh. Cụ thể, dân cư ở khu vực
thành thị là 25.436.896 người, chiếm 29,6% tổng dân số cả nước, trong khi dân số
nông thôn là 60.410.101 người, chiếm 70,4%.
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 16 -
Bảng 2: Các chỉ tiêu cơ bản của nhân khẩu học Việt Nam đến năm 2009
CÁC CHỈ TIÊU CƠ BẢN Năm
Tổng số dân (nghìn người) 2009 86024,6
+ Nam 2009 42597,2
+ Nữ 2009 43427,4
+ Thành thị 2009 25466,0
+ Nông thôn 2009 60558,6
Tỷ số giới tính lúc sinh (số nam/100 nữ) 2009 110,5
Tỷ suất sinh thô (‰) 2009 17,6
Tỷ suất chết thô (‰) 2009 6,8
Tổng tỷ suất sinh 2009 2,03
Tuổi thọ trung bình lúc sinh (năm):
+ Chung 2009 72,8
+ Nam 2009 70,2
+ Nữ 2009 75,6
Tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi (‰) 2009 16,0
Tuổi kết hôn trung bình lần đầu:
+ Nam 2009 26,2
+ Nữ 2009 22,8
Tỷ lệ dân số thành thị (%) 2009 29,6
Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi (%) 2009 25,0
Tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên (%) 2009 6,6*
Tỷ lệ dân số >=15 tuổi biết chữ (%) 2009 93,5
Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị (%) 2009 4,6
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo (%) 2009 12,3
trong tuổi thọ của người dân Việt nam trong hơn hai thập kỷ qua.
Hình dưới đây thể hiện sự cải thiện về tuổi thọ ở Việt nam và những dự báo
cho tương lai.
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 18 -
Hình 4. Tuổi thọ bình quân người dân Việt nam theo thời kỳ, quá khứ và dự báo
Hình 4 cho thấy một sự cải thiện rõ rệt trong mức trung bình tuổi thọ: những năm
1980, mức tuổi thọ trung bình là 58 tuổi thì đến năm 2010 là đã gần đến 75 tuổi.
Những sự thay đổi này trong nhân khẩu học đã tích lũy theo thời gian và tạo
ra những thay đổi nhanh chóng trong cơ cấu tuổi của dân số Việt nam trong hơn hai
thập kỷ qua, điều này được thể hiện trong hình 2.1 dưới đây
Hình 5: Cơ cấu tuổi của dân số
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
0.000
10.000
20.000
30.000
40.000
50.000
60.000
70.000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Dưới 6 tuoi
6-15 tuổi
16-65 tuổi
trên 65 tuổi
- 19 -
Hình 5 cho thấy ba đặc trưng chính của sự chuyển dịch trong cơ cấu tuổi của
dân số Việt nam trong giai đoạn từ 1980 đến nay.
1. Kể từ năm 1980, dân số Việt nam ở trong giai đoạn cơ cấu vàng, và theo
Bảng 4 cho thấy một xu hướng khá rõ nét: kể từ năm 1999 trở đi thì tỷ lệ lao
động các nhóm trẻ (tính từ 15-34) bắt đầu giảm dần, và tỷ lệ các nhóm lớn tuổi hơn
bắt đầu tăng dần. Chẳng hạn với nhóm 50-54 tuổi thì tỷ lệ này tăng từ 2.8% năm
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 20 -
1999 lên đến 5.23% năm 2007, và tương tự cho các nhóm “già” còn lại. Điều này cũng
mang lại những thách thức cho sự phát triển kinh tế cũng như việc thiết kế các chương
trình an sinh xã hội cho người già, vì trong tương lai không xa, mặc dù dân số Việt
nam vẫn ở giai đoạn cơ cấu vàng, nhưng tỷ lệ dân số già bắt đầu gia tăng và tạo áp lực
cho nền kinh tế trong tăng trưởng kinh tế cũng như hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Với nhóm tuổi 0-15 tuổi cũng có nhưng thay đổi lớn, và sự thay đổi này
được thể hiện trong bảng dưới đây
Bảng 5. Cơ cấu của trẻ em Việt Nam 1979 - 2007
NHÓM TUỔI
(% TỔNG DÂN SỐ)
1979 1989 1999 2007
0-4 14.62 14.00 9.52 7.49
5-9 14.58 13.30 12.00 7.84
10-14 13.35 11.70 11.96 10.18
Nguồn: Tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và Tổng cục thống kê (2008)
Số liệu trong bảng 5 cho thấy có một sự thay đổi rõ rệt trong cơ cấu tuổi của
nhóm trẻ dưới 15 tuổi: tỷ lệ các nhóm này trong tổng dân số đều giảm mạnh. Trong
đó giảm mạnh nhất là nhóm trẻ từ 0 đến 4 tuổi: nhóm này chiếm 14.62 % tổng dân
số năm 1979, và tới năm 2007, con số này chỉ còn xấp xỉ một nửa. Tiếp đến, trẻ em
trong độ tuổi đến trường tiểu học (5- 9) cũng giảm mạnh trong cùng thời gian này,
từ 14,58% tổng dân số năm 1979 xuống 7,58% dân số năm 2007. Nhóm tuổi từ 10-
14 cũng có giảm nhưng với mức giảm chậm hơn so với các nhóm còn lại. từ
13,35% tổng dân số 1979 xuống 10,18% tổng dân số năm 2007. Điều này phản ánh
một thực tế là lứa những người sinh sau năm 1975 – khi đất nước hòa bình thống
nhất – đã nhận thức khá khác biệt với thế hệ đi trước về vấn đề sinh đẻ. Điều này có
Bảng 6. Dự báo cơ cấu tuổi dân số Việt Nam theo nhóm, 2010-2050
Age 2010 2015 2020 2025 2030 2035 2040 2045 2050
0-4 8,07 7,66 7,26 6,90 6,39 5,99 5,75 5,63 5,54
5-9 8,27 7,64 7,30 6,95 6,66 6,22 5,87 5,68 5,59
10-14 8,73 7,84 7,28 6,98 6,71 6,48 6,10 5,79 5,64
15-19 10,16 8,25 7,45 6,95 6,73 6,52 6,34 6,01 5,74
20-24 9,27 9,59 7,83 7,10 6,68 6,52 6,36 6,24 5,95
25-29 7,81 8,74 9,09 7,46 6,82 6,47 6,37 6,26 6,17
30-34 7,79 7,35 8,28 8,66 7,16 6,61 6,32 6,26 6,19
35-39 7,84 7,33 6,96 7,88 8,32 6,94 6,45 6,21 6,19
40-44 7,48 7,37 6,93 6,62 7,56 8,05 6,76 6,33 6,13
45-49 6,73 7,02 6,95 6,58 6,33 7,30 7,83 6,63 6,25
50-54 5,34 6,27 6,58 6,56 6,26 6,08 7,07 7,65 6,51
55-59 3,77 4,93 5,82 6,16 6,20 5,97 5,85 6,86 7,47
60-64 2,39 3,43 4,52 5,38 5,74 5,84 5,67 5,60 6,62
65-69 2,02 2,11 3,06 4,06 4,89 5,28 5,42 5,32 5,30
70-74 1,65 1,70 1,80 2,63 3,54 4,32 4,71 4,89 4,85
75-79 1,39 1,27 1,34 1,43 2,14 2,92 3,60 3,99 4,19
80+ 1,29 1,51 1,58 1,68 1,85 2,50 3,51 4,67 5,69
Hình 7 trình bày cụ thể hơn cơ cấu tuổi dân số Việt Nam theo dự báo của
United Nations (2007). Có thể thấy là, trong thời gian tới, dân số trẻ em, đặc biệt là
trẻ dưới 5 tuổi và trẻ trong độ tuổi đến trường tiểu học, sẽ giảm mạnh trong thời
gian tới. Cùng lúc đó, dân số trong độ tuổi lao động vẫn tiếp tục tăng, đặc biệt nhóm
tuổi lao động trẻ (15-30) chiếm tỷ trọng lớn. Dân số cao tuổi tiếp tục tăng nhanh,
nhất là các nhóm ở độ tuổi rất cao (từ 80 trở lên).
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế
- 23 -
Hình 7: Dự báo cơ cấu dân số vang tại Việt Nam
Kết quả là, dự báo của United Nations (2007) cho thấy tỷ số phụ thuộc chung
sẽ ở mức dưới 50% từ năm 2009 và kéo dài cho đến khoảng năm 2039 [Hình 4, bên
nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh, lĩnh vực tín dụng và ngân hàng, khuyến
khích đầu tư trong nước và nước ngoài, mở rộng các quan hệ thương mại và tài
chính với cộng đồng quốc tế thông qua đàm phán và tự do hóa nền kinh tế nhiều
hơn, ra nhập các tổ chức liên minh quốc tế và khu vực như ASEAN, AFTA…
Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA từ các tổ chức và quốc gia đã
giúp Việt Nam thực hiện những điều chỉnh cơ cấu kinh tế quan trọng, để xây dựng
nền móng cơ sở cho cơ chế kinh tế thị trường.
Thời kỳ 1996- 2000, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu
Á, tốc độ tăng trưởng kinh tế có sự giảm sút. Sự suy giảm của dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài FDI và sự cạnh tranh khốc liệt trên các thị trường xuất khẩu thực sự
tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn này giảm đáng kể đạt bình quân 7%/
năm, thấp hơn so với kế hoạch 5 năm đã đặt ra.
Năm 2001, bắt đầu đã tăng trưởng trở lại của nền kinh tế. Chính phủ đã thực
hiện các chương trình cải cách hướng vào cải tổ cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát
triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước, huy động từ nguồn lực tiết kiệm trong dân cư và tạo động lực cạnh tranh
trong nền kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được hồi phục, từ 6,8% năm 2000 lên 8,4% năm 2005
và 8,46% năm 2007. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 năm đã đạt trên 7,7%.
Từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế lại bắt đầu một chu kỳ suy giảm tăng
trưởng do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Năm 2008 kinh tế tăng
trưởng 6,18% so với 8,46% năm 2007 và đến 2009, tỷ lệ này chỉ còn là 5,32%.
Nguyễn Thị Ngà Khoa Toán Kinh Tế