kinh nghiệm cách tạo tình huống có vấn đề trong giảng dạy tiếng việt - Pdf 25

Kinh nghiệm giảng dạy tiếng việt . Phạm Công Đính THCS PL

Kinh nghiệm :Cách tạo tình huống có vấn đề
trong giảng dạy tiếng việt.
A. Đặt vấn đề .
1. Quan niệm về tình huống có vấn đề trong tiếng việt .
* Trớc khi đến trờng học sinh đã có một số vốn tiếng việt nhất định, nhiệm vụ
của giáo viên ngữ văn không phải là cung cấp cho học sinh tri thức hoàn toàn
mới . Cho nên để giảng dạy một giờ tiếng việt thành công giáo viên phải vận
dụng tổng hợp , sáng tạo các phơng pháp , phơng tiện dạy học . Trong những
năm thực hiện cải cách giáo dục , việc dạy môn tiếng việt là phải tạo ra đợc tình
huống có vấn đề , nghĩa là làm sao để lý thuyết mới về ngôn ngữ học, về tiếng
việt , về ngữ pháp văn bản không phải là kiến thức thuần tuý lý thuyết hiện đại
mà thực sự đợc ứng dụng vào hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh trong
từng tiết tiếng việt . Nh vậy các bài dạy tiếng việt đều phải đa vào tình huống có
vấn đề đó là thử thách cao nhất , khó khăn nhất đối với các nhà s phạm , dạy nh
thế nào để học sinh có hệ thống kiến thức , rèn đợc kỹ năng thực hành bài tập
tiếng việt vào văn bản hàng ngày .
2. Lý do chọn đề tài .
a, Cơ sở lý luận .
+ Với ánh sáng của của lý thuyết hiện đại về ngôn ngữ học , xác lập đợc hệ
thống lý luận , kỹ năng cần rèn luyện và tơng ứng với nó là một hệ thống bài
tập , một hệ thống thao tác dẫn dắt học sinh theo tinh thần cải tiến phơng pháp
dạy và học tiếng việt nói riêng và ngữ văn nói chung nhằm phát huy tính tích
cực chủ động sáng tạo của thày và trò trong giờ ngữ văn .
+ Cho đến nay rất nhiều các công trình nghiên cứu về tiếng việt hiện đại ,về ph-
ơng pháp dạy tiếng việt theo tinh thần đổi mới phơng pháp dạy học , xóa bỏ tình
trạng thụ động của học sinh , thày đọc trò chép
b, Cơ sở thực tiễn :
Qua nhiều năm giảng dạy tiếng việt ở các lớp :6,7,8,9 .ở bài viết này tôi chỉ đề
cập đến một vấn đề nhỏ trong giờ dạy tiếng việt ở trờng THCS . Đó là Cách tạo

sinh với yêu cầu sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực trong nhà trờng và yêu
cầu sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt thực tế trong cuộc sống rất phong
phú .
+ Tình huống làm nảy sinh vấn đề trong bài tiếng việt cần có những đặc trng
cụ thể sau :
- Làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của học sinh , từ đó kích thích hành
động trí tuệ .
- Hàm chứa nhiệm vụ nhận thức , có nghĩa là thoả mãn nhu cầu tìm tòi
tri thức tiếng việt cho học sinh .
- Phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh .
Tóm lại tình huống có vấn đề thờng đợc cụ thể bằng một câu hỏi có vấn đề
hay bài tập có vấn đề .Câu hỏi nêu vấn đề đó cần dẫn dắt học sinh trực tiếp giải
quyết điểm mấu chốt của quá trình học tập .Cần xuất phát từ nhiệm vụ hình
thành tri thức mới hoặc rèn luyện kỹ năng tiếng việt cho học sinh .
Câu hỏi nêu vấn đề phải ngắn gọn sáng sủa làm rõ mục tiêu trả lời đảm bảo
phát triển đợc tính độc lập sáng tạo của học sinh , để học sinh tự mình tham gia
vào quá trình tìm tòi sáng tạo , đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức và kỹ
năng làm bài với phơng pháp nghiên cứu ngôn ngữ .
II. Cách tạo tình huống có vấn đề trong bài tiếng việt .

Muốn đa tình huống có vấn đề vào nhận thức của học sinh , giáo viên cần tiến
hành một số bớc nh sau .
B ớc 1 .
Sử dụng ngữ liệu mẫu để giúp học sinh tri giác tài liệu học tập và tái hiện tri
thức cũ .
Đây là bớc khởi động rất cần thiết cho việc nêu tình huống có vấn đề .
B ớc 2 .
- 2 -
Kinh nghiệm giảng dạy tiếng việt . Phạm Công Đính THCS PL
Nêu tình huống có vấn đề đã đợc cụ thể hoá bằng một câu hỏi nêu vấn đề ,

hiện bằng phơng tiện gì . Học sinh sẽ chọn đợc câu trả lời đúng nhất là : Đó là
hành động đợc thực hiện bằng lời nói .
xoay quanh câu chuyện Lý Thông và Thạch Sanh những tình huống có vấn đề
lần lợt đợc đa ra và giải quyết , khi giải quyết đợc những tình huống trên là đã
kích thích trí tuệ học sinh làm việc , thúc đẩy học sinh tìm hiểu vấn đề và giải
quyết vấn đề . Học sinh giải đáp đợc những câu hỏi trong sách giáo khoa một
cách tự giác chính là đã thực hiện đợc nhiệm vụ nhận thức , bản chất nhất của
tình huống có vấn đề là thực hiện hiểu rõ đợc phần bài mới thế nào là hành động
nói một cách gián tiếp . Sau khi học sinh đã nắm đợc khái niệm bằng một định
nghĩa cụ thể giáo viên giúp các em ghi nhớ về hành động nói là hành động đợc
thực hiện bằng lời nói nhằm thực hiện mục nhất nhất định .
Nh vậy : tình huống nêu vấn đề ở trên đây là tình huống giáo viên đa ra để
học sinh tự giải quyết một phần , phần còn lại giáo viên hớng dẫn học sinh tự
giải quyết có thể xem nh tình huống lựa chọn .
- 3 -
Kinh nghiệm giảng dạy tiếng việt . Phạm Công Đính THCS PL
2. Tình huống phản bác :
Tình huống phản bác là tình huống có vấn đề đợc tạo ra cho học sinh có cơ hội
tranh luận , bàn bạc , phê phán bác bỏ một hiện tợng ngữ pháp nào đó không phù
hợp với yêu cầu đặt ra của bài học . Qua đó học sinh bàytỏ quan điểm của mình .
Đối với học sinh ở tình huống này ,cần phải huy động kiến thức của nhiều môn ,
nhiều bài phải có bản lĩnh vững vàng và thói quen chín chắn . Khi tạo tình huống
này giáo viên thờng sử dụng các ngữ liệu có những dấu hiệu làm xuất hiện một
số mâu thuẫn đối lập với những tri thức ngữ pháp mà học sinh đã tích luỹ đợc .
Ví dụ : Tạo tình huống có vấn đề ở bài Câu Trần thuật Sách giáo khoa văn 8
tập 2.
Bớc 1 . GV chuẩn bị một bảng phụ ghi ngữ liệu các đoạn văn trong sách
giáo khoa đã in trang 45 ,46. Có 4 đoạn ngữ liệu của 4 tác giả đã học.
Bơc 2. Nêu tình huống có vấn đề bằng các câu hỏi trong sách giáo khoa .
Những câu hỏi tình huống có thể theo thứ tự là :


- 4 -
Kinh nghiệm giảng dạy tiếng việt . Phạm Công Đính THCS PL
Là tình huống xuất hiện khi có mâu thuẫn kiến thức đã học hoặc đã tích luỹ đ-
ợc với những kiến thức sẽ đợc học ở bài học mới. Tình huống có vấn đề kiểu này
đợc tạo ra bằng cách giới thiệu những sự kiện , những hiện tợng ngữ pháp
nghịch lý trái với những quan niệm thông thờng của mình về hiện tợng ngữ
pháp . Từ đó biết cách hiểu mới phù hợp với khoa học và quy luật hoạt động của
ngôn ngữ trong hệ thống giao tiếp .
Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ vì ngữ liệu đợc học , và việc làm bài tập cha hẳn đã
nhất quán trong cách xác định kiến thức .
Ví dụ : Khi dạy bài Từ ghép trong sách tiếng việt Lớp 7 tập 1.Có thể xuất hiện
tình huống trong khi cho học sinh phân biệt từ ghép hợp nghĩa và ghép phân
nghĩa trong các loại từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập
Trong thực tế có những giờ thao giảng cấp huyện có giáo viên cho rằng từ ghép
cây cỏ là từ ghép chính phụ nhng cũng có ý cho rằng đó là từ ghép đẳng lập vì
cây là một từ cỏ là một từ . Giáo viên còn cha thống nhất đợc thì học sinh
theo ai ? Có lẽ đây là một tình huống ngòai ý muốn sợ mất thời gian giải thích
chăng ?

4. Tình huống giả định :

Là tình huống đặt học sinh trớc những giả thiết những phán đoán , những suy lý
về một phơng thức mới để kiểm tra trình độ của học sinh về một tri thức ngữ
pháp cụ thể . Tạo điều kiện cho học sinh sử dụng năng lực t duy và khả năng
ngôn ngữ của mình để nhận xét , phán đoán hoặc bác bỏ tình huống giả định ,
khẳng định sự tồn tại của phơng thức cũ . Từ đó học sinh hiểu sâu giá trị của ph-
ơng thức cũ .
Nh vậy , tình huống giả định có vấn đề có thể tạo dựng đợc ở tất cả các bài
tiếng việt từ bài lý thuyết đến bài luyện tập thực hành bài tập .

áp dụng sáng kiến .
số lợng % số luợng %
8a3.(35 ) 15 25
8a5 (40 ) 17 27
Nh vậy việc sử dụng tình huống có vấn đề trong giờ học tiếng việt có thể
làm thay đổi căn bản quá trình của giờ học . Thay đổi phơng thức học tập và
hoạt động của học sinh . Đa tình huống có vấn đề vào dạy tiếng việt là một biện
pháp tốt để học sinh đợc tiến hành giao tiếp , tranh luận , phản bác , chứng minh
bảo vệ quan điểm của mình . Việc sử dụng tình huống có vấn đề trong giờ dạy
tiếng việt , giáo viên có thể đảm bảo đợc các nguyên tắc của các phơng pháp dạy
học theo tinh thần đổi mới , cải tiến lề lối học và dạy của giáo viên và học sinh .
Vừa hớng học sinh vào giao tiếp , vừa chú ý phát triển t duy, vừa căn cứ vào trình
độ của học sinh để uốn nắn những sai lệch để tiếp thu bài tốt hơn .
Tuy vậy không phải là không có những đỉêm hạn chế và bất cập . Tôi xin
nêu một số những hạn chế và những bài học kinh nghiệm sau :

D. Những hạn chế và bài học kinh nghiệm rút ra :
Việc dạy học nêu vấn đề đã đợc đặt ra từ lâu nhng không phải là chiếc chìa
khoá vạn năng vì thực chất có những câu hỏi đề ra có u điểm là kích thích t duy
của học sinh , nhng chỉ với học sinh có ý thức nghiêm túc còn đại bộ phận học
sinh vẫn thụ động coi lời giảng và trình bày của giáo viên là chính mà không có
sự độc lập suy nghĩ sáng tạo gì .
Có một thói quen một nếp nghĩ ăn sâu vào học sinh vì kiểu học và thi cử hiện
tại vẫn là sao chép bài mẫu , nên thiếu tính sáng tạo .
Mặt khác , đối với giáo viên , ngoài những tri thức sẵn có trong sách giáo
khoa ,giáo viên cần suy nghĩ lựa chọn đúng những câu hỏi nêu vấn đề tránh sai
lệch khuôn sáo nhằm thu hút học sinh chú ý ,nhiều ngữ liệu trong sách giáo
khoa nếu áp dụng vào bài dạy cha đảm bảo tính lô gíc trong kiến thức nhng vì đ-
ợc coi là có tính pháp lệnh rồi nên cứ phải tuân theo không dám thay đổi .
Về phía học sinh : Nếu các em không chú ý , không biết huy động vốn kiến

sinh phát huy sáng tạo khả năng phân tích , so sánh, tổng hợp để từ đó nắm
bắt bản chất vấn đề .
E. Những vấn đề cần phải kiến nghị hoặc bỏ ngỏ .
Với những ý kiến trên , tôi mong muốn rằng nếu có điều kiện chỉnh lý sách
giáo khoa thì tiết học tiếng việt cần phải đa ra nhiều tình huống hơn nữa để giúp
việc lựa chọn phù hợp các đối tợng học sinh , giúp cho học sinh học tiếng việt
không có những vấn đề cha thống nhất về kiến thức .
Do trình độ còn hạn chế , kinh nghiệm đa ra bản thân mình còn cha áp dụng
đợc thì ai áp dụng đợc rất mong nhận đợc sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp ,
của các cấp quản lý chuyên môn để thống nhất cao hơn về các loại bài tiếng việt
nói riêng và phân môn ngữ văn nói chung .
Phả lại ngày 6 tháng 3 năm2008.
Ngời viết .
Phạm Công Đính
- 7 -
Kinh nghiÖm gi¶ng d¹y tiÕng viÖt . Ph¹m C«ng §Ýnh THCS PL
- 8 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status