BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
____________________________________
Tác giả:
Bộ TNMT:
TS. Nguyễn Thị Hiền Thuận, TS. Trần Thục; TS. Trần Hồng Thái,
TS. Doãn Hà Phong, TS. Nguyễn Lê Tâm
Bộ KHCN: TS. Lê Quang Thành; TS. Nghiêm Thị Minh Hòa
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
(Ký tên và đóng dấu)
1.4 Mục tiêu của Nhiệm vụ 11
1.4.1. Mục tiêu tổng quát 11
1.4.2. Mục tiêu cụ thể 11
1.5 Cách tiếp cận và phương pháp sử dụng 11
2. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 13
2.1. Nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới 13
2.1.1 IPCC và các đánh giá về biến đổi khí hậu 13
2.1.2. Các kết quả nghiên cứu nổi bật về biến đổi khí hậu 15
2.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu 23
2.1.4 Một số phương án thích ứng với biến đổi khí hậu 24
2.2. Nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam 25
Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam 31
2.2.2 Nhận định xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam 33
2.2.3 Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam 34
2.2.4 Các giải pháp trong ứng phó với BĐKH 41
2.3 Một số Chương trình khoa học và công nghệ về BĐKH 41
2.3.1 Chương trình Biến đổi khí hậu của Châu Âu 41
2.3.2 Chương trình Khoa học Công nghệ về BĐKH của Hoa Kỳ 42
2.3.3 Hành động Khoa học Công nghệ về BĐKH của Trung Quốc 44
2.3.4 Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH ở Indonesia, Ấn Độ và Thái Lan 44
3. XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH KHCN QUỐC GIA VỀ BĐKH 47
3.1. Những yêu cầu đối với nhiệm vụ 47
3.2. Hội thảo và tư vấn chuyên gia 47
3.3 Đoàn khảo sát, học tập tại Hoa Kỳ 49
3.4. Dự thảo Chương trình KHCN quốc gia về BĐKH 52
3.4.1 Mục tiêu của Chương trình 52
3.4.2. Nội dung nghiên cứu chính 53
3.4.3 Sản phẩm khoa học công nghệ chính 58
3.4.4 Các chỉ tiêu đánh giá chương trình 58
3.4.5 Dự kiến nhu cầu kinh phí từ ngân sách nhà nước 59
tăng nhanh và đang là mối lo ngại của nhiề
u quốc gia.
Được đánh giá là một trong số các nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất của
BĐKH và nước biển dâng, Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề
có ý nghĩa sống còn. BĐKH cũng mang lại nhiều cơ hội, mở ra thị trường mới
về công nghệ năng lượng, công nghệ thân thiện với môi trường, theo hướng phát
triển ít các bon.
Từ
những năm 1990, BĐKH đã trở thành một chuyên ngành khoa học
quan trọng hàng đầu. Các nước phát triển đã đầu tư các nguồn lực tài chính rất
lớn cho nghiên cứu liên quan đến BĐKH. Các dự án KHCN liên quan đến
BĐKH được hoàn thành ở Việt Nam đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các vấn đề trong
nước và ngoài nước trong lĩnh vực BĐKH. Tuy nhiên, các hoạt động KHCN
trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn thiếu các chiế
n lược hạn vừa và dài hạn, và
chưa có đủ kinh phí cần thiết, nên đã gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng
với chính sự phát triển nhanh chóng trong khoa học BĐKH hoặc để đáp ứng
những nhu cầu trong xây dựng và thực hiện các chính sách và hành động quốc
gia liên quan đến BĐKH, và tham gia các cuộc đàm phán và hợp tác quốc tế. Do
đó rất cần có sự tăng cường cấp bách để củng cố các hoạt
động KHCN có liên
quan đến BĐKH ở nước ta.
Xây dựng và thực hiện Chương trình khoa học công nghệ quốc gia về
BĐKH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chương trình mục tiêu
quốc gia ứng phó với BĐKH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong
bối cảnh hiện nay, khi kiến thức của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng về
BĐKH còn nhiều hạn chế và vẫn còn tồ
n tại những quan điểm khác nhau, thậm
chí đối lập nhau về BĐKH, khi các kịch bản BĐKH còn chứa đựng nhiều yếu tố
chưa chắc chắn và có độ tin cậy chưa cao do vẫn còn nhiều điểm chưa chắc chắn
2) Danh mục nhiệm vụ khoa học công nghệ cho Chương trình.
3) Cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu biến đổi khí hậu.
4) Quy chế tổ chức và hoạt động của Chương trình.
5
ABSTRACT Climate change is one of the biggest challenges for humanity in the 21st
century. Natural disasters and extreme climate events increasingly take place in most
parts of the world, global average temperature and sea level continue to rise rapidly
and are a major concern of many countries.
Being considered among countries particularly vulnerable to climate change
and sea level rise, Vietnam recognizes response to climate change is crutial for
survival. On the other hand, climate change also brings opportunities, opening new
markets for energy technology, environmental sound technology towards low carbon
development.
Development and implementation of a national science and technology program
on climate change is one of the important tasks clearly stated in the National Target
Program to respond to climate change. It is accepted that the knowledge of the world
in general and Vietnam in particular on climate change is still limited while different
viewpoints remain. Uncertainties of climate change projections exist as there are still
many uncertainties in determination of socio-economic development scenarios,
greenhouse gases emission scenarios. Therefore, conducting synchronized studies,
KHCN Khoa học và Công nghệ
KNK Khí nhà kính
KP Nghị định thư Kyoto
LHQ Liên Hợp Quốc
NAPA Chương trình Hành động Quốc gia về thích ứng với BĐKH
TBQG1 Thông báo quốc gia đầ
u tiên của Việt Nam cho Công ước khung của
Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
TBQG2 Thông báo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung
của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
TNMT Tài nguyên và Môi trường
UNDP Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
UNEP Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
Viện KTTVMT Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi tr
ường
WB Ngân hàng Thế giới
WMO Tổ chức Khí tượng Thế giới
7
1. GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Tính cấp thiết của nhiệm vụ
Biến đổi khí hậu (BĐKH), mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực
nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong
thế kỷ 21. Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở
hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu ti
ếp
Tài nguyên và Môi trường cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối
hợp với các Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
và các Bộ, ngành và địa phương khác xây dựng và triển khai Chương trình khoa
học công nghệ quốc gia về BĐKH (sau đây gọi tắt là Chương trình). 8
Việc xây dựng Chương trình là cần thiết bởi vì kiến thức hiện nay của thế
giới nói chung và Việt Nam về BĐKH còn nhiều hạn chế. Trên thế giới vẫn còn
tồn tại những quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau, về BĐKH [45]. Điều
này đã thể hiện qua những bế tắc trong các cuộc đàm phán về BĐKH tại Hội
nghị các Bên tham gia Công ước khung Liên hợp qu
ốc về BĐKH (gọi tắt là
COP) lần thứ 15, 16 và gần đây nhất là lần thứ 17 tại Durban, Nam Phi. Thực tế
nêu trên, cùng với việc các kịch bản BĐKH cho thế giới và Việt Nam còn chứa
đựng nhiều yếu tố chưa chắc chắn và có độ tin cậy chưa cao do vẫn còn nhiều
điểm chưa chắc chắn trong việc xác định các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội,
kèm theo đó là l
ượng phát thải khí nhà kính trong tương lai, ảnh hưởng không
nhỏ đến khả năng thích ứng của Việt Nam trước những tác động của BĐKH
trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Các nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam được các cơ quan nhà nước, các
viện nghiên cứu, tổ chức thuộc Liên hiệp hội Khoa học của Việt Nam, các tổ
chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ thực hi
ện từ những năm 1990 cho đến
nay có mức độ sâu và rộng khác nhau cho từng vùng, lĩnh vực riêng lẻ, chưa
toàn diện, đầy đủ và thiếu tính tổng thể. Việc xây dựng và triển khai thực hiện
Chương trình sẽ làm cơ sở khoa học toàn diện, tổng thể phục vụ việc xây dựng
các giải pháp thích ứng và giảm thiểu BĐKH, cũng như xây dựng và thực hiện
các chương trình, kế ho
thụ năng lượng tăng cao và giảm tổng phát thải khí nhà kính.
iii) Tất cả các biện pháp ứng phó và hiệu quả của chúng phụ thuộc rất
nhiều vào những tiến bộ trong KHCN. Cần có những sự hỗ trợ mạnh mẽ của
KHCN liên quan đến BĐKH để hiểu rõ hơn quá trình B
ĐKH, để xác định các
tác động của nó, để phát triển các công nghệ thích ứng và giảm nhẹ, và xây dựng
các chính sách và các biện pháp ứng phó phù hợp.
Từ những năm 1990, BĐKH đã trở thành một chuyên ngành khoa học
quan trọng hàng đầu. Các nước phát triển đã đầu tư các nguồn lực tài chính rất
lớn cho nghiên cứu liên quan đến BĐKH. Các dự án KHCN liên quan đến
BĐKH được hoàn thành ở Việt Nam đã cung cấp sự hỗ tr
ợ mạnh mẽ cho các
vấn đề trong nước và ngoài nước trong lĩnh vực BĐKH. Tuy nhiên, các hoạt
động KHCN trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn thiếu các chiến lược hạn vừa
và dài hạn, và chưa có đủ kinh phí cần thiết, nên đã gặp nhiều khó khăn trong
việc thích ứng với chính sự phát triển nhanh chóng trong khoa học BĐKH hoặc
để đáp ứng những nhu cầu trong xây dựng và thực hiện các chính sách và hành
động quốc gia liên quan
đến BĐKH, và tham gia các cuộc đàm phán và hợp tác
quốc tế. Do đó rất cần có sự tăng cường cấp bách để củng cố các hoạt động
KHCN có liên quan đến BĐKH ở nước ta.
Chương trình sau khi được phê duyệt sẽ tập trung nghiên cứu hiện tượng,
bản chất khoa học và những điều chưa biết rõ về BĐKH; các tác động của
BĐKH đến kinh tế - xã hội, môi trường; phân tích và
đánh giá khía cạnh kinh tế
của các hoạt động thích ứng với BĐKH; nghiên cứu phát triển/nghiên cứu ứng
dụng công nghệ ứng phó với BĐKH; chuyển giao công nghệ ứng phó với
BĐKH cho các ngành, địa phương để ứng dụng khi triển khai kế hoạch hành
động ứng phó với BĐKH; triển khai các đề tài, đề án hợp tác quốc tế về BĐKH,
nhận chuyển giao và ứng dụng các công nghệ thân thiệ
- Quyết định số 18/2006/QĐ-BKHCN ngày 15/9/2006 của Bộ trưởng Bộ
Khoa học và Công nghệ về “Quy chế tổ
chức hoạt động chương trình Khoa học
Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006 - 2010”;
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BKHCN ngày 23/11/2006 của Bộ trưởng Bộ
Khoa học và Công nghệ về việc bổ sung một số điều của “Quy chế tổ chức quản
lý hoạt động chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai
đoạn 2006 - 2010”;
- Quyế
t định số 10/2007/QĐ-BKHCN ngày 11/05/2007 của Bộ trưởng Bộ
Khoa học và Công nghệ “Quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức cá nhân chủ trì
thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Nhà nước”;
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với
biến đổi khí hậu.
11
1.4 Mục tiêu của Nhiệm vụ
1.4.1. Mục tiêu tổng quát
Chương trình Khoa học công nghệ quốc gia về BĐKH nhằm cung cấp cơ
sở khoa học cho việc xây dựng thể chế, chính sách và kế hoạch hành động ứng
phó với BĐKH.
1.4.2. Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Xây dựng khung Chương trình khoa học công nghệ quốc gia
về BĐKH từ năm 2011 đến năm 2015;
Mục tiêu 2: Xác định danh mục nhi
ệm vụ khoa học công nghệ cho
Chương trình và bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2011;
Việc xây dựng Chương trình dựa trên cơ sở các nghiên cứu hiện có và các
nghiên cứu đang triển khai trong và ngoài nước, những thông tin, kiến thức kinh
nghiệm truyền thống và lịch sử.
Các phương pháp sử dụng trong đề tài:
• Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp
các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu, thông tin có liên quan m
ột cách có chọn lọc,
từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu.
Ở giai đoạn đầu, nhiệm vụ tiến hành thống kê, thu thập các dữ liệu, các kết
quả nghiên cứu của các chương trình, dự án đã được thực hiện có liên quan.
• Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được coi là một phương pháp quan trọng và hiệu
quả. Phương pháp này huy động được kinh nghiệm và hiểu biết của nhóm
chuyên gia liên ngành về
biến đổi khí hậu, tránh được những trùng lặp với
những nghiên cứu đã có, đồng thời kế thừa các thành quả nghiên cứu đã đạt
được. Phương pháp này được thực hiện thông qua các buổi hội thảo, tham vấn ý
kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan.
• Phương pháp tham vấn cộng đồng
Trên cơ sở các phương án đề xuất, thực hiện tham vấn cộng đồng để thu
thậ
p ý kiến, hoàn thiện khung Chương trình. 13
2. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Biến đổi khí hậu (Climate Change): Sự thay đổi của khí hậu (định nghĩa
của Công ước khí hậu) được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con
người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự
vào khí quyển. Quy mô và thành tựu nghiên cứu BĐKH được ghi nhận thông
qua hoạt động của Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) trong từng giai đoạn.
Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) do hai tổ chức thuộc Liên
hợp quốc (LHQ) là Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Ch
ương trình Môi
trường Liên hợp quốc (UNEP) thành lập năm 1998 với nhiệm vụ chính là đánh
giá các thông tin khoa học liên quan đến BĐKH, đánh giá tác động của BĐKH
đến môi trường và kinh tế - xã hội và xây dựng các chiến lược ứng phó. Hoạt 14
động chính của IPCC là hỗ trợ cho việc thực hiện Công ước khung của LHQ về
BĐKH (UNFCCC).
Trước khi IPCC được thành lập (trước năm 1988), đã có những công trình
khoa học cảnh báo về hiện tượng nóng lên toàn cầu. Đây chỉ là những công trình
khoa học thuần túy, chưa đủ chứng cứ, bằng chứng thực tế để thuyết phục các
nhà hoạch định chính sách, thậm chí là chính các nhà khoa học. Tuy nhiên,
chúng cũng giúp LHQ chấp nhận: BĐ
KH là mối quan tâm chung của nhân loại
và thúc đẩy việc thành lập IPCC.
Từ khi thành lập đến nay, IPCC đã đưa ra các Báo cáo Đánh giá vào năm
1990 (bổ sung năm 1992), 1995, 2001 và 2007 [43, 45, 46]. Hiện nay, IPCC
đang chuẩn bị cho báo báo đánh giá thứ 5, dự tính sẽ đưa ra vào năm 2014. Bên
cạnh đó IPCC còn có các báo báo chuyên biệt, hoặc phối hợp với các tổ chức
(như WMO) xuất bản các văn bản kỹ thuật và các báo cáo về phương pháp luận,
hỗ trợ cho chính phủ
các nước trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách
về ứng phó với BĐKH với những luận cứ khoa học về biến đối khí hậu đáng tin
cậy [42, 44 …]. Mỗi Báo cáo đánh giá của IPCC gồm có 3 báo cáo riêng tương
ứng với 3 nhóm làm việc của IPCC và một Báo cáo Tổng hợp.
tâm đến các vấn đề về nguồn gốc của BĐKH; các bằng chứng BĐKH thể hiện
qua sự thay đổi về nhiệt độ, băng tuyết và nước biển dâng; các vấn đề về kiểm
kê phát thải KNK, các bể hấp thụ KNK…; các tác động của BĐKH và phương
pháp đánh giá tác động của BĐKH.
Kể từ năm 1996 (sau khi IPCC công bố Báo cáo đánh giá thứ hai) đến
nay, nghiên c
ứu về BĐKH được mở rộng và tiến hành ở nhiều nơi và thu hút sự
quan tâm của toàn thế giới. Các công trình nghiên cứu chủ yếu bao gồm: Hướng
dẫn kiểm kê quốc gia KNK (IPCC, 2006]; Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động
của BĐKH và thích ứng với BĐKH (UNEP, 1998); Báo cáo đánh giá thứ 3
(TAR, 2001); Báo cáo đánh giá thứ 4 (AR4, 2007); Những vẫn đề kinh tế của
BĐKH (ADB, 2009; Stern, 2007); Hướng dẫn xây dựng luật pháp thích ứng với
BĐKH (UNEP, 2011).
Nhiều Thông báo quốc gia cho UNFCCC đã đưa ra các vấn đề liên quan
đến BĐKH như bằng chứng về BĐKH, kiểm kê quốc gia KNK, chiến lược giảm
nhẹ BĐKH, chiến lược thích ứng với BĐKH [53].
Các công trình khoa học về BĐKH trong giai đoạn này có các đặc điểm
nổi bật sau đây:
- Đặc biệt chú trọng bằng chứng về băng tan, nước biển dâng.
- Đề c
ập cụ thể hơn về các biểu hiện của BĐKH trong các lớp khí quyển,
đặc biệt là lớp đối lưu dưới.
- Đánh giá toàn diện các lĩnh vực liên quan với BĐKH, trong đó đặc biệt
chú ý đến quan hệ BĐKH - phát triển con người.
2.1.2. Các kết quả nghiên cứu nổi bật về biến đổi khí hậu.
• Các bằng chứng về biến đổi khí hậu
Báo cáo đ
ánh giá BĐKH thứ 4 của IPCC khẳng định những biểu hiện
chính của BĐKH trong hơn 100 năm qua như sau:
phần: Cơ sở khoa học, sổ công tác và báo cáo kiểm kê; Công bố kịch b
ản 6 cấp
về phát thải KNK: Phát thải cao: IS92e, IS92g; Phát thải vừa: IS92a, IS92b; và
Phát thải thấp: IS92c, IS92d.
Trong giai đoạn gần đây nhất, IPCC đã công bố kịch bản 4 họ: A1, A2,
B1, B2 và 6 kịch bản chính: Phát thải cao: A1FI, A2; Phát thải vừa: A1B, B2;
Phát thải thấp: B1, A1T. Các kịch bản phát thải KNK được xây dựng dựa chủ
yếu vào: dân số thế giới, mức tăng trưởng kinh tế, nguồn nhiên liệu, trong đó có
giá dầu thô, giá nhiên liệu tái tạo, hi
ệu lực của các công ước quốc tế, trong đó có
Nghị định thư Montreal.
Có thể nêu khái quát về các kịch bản phát thải của IPCC như sau: 17
o A
1
: Tăng trưởng kinh tế rất nhanh, dân số thế giới đạt đỉnh cao vào
giữa thế kỷ sau đó giảm xuống, xuất hiện nhanh chóng nhiều công nghệ hiệu
quả.
Họ kịch bản A
1
chia thành 3 nhóm khác nhau về phương hướng thay đổi
công nghệ trong hệ thống năng lượng:
- A
1
FI
:
Chủ yếu là năng lượng hóa thạch.
- A
1
B); 2,4
0
C (A
1
T, B
2
) và 1,8
0
C (B
1
). Tương tự, mực nước biển dâng được dự
tính theo thời gian trên là: 0,26-0,59m (A
1
FI); 0,23-0,51m (A
2
); 0,21-0,48
(A
1
B); 0,20-0,43m (B
2
); 0,20-0,45m (A
1
T) và 0,18-0,38m (B
1
).
• Kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu
Kể từ Báo cáo đầu tiên vào năm 1990 chỉ với kịch bản về nước biển dâng,
đến kịch bản năm 2007 với các họ kịch bản khác nhau, đã có những thay đổi
đáng kể mức tăng nhiệt độ và mực nước biển dâng.
đổi nhanh chóng của dòng
chảy băng
Hệ số xem xét
năm 2000
0,6 0,3 - 0,9 NA
Kịch bản B1 1,8 1,1 - 2,9 0,18 - 0,38
Kịch bản A1T 2,4 1,4 - 3,8 0,20 - 0,45
Kịch bản B2 2,4 1,4 - 3,8 0,20 - 0,43
Kịch bản A1B 2,8 1,7 - 4,4 0,21 - 0,48
Kịch bản A2 3,4 2,0 - 5,4 0,23 - 0,51
Kịch bản A1Fl 4,0 2,4 - 6,4 0,26 - 0,59
(Nguồn: Báo cáo Đánh giá thứ 4 của IPCC)• Dao động và biến đổi khí hậu
Kể từ những năm 60 của thế kỷ trước, dao động và biến đổi khí hậu đã
được coi như bản chất vốn có của khí hậu và được tập trung nghiên cứu với quy
mô ngày càng mạnh mẽ. Các kết quả nghiên cứu dao động và biến đổi khí hậu
trong khoảng 30 năm gần đây đã góp phần nâng cao đáng kể khả năng v
ề mô tả,
hiểu và mô hình hoá các cấu trúc thời gian và không gian, độ lớn và quy mô của
dao động và biến đổi khí hậu.
Các hội nghị, hội thảo và xê-mi-na quốc gia và quốc tế cũng như các diễn
đàn khác nhau về dao động và biến đổi khí hậu đã tạo cơ sở cho việc xây dựng
các khuyến nghị sau đây về nghiên cứu khí hậu trong tương lai. Đó là:
- Các tiêu chuẩn phải được xác lập để đảm b
ảo rằng các biến khí hậu quan
trọng sẽ được xác định và các quan sát được thực hiện sao cho có được cơ sở dữ
- Những biến đổi khí hậu thế kỷ và những mối liên kết toàn cầu;
• Nghiên cứu và đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH
Điều 4 của UNFCCC yêu cầu các nước phát triển hỗ trợ các nước đang
phát triển - những quốc gia "đặc biệt dễ bị tổn thương" với biến đổi khí hậu
trong việc đáp ứng các chi phí thích ứng với BĐKH. Nhiều công trình nghiên
cứu về tính dễ tổn thương với BĐKH đã góp phần xác định các khái niệm, các 20
chỉ thị và chỉ số có cơ sở khoa học về tính dễ bị tổn thương với BĐKH và khả
năng thích ứng đồng thời chỉ ra những ưu tiên hỗ trợ thích ứng từ quỹ thích ứng
toàn cầu.
Các công trình nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương với BĐKH chú trọng
các vấn đề sau đây:
- Đánh giá các khái niệm khác nhau của 'tính dễ bị tổn thươ
ng ', tập
trung vào hai giải thích chính của thuật ngữ này trong nghiên cứu BĐKH: tính
dễ bị tổn thương hậu quả (outcome vulnerability) và tính dễ bị tổn thương theo
bối cảnh/xã hội (contextual/social vulnerability);
- Đánh giá tổng hợp các chỉ số dễ bị tổn thương chính cấp quốc gia đối
với BĐKH; Xem xét và đánh giá các mối quan hệ giữa tính dễ bị tổn thương
tổng hợp quốc gia với bi
ến đổi khí hậu và sự ưu tiên của các quốc gia đối với sự
hỗ trợ thích ứng quốc tế.
- Xây dựng và phát triển một khái niệm dễ bị tổn thương với BĐKH
nhằm, kết cấu các thông tin riêng biệt về tính dễ bị tổn thương của các nước với
những phương thức phù hợp và cụ thể để thông báo các ưu tiên hỗ trợ thích ứng
quốc tế.
- Nghiên cứu và đánh giá định lượng về các yếu tố dễ bị tổn thương
được lựa chọn cho các lĩnh vực khác nhau nhạy cảm với khí hậu, bao gồm cả
Cooperation and Development - OECD), việc tích hợp thích ứng BĐKH vào
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở các cấp trung
ương, ngành và địa phương có thể tiến hành theo 10 mođun sau đây: 1) Modun
1: Áp dụng các kịch bản khí hậu; 2) Modun 2: Giải thích dữ liệu khí hậu;
Modun 3: Đánh giá tính dễ bị tổn thương; 4) Modun 4: Xác định các phương án
thích ứng; 5) Modun 5: Chọn các giải pháp thích ứng; 6) Modun 6: Xây dựng
khung giám sát và đánh giá thích ứng; 7) Modun 7: Xây dựng năng lực thể chế;
8) Modun 8: Những căng thẳng (ức chế) của khí hậu ở địa phương, tính dễ bị
tổn thương và khả năng phục hồi; 9) Modun 9: Tiến hành các hành động tại địa
phương; và 10) Modun 10: Tích hợp thích ứng vào các chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch.
Từ việc tìm hiểu nội dung 10 modun hướng dẫn tích hợp thích ứng với
BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội do
OECD đề xuất và đang được UNDP, USAID, OECD, WB và ADB áp dụng, có
thể nhận thấy như sau:
1) Danh mục 10 modun do OECD đề xuất là cần thiết và hoàn toàn phù
hợp với yêu cầu tích hợp BĐKH vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việ
t
Nam;
2) Việc biên soạn, bổ sung và cụ thể hoá các nội dung của 10 modun này
để phục vụ cho việc tích hợp thích ứng với BĐKH vào các chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội ở nước ta là cần thiết và nên được thực hiện sớm.
• Ứng dụng thông tin khí hậu ra quyết định
Để đảm bảo tích hợp có hiệu quả các nỗ lực thích ứng vào các chiến lược,
chính sách và các kế hoạch phát tri
ển của quốc gia, ngành và các địa phương,
thông tin khí hậu là cần thiết để mô tả các rủi ro khí hậu và để thông báo việc ra
quyết định quản lý hiệu quả các rủi ro.
Cho đến nay, một quy trình chung nhất được áp dụng cho quá trình ra
quyết định thích ứng bằng thông tin khí hậu cần phải thực hiện các nội dung sau
đây:
-
Xác định các khuôn khổ quyết định thích ứng;
- Xác định vai trò của các thông tin khí hậu và các nhu cầu thông tin khí
hậu đối với các hợp phần quan trọng của đánh giá rủi ro và lập kế hoạch thích
ứng, bao gồm: i) Sàng lọc nguy cơ ban đầu, ii) Phân tích các rủi ro chi tiết, và
iii) Đánh giá các phương án thích ứng.
- Xem xét các thông tin khí hậu, bao gồm sự sẵn có và tính tin cậy của
chúng, bao gồm: i) Xem xét và tổng hợp các thông tin khí hậu có sẵn; ii) Xem 23
xét những phỏng đoán khí hậu tương lai và những ứng dụng tiềm năng của
chúng trong việc ra quyết định thích ứng;
- Ứng dụng thông tin khí hậu để hỗ trợ các quyết định thích ứng, bao
gồm các nội dung: i) Tạo ra môi trường thuận lợi; ii) Tạo ra các kế hoạch phát
triển thích ứng với khí hậu; iii) Đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng có khả năng
thích ứ
ng.
2.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu
Theo báo cáo lần thứ 4 của IPCC, đã có đầy đủ chứng cứ về tác động của
BĐKH trên toàn bộ các lục địa và hầu hết các đại dương, đối với các hệ sinh thái
tự nhiên và lục địa. Trong các thập kỷ sắp tới, với diễn biến và sự biến đổi của
các yếu tố khí hậu, các tác động tiềm tàng chủ yế
u BĐKH có thể được khái quát
như sau:
- Vào giữa thế kỷ 21, dòng chảy của các sông tăng lên 10-40% ở các vĩ
độ cao và vùng nhiệt đới ẩm ướt và giảm đi 10-30% ở các vĩ độ trung bình và
- Các bình nguyên và vùng núi cao sẽ bị ảnh hưởng của hiện tượ
ng nóng
lên;
- Rừng ngập mặn, các đầm lầy ven biển;
- Các dải san hô của tất cả các vùng biển;
- Tài nguyên nước ở các vùng nhiệt đới khô do lượng mưa giảm, bốc
hơi tăng;
- Nông nghiệp ở một số vùng vĩ độ thấp do thiếu nước;
- Nước biển dâng đe dọa nghiêm trọng các vùng đồng bằng thấp.
2.1.4 Một số phương án thích
ứng với biến đổi khí hậu
Báo cáo của IPCC đặc biệt lưu ý đến việc xây dựng các chiến lược và đề
xuất các giải pháp ứng phó với BĐKH. Chiến lược ứng phó với BĐKH bao gồm
2 bộ phận chủ yếu: Giảm nhẹ BĐKH với nội dung chủ yếu là giảm phát thải
KNK và chiến lựợc thích ứng với BĐKH, bao gồm nhiều giải pháp cụ thể
ứng
dụng trong các lĩnh vực chủ yếu: Tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp,
thủy sản, năng lượng, công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải và y tế, sức
khỏe con người. Trong số các chiến lược và giải pháp nói trên, đáng chú hơn cả
là chiến lược ứng phó với mực nước biển dâng ở vùng bờ biển, hải đảo.
IPCC giới thiệu một số phương án thích ứng với BĐ
KH chủ yếu cho các
lĩnh vực chủ yếu sau đây:
• Tài nguyên nước: Phát triển kỹ thuật tưới tiêu, tưới tiêu có hiệu quả; Cải
thiện quản lý nước.
• Nông nghiệp: Điều chỉnh quy hoạch thời vụ và giống; Bảo vệ đất và
chống xói mòn thông qua quy hoạch cây trồng.
• Cơ sở hạ tầng (bao gồm đới bờ biển): Xây mới, gia cố đê
điều phòng
chống bão, lụt, nước biển dâng; Bảo vệ đê đập tự nhiên.