MỤC LUC
LỜI MỞ ĐẦU
Kế toán là một công cụ quan trọng nhất đáng tin cậy để Nhà nước điều hành
quản lý vĩ mô nền kinh tế. Kiểm tra, kiểm soát hoạt động các ngành, mọi lĩnh vực
trong nền kinh tế quốc dân. Nhận thức được vấn đề đó, công tác tổ chức nói chung
và tổ chức tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương nói riêng luôn được
các doanh nghiệp quan tâm. Em đã mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu công tác hạch
toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần thiết bị công
trình Hoàng Anh”
1. Lý do lựa chọn đề tài
Để trả tiền lương cho người lao động đúng, doanh nghiệp phải đảm bảo được
các yêu cầu sau: Đúng với chế độ tiền lương của Nhà nước, gắn với quản lý lao
động của doanh nghiệp. Các yêu cầu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau và chỉ có
trên cơ sở yêu cầu đó thì tiền lương mới kích thích được người lao động trong nâng
cao tay nghề, nâng cao ý thức kỷ luật , thi đua lao động sản xuất thúc đẩy được sản
xuất phát triển. Ngoài tiền lương, người lao động còn được hưởng các khoản phụ
cấp, trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… các khoản này cũng đóng góp phần
trợ giúp người lao động và tăng thêm thu nhập cho họ trong trường hợp khó khăn,
tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đạt mục đích phục vụ cho yêu cầu quản lý chặt chẽ, có
hiệu quả về công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. Hạch toán
lao động, kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ liên quan đến
quyền lợi của người lao động, mà còn liên quan đến các chi phí hoạt động sản xuất
kinh doanh, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, liên quan đến tình hình chấp
hành các chính sách về lao động tiền lương của nhà nước.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sự hình thành và biến động của tiền lương trong quá
trình hoạt động của công ty.
Là công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ
phần thiết bị công trình Hoàng Anh.
Tên công ty: Công ty Cổ phần thiết bị công trình Hoàng Anh.
Địa chỉ: Số 456 Quốc lộ 5A, Phường Hùng Vương - Hồng Bàng - Hải Phòng
City - Vietnam
Tên viêt tắt: HOANG ANH EQUIPMEMT PROJECT JOINT STOCK
COMPANY
Loại hình: Cổ phần
Số đăng ký: 0203003214
Ngày thành lập: Ngày 15/06/2007
Người đại diện: Đoàn Văn Tới
Vốn điều lệ: 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng)
Ngành hoá chất mỏ được thành ngày 20 tháng 12 năm 1965 theo quyết định
của Bộ công nghiệp nặng có nhiệm vụ tiếp cận, bảo quản vật liệu nổ công nghiệp
của Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu, cung ứng cho các ngành kinh tế,
xây dựng cơ sở hạ tầng.
Từ năm 1995 với đà phát triển của dất nước, nhu câu xây dựng đường xá, cầu
hầm ngày càng tăng để phục vụ cho sự phát triển của đất nước vì thế vật tư máy
móc là một yếu tố không thể thiếu được. Nhằm thống nhất sự quản lý, thực hiện sản
xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn và để đáp ứng tốt hơn về thiết bị công trình của
các ngành kinh tế ngày 29/3/1995 Văn phòng Chính phủ đã có thông báo cho phép
thành lập công ty cổ phần thiết bị công trình Hoàng Anh. Ngày 15/6/2007 Thủ
tướng Chính phủ có quyết định số 77/QĐ - TTG về việc thành lập công ty TNHH
một thành viên có tên là: là Công ty Cổ phần thiết bị công trình Hoàng Anh.
Ngày 15/6/2007, công ty cổ phần thiết bị công trình Hoàng Anh chính thức ra
đời.
Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất và cung ứng vật tư máy móc thiết bị
cho các ngành khoa học, kỹ thuật.
1.1.2. Ngành nghề kinh doanh
Công ty Cổ phần thiết bị công trình Hoàng Anh tổ chức một vòng khép kín
khai thác than cứng và than non, khai thác qoặng kim loại,khia thác đá,cát,sỏi,đất
sét.Sản xuất kim loại màu và kim loại quý, sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện,
Sơ đồ tổ chức quản
bụ may cụng ty
của Công ty
cụ phõn thiờt bi cụng
trinh Hoang Anh
Giam ục
* Nhim v v chc nng ca cỏc phũng ban:
- Giỏm c cụng ty: L ngi iu hnh hot ng kinh doanh hng ngy
ca cụng ty. Giỏm c cú cỏc quyn sau õy: quyt nh tt c cỏc vn liờn quan
n hot ng hng ngy ca cụng ty. T chc thc hin k hoch kinh doanh v k
hoch u t ca cụng ty. Ban hnh quy ch qun lý ni b. B nhim, min nhim
Phòng tài chính
kế toán
Phòng kinh doanh
Phòng vật t!
Các cửa hàng
Phòng tổ chức
hành chính
Các Kho
Các chi
nhánh
Phó giám
đốc
cách chức các chức danh quản lý trong công ty. Ký kết hợp đồng nhân danh công
ty. Bố trí cơ cấu tổ chức của công ty, kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc
sử lý các khoản lỗ trong kinh doanh.
- Giám đốc: là người chỉ đạo công tác chuẩn bị hoạch định chiến lược và kế
hoạch kinh doanh. Giám đốc trực tiếp thiết kế bộ máy quản trị, chỉ đạo công tác
tuyển dụng nhân sự, bố trí nhân sự và thiết lập mối quan hệ làm việc trong bộ máy,
chỉ huy điều hành toàn bộ công tác tổ chức quá trình kinh doanh. Giám đốc trực tiếp
phương nơi đơn vị đóng quân quan tâm giúp đỡ và cho phép đầu tư cơ sở vật chất
cùng với những cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên công ty cổ phần
thiết bị công trình Hoàng Anh đã đạt được một số thành tích xuất sắc: là đơn vị anh
hùng lao động, được nhận huân chương lao động hạng nhất, huân chương độc lập,
huân chương lao động hạng hai, huân chương lao động hạng ba, huân chương chiến
công hạng ba và nhiều huân chương cho các tập thể, cá nhân trong công ty.
1.2.2. Kết quả kinh doanh của công ty
Bảng 1.1. Bảng kết quả hoạt động kimh doanh của công ty cổ phần thiết bị công trình Hoàng Anh
STT Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
So Sánh Năm
2012/2011
So sánh năm
2013/2012
Số tuyệt
đối
Tỷ lệ %
Số tuyệt
đối
Tỷ lệ %
1 Tổng doanh thu 136.546 131.432 195.099 (5.114) (3,745) 63.667 48,441
2 Tổng chi phí 128.879 123.239 183.529 (5.640) (4,376) 60.290 48,921
3
Tổng lợi nhuận
trước thuế
2.694 2.182 3.728 (0.512) (19,005) 1.546 70,852
4
Thuế thu nhập DN phải
nộp
673 698 1.178 25.000 3,715 (696.822) (99,831)
5 Số lao động (người) 712 715 800 3.000 0,421 85.000 11,888
người lao động lớn để đáp ứng được điều đó.
Cũng từ yếu tố đó mà lương bình quân của công nhân trong công ty cũng dần
được cải thiện và tăng ở năm 2013, tỷ lệ tăng của năm 2013 so với năm 2012 là từ
3,25 lên 4,00 tương ứng 18,75 %.
10
Tất cả những điều đó cho thấy tình hình kinh doanh của công ty là rất khả
quan, công ty cần giữ vững và phát huy những gì đã đạt được và khắc phục những
điều chưa đạt được để ngày càng vững bước phát triển đi lên.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công ty
Có thể nói tiền lương là vấn đề khá phức tạp đối với tất cả các doanh nghiệp
nói chung. Nó chi phối nhiều mặt hoạt động của cán bộ công nhân viên trong các
doanh nghiệp, nhưng mặt khác nó lại chịu tác động của nhiều yếu tố. Chính vì vậy
muốn thực hiện tốt công tác quản lý tiền công và tiền lương thì đòi hỏi các cấp quản
trị của công ty phải nghiên cứu đầy đủ các yếu tố sau đây:
-Luật lao động: đó là các chính sách của Nhà nước và pháp luật quy định về
mức lương tối thiểu, cách trả lương, thang lương, bảng lương. Mỗi một quốc gia
đều có bộ luật lao động riêng để bảo vệ quyền lợi cho cả người lao động và người
sử dụng lao động.
- Thị trường lao động: hiện nay, do sự tồn tại của thị trường lao động nên vai
trò điều phối lao động của tiền lương thể hiện ngày càng rõ nét. Vì vậy tuỳ thuộc
vào tình hình cung cầu trên thị trường lao động mà doanh nghiệp có thể điều chỉnh
mức lương cho phù hợp.
-Mức giá cả sinh hoạt: tiền lương phải phù hợp với giá cả sinh hoạt, đó là
quy luật của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Như chúng ta đã biết, tiền lương thực
tế tỉ lệ nghịch với giá cả sinh hoạt và tỉ lệ thuận với tiền lương danh nghĩa.
Do đó mức giá cả sinh hoạt tăng lên thì tiền lương thực tế giảm xuống. Vì
vậy các doanh nghiệp phải tăng tiền lương danh nghĩa để đảm bảo đời sống cho
công nhân.
-Vị trí địa lý: sự chênh lệch tiền lương luôn tồn tại giữa các khu vực địa lý
+ Khái niệm
Tiền lương là một phạm trù kinh tế, nó là số tiền mà người sử dụng lao động
trả cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc gì đó. Tiền lương có nhiều
quan điểm nhìn nhận khác nhau phụ thuộc vào từng thời kỳ và cách tiếp cận khác
nhau.
+ Bản chất
Đối với thành phần kinh tế nhà nước tư liệu lao động thuộc sở hữu nhà nước,
tập thể lao động từ giám đốc đến công nhân đều là người bán sức lao động, làm
thuê cho nhà nước và được nhà nước trả công dưới dạng tiền lương. ở đây, tiền
lương mà người lao động nhận được là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh,
các cơ quan tổ chức nhà nước trả theo hệ thống thang bảng lương của nhà nước quy
định. Còn trong các thành phần, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, sức lao động đã
trở thành hàng hóa vì người lao động không có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất mà
họ đang sử dụng, họ là người làm thuê cho các ông chủ, tiền lương do các xí
nghiệp, tổ chức ngoài quốc doanh trả nhưng việc trả lương ấy lại chịu tác động chi
phối của thị trường sức lao động. Tiền lương trong khu vực này vẫn nằm trong
khuôn khổ pháp luật và theo chính sách hướng dẫn của nhà nước, nhưng những thỏa
thuận cụ thể giữa người lao động và người sử dụng lao động có tác động trực tiếp
đến phương thức trả lương. Thời kỳ này sức lao động được nhìn nhận thực sự như
một hàng hóa, do vậy tiền lương không phải một cái gì khác mà chính là giá cả của
sức lao động. Nó đòi hỏi phải ngang với giá cả các tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái
sản xuất sức lao động.
13
Như vậy, xét trên phạm vi toàn xã hội thì tiền lương là một phạm trù kinh tế
tổng hợp quan trọng trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần hiện nay.
Với quan điểm mới này tiền lương đã đánh giá đúng giá trị sức lao động, tiền
tệ hóa tiền lương triệt để hơn, xóa bỏ tính phân phối cấp phát và trả lương bằng hiện
vật đồng thời khắc phục quan điểm coi nhẹ lợi ích cá nhân như trước kia, tiền lương
đã được khai thác triệt để vai trò đòn bẩy kinh tế, nó kích thích người lao động gắn
bó hăng say với công việc hơn.
xã hội nó có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ. Tiền lương phải đảm bảo lợi
ích kinh tế cho người lao động, tạo niềm hứng khởi trong công việc, phát huy tinh
thần sáng tạo tự học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn để từ đó giúp
họ làm việc với hiệu quả cao nhất mà mức lương nhận được thỏa đáng nhất.
Tích lũy với mức tiền lương nhận được, người lao động không những duy trì
cuộc sống hàng ngày mà còn để dự phòng cho cuộc sống sau này khi họ đã hết khả
năng lao động hoặc rủi ro bất ngờ.
Chi phí tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm,
dịch vụ…cho doanh nghiệp sản xuất ra.
Tiền lương là phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số người lao động trong
xã hội nó có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ. Tiền lương phải đảm bảo lợi
ích kinh tế cho người lao động, tạo niềm hứng khởi trong công việc, phát huy tinh
thần sáng tạo tự học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn để từ đó giúp
họ làm việc với hiệu quả cao nhất mà mức lương nhận được thỏa đáng nhất.
Tích lũy với mức tiền lương nhận được, người lao động không những duy trì
cuộc sống hàng ngày mà còn để dự phòng cho cuộc sống sau này khi họ đã hết khả
năng lao động hoặc rủi ro bất ngờ.
+ Nguyên tắc trả lương trong doanh nghiệp
Nhiệm vụ của tổ chức tiền lương là phải xây dựng được chế độ tiền lương
mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Việc trả lương cho công nhân viên chức, người
lao động nói chung phải thể hiện được quy luật phân phối theo lao động. Vì vậy,
việc tổ chức tiền lương phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
15
Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho người lao động.
Làm cho năng suất lao động không ngừng tăng.
Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu.
Vậy, nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền lương là cơ sở quan trọng nhất để
xây dựng được một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập
thích hợp trong một thể chế kinh tế nhất định. ở nước ta khi xây dựng các chế độ trả
Như vậy, trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như trong nội bộ doanh
nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy thì không còn con đường nào
khác ngoài việc làm cho tốc độ tăng NSLĐ nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình
quân. Vi phạm nguyên tắc này sẽ tạo khó khăn trong phát triển sản xuất và nâng cao
đời sống của người lao động.
Nguyên tắc 3: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người
làm những nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ sở của nguyên tắc này là căn cứ vào chức năng của tiền lương là tái sản
xuất sức lao động, kích thích người lao động, do vậy phải đảm bảo mối quan hệ hợp
lý tiền lương giữa các ngành, tiền lương bình quân giữa các ngành được quy định
bởi các nhân tố:
- Nhân tố trình độ lành nghề của mỗi người lao động ở mỗi ngành: Nếu trình
độ lành nghề cao thì tiền lương sẽ cao và ngược lại, nếu trình độ lành nghề thấp thì
tiền lương sẽ thấp.
- Nhân tố điều kiện lao động: sự khác nhau về điều kiện lao động của các
ngành sẽ dẫn đến tiền lương khác nhau. Ví dụ người lao động làm việc trong các
hầm mỏ có điều kiện làm việc khó khăn, độc hại thì sẽ có tiền lương cao hơn so với
lao động trong những điều kiện tốt hơn.
- Nhân tố Nhà nước: do ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành phụ thuộc vào điều
kiện cụ thể trong từng thời kỳ mà Nhà nước tự ưu tiên nhất định.
17
- Nhân tố phân bổ khu vực sản xuất của mỗi ngành khác nhau, chẳng hạn:
các ngành phân bổ ở những khu vực có đời sống khó khăn, khí hậu, giá cả đắt đỏ thì
tiền lương phải cao hơn các vùng khác để đảm bảo đời sống cho người lao động.
+ Nội dung công tác quản lý tiền lương trong doanh nghiệp.
Bất cứ doanh nghiệp nào khi thực hiện tính lương cho công nhân đều phải
dựa vào một số văn bản, nghị định, quy định của Nhà nước.
- Căn cứ vào Nghị định 26/CP ngày 25/5/1993.
- Căn cứ vào Nghị định của Chính phủ ngày 18/11/1997 về mức lương tối
thiểu số 10.2000.
lương thời gian và tiền lương sản phẩm)
- Các khoản phụ cấp thường xuyên (Các khoản phụ cấp có tính chất tiền
lương) như: phụ học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ, phụ
cấp trách nhiệm,phụ cấp khu vực, phụ cấp dạy nghề, phụ cấp công tác lưu động,
phụ cấp cho những người làm công tác khoa học có tài năng.
- Tiền lương trả CN trong thời gian ngừng sản xuất vỡ cỏc nguyờn nhõn
khỏch quan, thời gian hội họp, nghỉ phộp…
- Tiền lương trả cho công nhân làm ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ
quy định.
c. Để thuận tiện cho công tác hạch toán nói riêng và quản lý nói chung quỹ
tiền lương được chia làm 2 loại tiền lương chính và tiền lương phụ.
Trong đó:
+ Tiền lương chính: là khoản tiền lương trả cho người lao động trong thời
gian họ thực hiện nhiệm vụ chính gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp
(phụ cấp làm đêm, phụ cấp thêm giờ)
+ Tiền lương phụ: là khoản tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
họ thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ như thời gian lao động
nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ lễ, hội họp, học tập, tập dân quân tự vệ, tập phòng cháy
19
chữa cháy và nghỉ ngừng sản xuất vì nguyên nhân khách quan… được hưởng lương
theo chế độ.
Xét về mặt hạch toán, tiền lương chính của công nhân sản xuất thường được
hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền lương phụ của công
nhân sản xuất được hạch toán và phân bổ gián tiếp vào chi phí sản xuất các loại sản
phẩm có liên quan theo tiêu thức phân bổ.
Xét về mặt phân tích hoạt động kinh tế, tiền lương chính thường liên quan
trực tiếp đến sản lượng sản xuất và năng suất lao động, còn tiền lương phụ khác
không liên quan trực tiếp đến sản lượng sản xuất và năng suất lao động và thường là
những khoản nghỉ theo chế độ quy định thể lựa chọn và xây dựng phương án trả
lương của mình.
Được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả
cho công nhân viên trong kỳ.
Theo chế độ hiện hành, hàng tháng doanh nghiệp trích 2% trên tổng số tiền
lương phải trả cho công nhân viên trong tháng và tính vào chi phí sản xuất kinh
doanh. Trong đó 1% đã trích nộp cơ quan công đoàn cấp trên, phần còn lại chi tại
công đoàn cơ sở.
2.1.1.3. Nhiệm vụ kế toán tiền lương.
Người phụ trách tiền lương sẽ phải làm các công việc sau:
- Tổ chức ghi chép phản ánh kịp thời, đầy dủ tình hình hiện có và sự biến
động về số lượng và chất lượng lao động, tình hình sử dụng thời giao lao động và
kết quả lao động.
- Tính toán chính xác, kịp thời chính xác, đúng chính sách chế độ về các trích
theo lương, tiền thưởng, các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động.
- Thực hiện việc kiểm tra tình hình chấp hành các chính sách, chế đọ về lao
động tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và phí công đoàn. Kiểm tra tình
hình sử dụng quỹ tiền lương, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn.
21
- Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương,
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh.
- Lập báo cáo về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ thuộc phạm vi
trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền
lương, BHXH, BHYT, KPCĐ.
2.1.2. Các hình nthức trả lương trong doanh nghiệp
2.1.2.1. Hình thức theo thời gian.
Tùy theo yêu cầu trình độ quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp. Tính
trả lương theo thời gian có thể thực hiện theo 2 cách sau:
a. Hình thức tiền lương thời gian giản đơn:
Là tiền lương được tính theo thời gian làm việc và đơn giá lương thời gian.
Công thức tính:
52 tuần
* Tiền lương ngày: là tiền lương trả cho 1 ngày làm việc và là căm cứ để
tính trợ cấp bảo hiểm xã hội phải trả cho cán bộ công nhân viên, trả lương cho công
nhân viên những ngày hội họp, học tập và lương hợp đồng.
Tiền lương ngày =
Tiền lương tháng
Số ngày làm việc theo chế độ quy định trong tháng
* Các khoản phụ cấp có tính chất lượng.
Tiền lương giờ: là tiền lương trả cho một giờ làm việc, làm căn cứ để tính
phụ cấp làm thêm giờ.
Tiền lương giờ =
Tiền lương ngày
Số giờ làm việc trong ngày theo chế độ (8h)
Tiền lương giờ thường làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm giờ.
* Tiền lương công nhật:
Tiền lương công nhật: là tiền lương tính theo ngày làm việc và mức lương
ngày trả cho người lao động tạm thời chưa xếp vào thang bậc lương.
Mức tiền lương công nhật do người sử dụng lao động và người lao động
thỏa thuận với nhau. Hình thức tiền lương công nhật áp dụng với lao động tạm thời
tuyển dụng.
b. Hình thức tiền lương thời gian có thưởng: là kết hợp giữa hình thức tiền
lương giản đơn với chế độ tiền thưởng trong sản xuất.
Tiền lương thời
=
gian có thưởng
Tiền lương thời gian
+
đơn giản
Tiền lương có tính chất
lương.
gián tiếp
Số lượng sản phẩm hoàn
x thành của công nhân
sản xuất chính
c. Hình thức tiền lương sản phẩm có thưởng.
Thực chất là sự kết hợp giữa hình thức tiền lương sản phẩm với chế độ tiền
thưởng trong sản xuất (thưởng tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động , nâng cao
chất lượng sản phẩm…).
d. Hình thức tiền lương sản phẩm lũy tiến: là hình thức tiền lương trả cho
người lao động gồm: tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp và tiền thưởng tính
theo tỷ lệ lũy tiến, căn cứ vào mức lao động đã quy định.
Lương sản phẩm lũy tiến kích thích mạnh mẽ việc tăng nhanh năng suất lao
động nó áp dụng ở nơi cần thiết phải đẩy mạnh tốc độ sản xuất để đảm bảo sản xuất
cân đối hoặc hoàn thành kịp thời đơn đặt hàng.
Tiền lương
SP lũy tiến
=
Đơn giá
lượng SP
X
Số lượng
SP đã
hoàn
thành
x
Đơn
giá
lượng
SP
x