Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, kiểm toán viên theo định hướng chiến lược phát triển kiểm toán nhà nước đến năm 2020 - Pdf 25

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, KIỂM TOÁN VIÊN
THEO ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐẾN NĂM 2020 CNĐT: ĐOÀN XUÂN TIÊN
9480


công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ”. Từ đó, đòi hỏi KTNN phải xây dựng
đội ngũ công chức, KTV tăng cả về số lượng, chất lượng, đảm bảo cơ
cấu hợp
lý, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, tinh thông
về nghiệp vụ chuyên môn, chuyên nghiệp, tương xứng với yêu cầu của nghề
nghiệp kiểm toán và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Điều đó đòi hỏi phải
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, KTV
của KTNN. Chính vì vậy, việc nghiên cứ
u đề tài “Giải pháp nâng cao chất
lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, kiểm toán viên theo định
hướng Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020” là vấn đề cần thiết và là
yêu cầu đặt ra đối với KTNN trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu chủ yếu sau:
- Đánh giá thực trạng về công tác đ
ào tạo, bồi dưỡng công chức, KTV của
KTNN trong những năm qua, từ đó tìm ra những khó khăn, bất cập và nguyên
nhân làm cơ sở đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.

2

- Định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức,
KTV theo định hướng chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài
- Đề tài tập trung vào nghiên cứu thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức
và KTV của KTNN Việt Nam. Trong đó chủ yếu tập trung vào các giải pháp
nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng KTV.
- Tìm hiể
u thêm kinh nghiệm của một số Bộ, ngành trong đào tạo, bồi
dưỡng công chức; kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng kiểm toán viên nhà nước

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC VÀ
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, KIỂM
TOÁN VIÊN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC THỜI GIAN QUA

1.1. Một số vấn đề chung về đào tạo, bồi dưỡng công chức và chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng công chức.

1.1.1. Vai trò, mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng công chức.
1.1.1.1. Vai trò công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức.
- Đào tạo là việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức
liên quan đến một lĩnh vực cụ thể để người học lĩnh hội và nắm vững những tri
thức kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích
nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nh
ất định. Có
nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn
và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo Trong một số lĩnh vực,
đào tạo bao gồm cả việc huấn luyện, dạy những kỹ năng, phương pháp làm việc,
nghề nghiệp chuyên môn, kỹ năng sống… để ng
ười học thực hiện nhiệm vụ hay
để tồn tại cuộc sống.
- Bồi dưỡng là một hình thức cụ thể của đào tạo, thời gian ngắn, mục đích
bồi dưỡng là giúp người học hiểu biết thêm/bổ sung thêm một số kiến thức, kỹ
năng nào đó trên cơ sở các hiểu biết và kỹ năng mà người học đã có từ
trước. Về
cơ bản, bồi dưỡng thường không giải quyết những kiến thức có tính hàn lâm mà
tập trung bổ sung, đổi mới kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết.
- Đào tạo, bồi dưỡng công chức đóng một vai trò quan trọng trong việc
hình thành nên chất lượng và năng lực đội ngũ công chức nói chung và đội ngũ
công chức trong nhà nước pháp quyền nói riêng. Đào tạo, b
ồi dưỡng cán bộ,

làm việc tốt và có thái độ chuẩn mực đối với công việc của mình.
- Đào tạo theo yêu cầu củ
a từng giai đoạn chức nghiệp: Hoạt động công
vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp, cần tính đến các yêu cầu của từng
giai đoạn chức nghiệp, bắt đầu từ khi tuyển dụng công chức và trong suốt quá
trình công tác của công chức.
- Đào tạo phải theo yêu cầu công việc: đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm
vụ của cơ quan tổ chức; theo cơ cấu công chứ
c, nhóm loại công chức, theo
ngành lĩnh vực; gắn nội dung khóa học, cơ cấu kiến thức với mục tiêu, nhu cầu
đào tạo của cơ quan đơn vị, của người học.
b.2. Yêu cầu về kết cấu chương trình
- Do đào tạo, bồi dưỡng công chức gắn với tình hình thực tiễn thực hiện
nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và cập nhật kiến th
ức mới, nên chương trình đào
tạo, bồi dưỡng yêu cầu được thiết kế gọn, cơ cấu theo chuyên đề hay học phần
(module) nhằm đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực của từng nhóm học
viên, phục vụ thiết thực đòi hỏi của công việc thực tiễn.
- Đa số công chức ở nước ta đã tốt nghiệp đại học, một số
ít có trình độ
trung cấp, cao đẳng. Nhìn chung, đã có những kiến thức chuyên môn cơ bản
nhất định. Đào tạo, bồi dưỡng là khâu nối tiếp của đào tạo đại học, do vậy, đào
tạo, bồi dưỡng công chức có mối quan hệ liên thông với đào tạo đại học, trung
cấp, cao đẳng (sau đây tập trung vào mối quan hệ liên thông với đào tạo đại

5

học). Quá trình đào tạo, bồi dưỡng công chức thường không lặp lại những nội
dung đã được đào tạo đại học.
- Kết cấu chương trình bảo đảm cân đối giữa lý thuyết với thực tiễn, giữa

Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức thể hiện lượng kiến thức, kinh
nghiệm, phương pháp, kỹ năng người học thu nhận đượ
c, nhưng không phải
cung cấp một lúc tất cả các kiến thức đó, mà người ta phải xác định khối lượng
kiến thức theo từng cấp độ để người học dễ tiếp thu và phù hợp với công việc
được giao. Ở đây, việc xác định các cấp độ công việc sẽ quyết định các cấp độ
cung cấp kiến thức, kỹ năng đào tạo, bồi d
ưỡng. Ở nội dung này người ta thường
phân các mức độ công việc từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao.

6

Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng thể hiện mức độ thành thạo kỹ năng thực
hành để thực hiện công việc liên quan trực tiếp đến công việc cụ thể, nghề
nghiệp cụ thể, lĩnh vực cụ thể. Có thể phân việc thực hiện công việc thành
những công việc chỉ do 1 cá nhân làm và những công việc do nhiều người cùng
làm. Trong nhiều trường hợp thì chủ
yếu là công việc do nhiều người cùng làm.
Ở nội dung này, người ta thường phân các mức độ thực hiện công việc từ: thực
hiện một phần công việc (đơn giản, độ phức tạp thấp), tổ chức thực hiện (quy
mô trung bình, độ phức tạp cao hơn), chủ trì tổ chức thực hiện (quy mô lớn, độ
phức tạp cao, hỗn hợp), và tư duy chiến lược (lãnh đạo).
Ch
ất lượng đào tạo, bồi dưỡng thể hiện khả năng hoạt động tư duy của
công chức: hoạt động tư duy là hoạt động riêng có của con người, hoạt động này
cho phép người học, sau khi được đào tạo, bồi dưỡng không chỉ có thể thực hiện
công việc theo mục tiêu đào tạo mà còn có thể tạo ra những giá trị mới ngoài sự
mong đợi.
Thang cấp độ
của tư duy Bloom: (1) Biết; (2) Hiểu; (3) Vận dụng; (4)

được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của cơ quan đơn vị.
1.1.3. Những quy định của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức
1.1.3.1. Những quy định về quản lý
đào tạo, bồi dưỡng công chức
Thực hiện Luật Cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành Nghị định
18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức, trong đó quan điểm về đào
tạo, bồi dưỡng của Đảng và Nhà nước như sau:
Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ
năng theo quy định của từ
ng cấp học, bậc học.
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng
làm việc.
Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động
theo chương trình quy định cho ngạch công chức.
Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang bị
kiến thức, kỹ nă
ng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng
chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng,
phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao.
Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức là trang bị kiến thức, kỹ năng,
phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ; góp phần xây d
ựng đội ngũ công chức
chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.
Chế độ đào tạo, bồi dưỡng:
- Hướng dẫn tập sự đối với công chức trong thời gian tập sự.
- Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức.
- Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý.
- Bồi d
ưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm

3. Loại chương trình, tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành
thực hiện trong thời gian tối đa là 02 tuần, bao gồm:
- Các chương trình, tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chuyên ngành;
- Các chương trình, tài liệu bồi dưỡng cập nhật theo vị trí việc làm.
Yêu cầu đối với việc biên soạn chương trình, tài liệu
- Chương trình, tài liệu được biên so
ạn căn cứ vào tiêu chuẩn của ngạch
công chức, chức vụ lãnh đạo, quản lý và yêu cầu nhiệm vụ.
- Nội dung các chương trình, tài liệu phải bảo đảm kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng thực hành, tính liên thông, không
trùng lặp.
- Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng phải được bổ sung, cập nhật phù
hợp với tình hình thực t
ế.
Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng

9

Đào tạo, bồi dưỡng bằng phương pháp tích cực, phát huy tính tự giác, chủ
động và tư duy sáng tạo của người học; tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức,
kinh nghiệm giữa giảng viên với học viên và giữa các học viên.
1.1.3.2. Những quy định về tổ chức và trách nhiệm các Bộ, ngành về đào tạo,
bồi dưỡng công chức
Các Bộ, ngành có trách nhiệm về tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồ
i
dưỡng công chức như sau:
1) Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ công chức thuộc phạm vi quản lý.
2) Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định; báo cáo kết
quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức hàng năm để Bộ Nội vụ theo dõi,


lý và xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; (ii) định hướng cho các khâu trong
quá trình tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng; (iii) là căn cứ đánh giá chất
lượng, kết quả đào tạo, bồi dưỡng.
Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng phụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế, xác
định mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, bồi d
ưỡng cũng như quá trình tổ
chức thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng đó. Bởi nếu
không xác định được đúng mục tiêu hoặc mục tiêu không phù hợp với yêu cầu
thực tiễn về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng thì công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ
không rõ định hướng và mục tiêu cần đạt tới, từ đó không thể thiế
t kế, xây dựng
chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng phù hợp. Điều đó dẫn đến chất lượng
đào tạo sẽ không đảm bảo.
Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng được xây dựng dựa trên định
hướng từ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng với khả năng, điều kiện của nhà tổ chức
và nhu cầu c
ủa người được đào tạo, bồi dưỡng. Chương trình đào tạo, bồi
dưỡng là cụ thể hóa các nội dung đào tạo, bồi dưỡng được nhà tổ chức đào tạo,
bồi dưỡng lựa chọn để triển khai đào tạo, bồi dưỡng. Do vậy mà nó góp phần
quyết định kết quả và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Nếu chương trình đào t
ạo,
bồi dưỡng không được xây dựng phù hợp với định hướng và yêu cầu mục tiêu
đào tạo, bồi dưỡng thì sẽ không thể có được một chương trình đào tạo, bồi
dưỡng đáp ứng và đảm bảo chất lượng của công tác đào tạo, bồi dưỡng.
1.2.2. Nhóm nhân tố người học/đối tượng đào tạo, bồi dưỡng
Đối tượng đào tạo, b
ồi dưỡng là nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng. Nhóm nhân tố này có thể chia ra các nhân tố ảnh
hưởng cụ thể như: chất lượng đầu vào/hoặc chuyên ngành đó được đào tạo ở

ội dung
chương trình, bài giảng, công tác quản lý Trong đó, trình độ chuyên môn và
phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá kết quả học tập là các nhân tố
nằm trong nhóm nhân tố giảng viên hưởng đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
nói chung và chi phối các nhân tố khác. Phân tích ở góc độ khác, nhân tố giảng
viên còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như: chất lượng, kinh nghiệm thực
tiễn của giảng viên, quá trình học tập, nghiên cứu củ
a giảng viên
Giảng viên là nhân tố đổi mới phương pháp giảng dạy, truyền đạt, cách
hướng dẫn, kèm cặp để nội dung đào tạo, bồi dưỡng được truyền tải tới người
học một cách hiệu quả nhất. Trình độ, kinh nghiệm, phương pháp sư phạm, sự
nhiệt tình, trách nhiệm của giảng viên chính là những yếu tố làm nên chất lượng
đội ngũ giảng viên đồng th
ời cũng chi phối tới chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
Do đó, giảng viên góp phần quyết định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
1.2.4. Nhóm nhân tố quản lý giảng dạy và học tập
Nhóm nhân tố này cũng có vị trí quan trọng trong việc tạo ra chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng tốt giúp cho công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý quy trình
đào tạo và phục vụ đào tạ
o, bồi dưỡng của các bộ phận trong ngành/đơn vị.
Nhóm nhân tố này được chia thành 2 nhóm nhân tố thứ cấp là:
- Các quy chế, quy định và sự quản lý của các bộ phận chức năng:
+ Các quy chế, quy định về việc xây dựng, hoàn thiện, điều chỉnh các quy
chế, quy định đào tạo, bồi dưỡng để quản lý học viên chặt chẽ, phù hợp với mục
tiêu đào tạo
;
+ Việc tổ chức thực hiện đúng các quy chế, quy định cũng như việc giám
sát việc thực hiện các quy chế, quy định.
- Sự quản lý của các bộ phận chức năng bao gồm việc tổ chức quản lý, sự
kiểm tra, kiểm soát, đôn đốc, uốn nắn sự buông lỏng quản lý của các cấp quản

sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Hoạt động kiểm toán của KTNN là
việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài
chính; việc tuân thủ
pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý,
sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Đối tượng kiểm toán của KTNN là
hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
1.3.1.1. Về tổ chức bộ máy
KTNN được tổ chức và quản lý tập trung thống nhất, gồm bộ máy điều
hành, KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực và các đơn vị sự nghiệp.
Sau 18 nă
m thành lập và phát triển, đặc biệt từ khi Luật Kiểm toán nhà
nước ra đời, địa vị pháp lý của cơ quan KTNN đã được nâng cao, bộ máy tổ
chức của KTNN từng bước được củng cố và phát triển theo mô hình quản lý tập
trung, thống nhất. Cơ cấu tổ chức được hoàn thiện theo hướng chuyên môn hoá
theo chuyên ngành hoặc lĩnh vực và thành lập thêm KTNN khu vực để hàng

13

năm kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán
hoạt động các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Từ chỗ ban đầu chỉ có 4
đơn vị kiểm toán chuyên ngành và Văn phòng KTNN, đến nay KTNN đã có trên
1.700 công chức, KTV với cơ cấu tổ chức gồm 30 đơn vị trực thuộc được chia
thành 04 khối (Khối điều hành với 06 Vụ tham mưu; Khối kiểm toán trung ương
với 08 KTNN chuyên ngành; Khối kiểm toán
địa phương gồm 13 KTNN khu
vực; Khối sự nghiệp gồm 03 đơn vị sự nghiệp). Ngoài ra, Văn phòng Đảng -
Đoàn thể là đơn vị chuyên trách thực hiện các công việc chỉ đạo, điều hành của
Ban Cán sự Đảng, Đảng uỷ KTNN, Công đoàn KTNN và Đoàn Thanh niên
KTNN.
Với đặc điểm tổ chức và quản lý tập trung thống nhất toàn ngành, các đơn


14

KH&BDCB. Trung tâm Tin học có trách nhiệm tham gia thực hiện đào tạo, bồi
dưỡng trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Các đơn vị khác trong ngành tùy theo
đặc điểm, chức năng nhiệm vụ của mình thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng
dưới hình thức tập trung toàn ngành hoặc tổ chức tại đơn vị với nội dung, lĩnh
vực khác nhau theo kế hoạch được Tổng Kiểm toán Nhà nước phê duyệt. Do địa
bàn các
đơn vị rải khắp cả nước, chức năng nhiệm vụ trong từng khối, từng đơn
vị khác nhau dẫn đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng khác nhau; hình thức đào tạo,
bồi dưỡng cũng như nội dung, phương pháp, chương trình đào tạo, bồi dưỡng
cũng bị chi phối và khác nhau thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu.
1.3.1.2. Về quản lý đào tạ
o, bồi dưỡng công chức
Vụ Tổ chức cán bộ là đơn vị tham mưu giúp Tổng Kiểm toán Nhà nước
quản lý thống nhất công tác đào tạo, bồi dưỡng toàn ngành; xây dựng và trình
Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành quy chế quản lý, chiến lược, kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng hàng năm, và từng giai đoạn với nhiều năm phát triển; tham mưu
giúp Tổng Kiểm toán Nhà nước lập, phân bổ
kinh phí do ngân sách Nhà nước
cấp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng hàng năm và quản lý, sử dụng, quyết toán
các khoản kinh phí đó; tham gia thẩm định và xét duyệt nội dung chương trình
đào tạo, bồi dưỡng và chương trình bồi dưỡng nâng ngạch KTV; tham mưu
trong việc quyết định cử công chức đi học tập, bồi dưỡng, nghiên cứu, khảo sát
ở trong và ngoài nước; phối hợp với Trung tâm KH&BDCB tổ chức thực hiện
nhi
ệm vụ đào tạo, bồi dưỡng công chức của KTNN theo kế hoạch đã được phê
duyệt.
1.3.1.3. Về thực hiện đào tạo, bồi dưỡng công chức

dưỡng với Vụ Tổ chức cán bộ và Trung tâm KH&BDCB.
1.3.2 Đặc điểm đội ngũ công chứ
c Kiểm toán Nhà nước
1.3.2.1. Đặc điểm về chuyên môn
Kiểm toán là công việc mang tính chuyên môn cao, công tác kiểm toán
đòi hỏi đội ngũ làm nghề phải có trình độ chuyên môn sâu, được đào tạo bài
bản, không ngừng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và trau dồi kỹ năng nghề
nghiệp. Trình độ chuyên môn là yếu tố then chốt, quyết định chất lượng kiểm
toán và cũng là điều kiện cơ bản,
đầu tiên để xem xét tuyển dụng, tiếp nhận công
chức, kiểm toán viên. Chính vì vậy mà tiêu chuẩn bắt buộc để được xem xét
tuyển dụng vào làm KTVNN là phải có trình độ đào tạo từ đại học trở lên.
Trình độ chuyên môn cũng là một trong những yếu tố làm thước đo trình
độ chuyên nghiệp của KTVNN, là tiêu chí đánh giá, phân loại/cấp, phân hạng
KTVNN. Do đó, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giữ vai trò chủ đạ
o,
ảnh hưởng và chi phối đến công tác đào tạo, bồi dưỡng của KTNN.
Để có được đội ngũ tinh thông nghiệp vụ và có đạo đức trong sáng đòi hỏi
công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ phải được thực hiện thường xuyên, liên
tục, có kế hoạch và nội dung phù hợp. Việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn sâu
trên nhiều lĩnh vực đỏi hỏi nội dung, phương pháp đào t
ạo, bồi dưỡng cũng phải
được xây dựng cụ thể, chi tiết đối với từng lĩnh vực kiểm toán và phù hợp đối
với từng nhóm đối tượng học viên. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong từng
thời kỳ, từng năm phải bám sát mục tiêu, nhiệm vụ kiểm toán của ngành thì mới
có thể trang bị cho công chức, KTV kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm công
tác và kỹ năng hành nghề
.
1.3.2.2. Về cơ cấu đội ngũ công chức của KTNN
Trải qua 18 năm thành lập và phát triển, đội ngũ công chức của KTNN đã

b) Về kinh nghiệm công tác: có thể chia đội ngũ công chức KTNN hiện tại
thành 02 nhóm (Nhóm 1 là những công chức hình thành từ những năm đầu
thành lập và chuyển công tác từ đơn vị khác về và Nhóm 2 là công chức được
tuyển dụng qua thi tuyển công chức KTNN).
- Nhóm 1 chủ yếu là những công chức lớn tuổ
i, có kinh nghiệm trong
công tác thực tiễn và được rèn luyện qua thực tế kiểm toán. Đây là bộ phận chủ
lực của KTNN hiện nay. Tuy nhiên, đội ngũ này đa số đã lớn tuổi nên thời gian
công tác không còn nhiều, một số người còn hạn chế về tư duy lý luận, làm việc
theo "lối mòn kinh nghiệm", thiếu tác phong chính quy, khoa học trong công tác.
- Nhóm 2 là lực lượng chiếm đa số trong đội ngũ hiện nay. Trong số này
có khoảng 200 ng
ười là công chức được tuyển dụng qua thi tuyển những năm
đầu mới thành lập KTNN. Số công chức này được đào tạo cơ bản, đến nay cũng
đã có nhiều năm kinh nghiệm qua thực tiễn kiểm toán, đa số họ đã và đang giữ

17

những vị trí chủ chốt, nòng cốt tại các đơn vị, các đoàn kiểm toán. Số còn lại
chiếm số lượng khá lớn (khoảng hơn 800 người tương đương khoảng 50%) là
công chức trẻ mới được tuyển dụng qua thi tuyển 5 năm trở lại đây. Số này có
mặt mạnh là được đào tạo cơ bản các kiến thức mới của nền kinh tế thị trườ
ng,
theo chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của KTNN; có kiến thức về tin học,
ngoại ngữ tốt; có khả năng thích ứng, nắm bắt nhanh với kiến thức hiện đại. Tuy
nhiên, đa số họ còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn trong giao tiếp, ứng xử, xử lý
tình huống và vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế công tác.
c) Về tuổi đời và giới tính: Theo số liệu thống kê của KTNN
đến
31/12/2011 số người trong độ tuổi từ 50 đến 60 (đối với nam) và 50 đến 55 (đối

vào biên chế của cơ quan KTNN phải quan tâm đến trình độ kiến thức và năng
lực trên mức độ trung bình cũng như thực tế nghiệp vụ ở mức thỏa đáng của các

18

ứng viên”. Trong thực tế, KTNN cũng đặt ra tiêu chuẩn tối thiểu đối với ứng
viên tuyển dụng vào ngành đó là phải có bằng đại học trở lên. Ngoài ra, còn phải
có trình độ ở mức trung bình khá về trình độ ngoại ngữ, tin học, hiểu biết chung
về xã hội Yếu tố này vừa là thuận lợi cho việc đào tạo, bồi dưỡng vì mặt bằng
chung về trình độ của học viên đồ
ng đều và ở mức khá cao. Song nó cũng là
thách thức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng vì chương trình và phương pháp
đào tạo, bồi dưỡng như thế nào để có thể nâng cao trình độ cho mọi đối tượng
khi mà trình độ chuyên môn của họ là khác nhau về chuyên ngành và yêu cầu
thực tế của công tác kiểm toán khác xa so với kiến thức lý thuyết mà học viên có
được từ trường đại học.
Cũng theo tuyên bố Lima “Cần quan tâm ở m
ức cao nhất đến việc bồi
dưỡng lý luận và thực tế nghiệp vụ trên bình diện nội bộ, đại học và quốc tế cho
tất cả các công chức kiểm toán của cơ quan KTNN và khuyến khích công việc
đó bằng mọi phương tiện, kể cả mặt tài chính và tổ chức. Việc bồi dưỡng phải
vượt ra khỏi những kiến thức kế toán và kiến thức truyền th
ống về luật, kinh tế
và phải bao gồm cả các kỹ thuật khác về kinh tế xí nghiệp, kể cả về xử lý dữ liệu
bằng máy vi tính”. Điều đó có nghĩa là đòi hỏi của nghề kiểm toán đối với người
làm nghề là không những phải tinh thông nghiệp vụ mà còn phải có kỹ năng xử
lý nghiệp vụ, có hiểu biết sâu, rộng về nhiều lĩnh vự
c và cơ quan KTNN là nơi
trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng đó một cách thường xuyên, liên tục,
thích hợp nhất.

người có kinh nghiệm công tác đối với người ít kinh nghiệm hơn được phát huy
hiệu quả nếu sự bố trí nhân sự trong các tổ, đoàn kiểm toán kết hợp được với kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng KTV.
(4) Với chức năng, nhiệm vụ đượ
c giao, địa bàn hoạt động của KTNN trải
rộng khắp cả nước và thời gian thực hiện các cuộc kiểm toán thường kéo dài từ
40 đến 70 ngày. KTV thường xuyên phải công tác xa nhà, xa trụ sở cơ quan.
Đặc thù công tác này ảnh hưởng, chi phối và gây khó khăn nhiều tới công tác tổ
chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đặc biệt là việc lập kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng (tậ
p trung). Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm phải xây dựng trên cơ
sở phụ thuộc vào kế hoạch công tác kiểm toán năm và thường tập trung từ tháng
12 năm trước đến tháng 3 năm sau, đó là khoảng thời gian mà KTNN không tổ
chức các đoàn đi kiểm toán. Điều này trên thực tế triển khai thực hiện đào tạo,
bồi dưỡng những năm qua cho thấy thường bị
động và chồng chéo, trùng với kế
hoạch kiểm toán nên ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
(5) Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, đòi hỏi của Đảng, Nhà nước
và công chúng ngày càng cao đối với chất lượng kiểm toán và vai trò của KTNN
trong việc kiểm soát nền tài chính quốc gia. Định hướng phát triển KTNN đã
xác định mục tiêu, tầm nhìn của ngành trong những năm tới và cũ
ng đã xác định
được nhiệm vụ kiểm toán, loại hình kiểm toán cần phải thay đổi, mở rộng cho
phù hợp. Những năm qua KTNN mới chỉ thực hiện kiểm toán theo loại hình
kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính. Tới đây, KTNN sẽ triển khai
kiểm toán thêm loại hình kiểm toán hoạt động và kiểm toán chuyên đề và tiến
tới sẽ tập trung vào các loại hình kiểm toán mới này. Điều đó đòi hỏi công tác
đào tạo, bồi dưỡng phải đi trước một bước trong việc trang bị kiến thức và kỹ
năng thực hiện các loại hình kiểm toán đó cho KTV. Đây chính là sức ép buộc
công tác đào tạo, bồi dưỡng của KTNN phải thay đổi, thay đổi ngay từ định

n đấu học hỏi
và giữ được nghề.
Các giá trị về đạo đức nghề nghiệp và thái độ chuyên nghiệp cần có của
KTV cũng là sự khác biệt được coi trọng. Những qui định về cập nhật kiến thức
và phương pháp đánh giá trình độ KTV tại các kỳ thi nghiệp vụ được đánh giá là
đặc biệt so khắt khe so với nghề khác.
1.3.4.2. Đào tạo, bồi dưỡng kiểm toán viên nhà nướ
c - phải bảo đảm kiến thức
theo từng cấp độ công việc, kết hợp lý luận với thực tiễn, kiến thức, kinh nghiệm
và kỹ năng kiểm toán và đào tạo trên công việc là yêu cầu cần thiết
KTV của KTNN có chuyên môn nghiệp vụ khác nhau nên cần được đào
tạo, bồi dưỡng chuyên sâu trên từng lĩnh vực. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đào
tạo, bồi dưỡng đố
i với KTV cần xác định được tiêu chuẩn đối với từng ngạch
KTV về trình độ, kinh nghiệm chuyên môn cũng như yêu cầu về sự tinh thông
nghiệp vụ trong lĩnh vực chuyên môn được đào tạo để có tiêu chí phân loại cũng
như xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cụ thể, phù hợp đối với
từng cá nhân, nhóm đối tượng có cùng nhu cầu đào tạo.

21

Kinh nghiệm công tác và sự hiểu biết xã hội là điều kiện để KTV thực hiện
nhiệm vụ, do đó yêu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng KTV của KTNN là
phải trang bị cho KTV những kiến thức đa dạng như: thường xuyên cập nhật, bổ
sung kiến thức mới; bồi dưỡng chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp; đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao lý luận chính tr
ị, kiến thức quản lý hành chính nhà nước, đạo đức
nghề nghiệp; tự trọng nghề nghiệp; ứng xử nghề nghiệp theo chuẩn mực, quy
trình, phương pháp và kỹ năng chuyên môn kiểm toán.
1.3.4.3. Đào tạo các kỹ năng làm vệc và bảo đảm tính chuyên nghiệp trong thực


22

thể của từng ngạch KTVNN là Kiểm toán viên dự bị; Kiểm toán viên; Kiểm
toán viên chính và Kiểm toán viên cao cấp.
Khoản 14 Điều 15 Luật Kiểm toán nhà nước quy định KTNN có nhiệm
vụ “Tổ chức thi và cấp chứng chỉ Kiểm toán viên nhà nước”. Tổng Kiểm toán
Nhà nước đã ban hành Quyết định số 01/2007/QĐ-KTNN ngày 21/5/2007 về
Quy chế thi, cấp Chứng chỉ Kiểm toán viên Nhà nước. Chương trình thi cấp
Chứng chỉ KTVNN gồm 07 môn,
được thiết kế làm cơ sở cho việc đào tạo đội
ngũ KTVNN đạt tiêu chuẩn về tri thức, chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm
thực hành nghề nghiệp, có khả năng ngoại ngữ để giao tiếp, sử dụng thành thạo
phương tiện tin học, cụ thể 07 môn sau:
1. Luật kinh tế
2. Quản lý tài chính
3. Kế toán
4. Kiểm toán
5. Phân tích tài chính
6. Tin học (trình
độ B)
7. Ngoại ngữ: tiếng Anh (trình độ B)
Như vậy, công chức, KTV được tuyển dụng vào KTNN đều phải tham dự
khoá đào tạo cơ bản do KTNN tiến hành (sinh viên được tuyển dụng sẽ tập sự
trong 12 tháng có sự hướng dẫn của 01 công chức có kinh nghiệm và sẽ học để
được cấp chứng chỉ bồi dưỡng KTV dự bị, KTV. Thời gian của 02 khóa học là
05 tháng. Những công chức
được tuyển dụng từ các cơ quan khác phải học trong
thời gian 2,5 tháng để được cấp chứng chỉ bồi dưỡng KTV sau đó tham gia Kỳ
thi cấp Chứng chỉ KTVNN (chứng chỉ chuyên môn) để được công nhận là

(6) Thống kê và báo cáo về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
trong toàn ngành.
(7) Tham mưu giúp Tổng Kiểm toán Nhà nước lập và phân bổ kinh phí do
ngân sách Nhà nước cấp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
hàng năm; quản lý, sử dụng, quyết toán các khoản kinh phí nói trên”.
Từ ngày 01/01/2009, Vụ Tổ ch
ức cán bộ thực hiện theo mô hình cấp phòng
trong Vụ (Theo Quyết định số 1566/QĐ-KTNN ngày 30/12/2008 của Tổng
Kiểm toán Nhà nước), nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng công chức của Vụ Tổ chức
cán bộ được giao cho Phòng Đào tạo.
- Thực hiện Luật KTNN, ngày 02/8/2006, Tổng Kiểm toán Nhà nước ban
hành Quyết định số 609/QĐ-KTNN quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ
chức của Trung tâm KH&BDCB, trong đó giao cho Trung tâm
KH&BDCB nhiệm vụ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức KTNN như sau:
(1) Tham gia xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dài
hạn, trung hạn và hàng năm của KTNN;
(2) Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức do Tổng Kiểm toán Nhà nước phê duyệt;
(3) Tổ chức biên soạ
n tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa, phục vụ đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của KTNN;

24

(4) Trực tiếp đảm nhận một phần khối lượng giảng dạy các lớp học của
KTNN;
(5) Tổ chức các lớp bồi dưỡng thi tuyển công chức, các lớp bồi dưỡng thi
nâng ngạch và thi cấp Chứng chỉ KTVNN theo quy định của pháp luật và của
Tổng Kiểm toán Nhà nước;

ức đảm nhiệm. Năm
2009, thành lập Phòng Đào tạo thuộc Vụ Tổ chức cán bộ với biên chế 03 công
chức (01 Trưởng phòng, 01 Phó Trưởng phòng, 01 chuyên viên). Đến tháng
10/2010, phòng được bổ sung thêm 02 chuyên viên mới được tuyển dụng. Trình
độ chuyên môn của công chức trong Phòng như sau: về chuyên môn (01 tiến sỹ,

Trích đoạn Cỏc giải phỏp liờn quan đến hoàn thiện mục tiờu, nội dung chương trỡnh đào tạo, bồi dưỡng Ngạch Kiểm toỏn viờn dự bị Ngạch Kiểm toỏn viờn Cỏc giải phỏp về tổ chức và quản lý đào tạo, bồi dưỡng cụng chức, kiểm toỏn viờn Giải phỏp liờn quan đến phương phỏp đào tạo, bồi dưỡng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status