bài dự thi trình bày hiểu biết ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý chỉ đạo điều hành của đơn vị - Pdf 25

Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tại đơn vị

Trường Tiểu học Trần Văn Ơn
0

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN VĂN ƠN
BÀI DỰ THI

TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT, ỨNG DỤNG KHOA HỌC
TƯ DUY HỆ THỐNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ,
CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA ĐƠN VỊ


Trước tiên ta cần hiểu tư duy hệ thống là gì?
Tư duy hệ thống cung cấp một viễn cảnh mới mạnh mẽ, một ngôn ngữ
riêng và một tập các công cụ có thể dùng để đề cập tới những vấn đề hóc búa
nhất trong cuộc sống và công việc thường ngày. Tư duy hệ thống là cách hiểu
thực tế nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các phần của hệ thống, thay vì chỉ bản
thân các bộ phận. Dựa trên lĩnh vực nghiên cứu có tên là tính năng động hệ
thống, tư duy hệ thống có giá trị thực tế dựa trên nền tảng lý thuyết chắc chắn.
Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tại đơn vị

Trường Tiểu học Trần Văn Ơn
2
Tư duy hệ thống bao gồm bốn thành phần:
Tư duy theo mô hình: hiểu tường minh việc mô hình hóa.
Tư duy theo mô hình cũng chứa đựng khả năng xây dựng mô hình. Mô
hình phải được xây dựng, làm hợp lệ và phát triển thêm nữa. Khả năng xây dựng
mô hình và phân tích mô hình phụ thuộc một phần lớn vào công cụ sẵn có để mô
tả mô hình. Chọn một dạng biểu diễn thích hợp (như biểu đồ chu trình nhân quả,
biểu đồ kho là luồng, phương trình) là điểm mấu chốt của tư duy hệ thống.
Tư duy theo tương quan: tư duy theo cấu trúc hệ thống, tương quan.
Nền tảng của cách tư duy này là phác họa chính xác giữa nguyên nhân và
hậu quả. Để giải thích một hiện tượng chúng ta phải tìm “nguyên nhân” của nó
(có lẽ là một). Người ta giả thiết rằng nguyên nhân này tồn tại và hậu quả bao
giờ cũng có thể được quan sát bất kỳ khi nào nguyên nhân hợp thức. Những từ
và cụm từ như “vì”, “do vậy”, “nếu – thì” ký hiệu cho quan niệm tư duy như vậy
trong ngôn ngữ hàng ngày. Điều tương tự về toán học là khái niệm hàm với một
biến độc lập (= “nguyên nhân”) và một biến phụ thuộc (= “hậu quả”). Tương
phản với cách tư duy này trong mối quan hệ nhân quả, có thể được gọi là tư duy
chức năng hay tư duy tuyến tính – là tư duy theo tương quan.
Tư duy động tư duy theo các tiến trình động (trễ, chu trình phản hồi, dao động).
Hệ thống có hành vi nào đó qua thời gian. Tính trễ và dao động thời gian

để sinh ra ý tưởng về sàn phẩm và tính năng mới cho tổ chức. Tất cả mọi bộ
phận của tổ chức đều phải hiện diện để tổ chức thực thi mục đích của nó được
tối ưu. Ví dụ: hệ thống nghiên cứu và phát triển trong tổ chức của bạn bao gồm
con người, thiết bị và quy trình.
Hệ thống thay đổi trong khi đáp ứng với phản hồi. Từ phản hồi giữ vai trò
trung tâm trong tư duy hệ thống. Phản hồi là thông tin quay trở lại nguồn phát
của nó để gây ảnh hưởng tới hành động tiếp theo của nơi phát.
Hệ thống duy trì sự ổn định của chúng bằng việc điều chỉnh dựa trên phản
hồi. Ví dụ: nhiệt độ thân thể bạn nói chung lơ lửng quanh 98,60 Fahrenheit (370
Celcius). Nếu bạn bị quá nóng, thân thể bạn sẽ tạo ra mồ hôi, làm lạnh bạn.
Tư duy hệ thống như một viễn cảnh: Biến cố, hình mẫu, hay hệ thống?
Tư duy hệ thống là một viễn cảnh vì nó giúp chúng ta thấy các biến cố và
hình mẫu trong cuộc của mình dưới ánh sáng mới và đáp ứng lại chúng theo
cách mang tính đòn bẩy cao.
Tư duy hệ thống như một ngôn ngữ đặc biệt
Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tại đơn vị

Trường Tiểu học Trần Văn Ơn
4
Như một ngôn ngữ, tư duy hệ thống có phẩm chất duy nhất giúp bạn trao đổi
với người khác về nhiều hệ thống xung quanh và bên trong chúng ta:
Nó nhấn mạnh vào cái toàn thể hơn là các bộ phận, và nhấn mạnh vào vai
trò của mối tương hỗ – kể cả vai trò chúng ta giữ trong hệ thống tại công việc
trong cuộc sống chung ta.
Nó chưa thuật ngữ đặc biệt mô tả hành vi hệ thống, như tiến trình củng cố
(luồng phản hồi sinh ra sự tăng trưởng hàm mũ hay sự co lại) và tiến trình cân bằng
(luồng phản hồi điều khiển thay đổi và giúp cho bệ thống duy trì tính ổn định).
Tư duy hệ thống như một tập các công cụ
Lĩnh vực tư duy hệ thống đã phát sinh ra một phạm vi rộng các công cụ để
cho bạn mô tả về mặt đồ họa hiểu biết của bạn về cấu trúc và hành vi của hệ

nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu.
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể
giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt
nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống.
Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo - quản lý,
những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan hơn.
Những vấn đề trên đã và đang đặt ra những yêu cầu, những nội dung rất
mới, rất cao về nguồn lực con người, với những giá trị xã hội mới, tiêu chí mới
về phẩm chất và năng lực của mỗi con người và cả cộng đồng (như năng lực hợp
tác, cạnh tranh; năng lực làm chủ - ứng dụng và sáng tạo khoa học và công nghệ
cao; năng lực kết nối cộng đồng …). Tất cả những giá trị mới nêu trên tất yếu
đặt ra những yêu cầu mới về nhận thức, quan điểm, mục tiêu, cơ chế phát triển
giáo dục; về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục; đòi hỏi phải đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục.
Từ những nhận thức về tầm quan trọng của khoa học tư duy hệ thống; từ
những nhận thức về tầm quan trọng của công cuộc đổi mới giáo dục. Trường
tiểu học Trần Văn Ơn trong những năm gần đây đã không ngừng đổi mới nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, tập trung vào các mặt: xây dựng đội ngũ, tăng
cường cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, thu hút đầu vào và đổi mới công tác
quản lý. Trong đó công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành giữ vai trò quan trọng,
quyết định sự phát triển của nhà trường.
Để đạt được kết quả chất lượng giáo dục cao, nhà trường đã đề ra những
phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh
(HS) cụ thể, các điều kiện học tập cụ thể. Ban giám hiệu (BGH) đã có kế hoạch
Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tại đơn vị

Trường Tiểu học Trần Văn Ơn
6
tổ chức thực hiện, chỉ đạo tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường nhịp
nhàng, hợp lý. Hay nói cách khác là phải điều hành các hoạt động trong hệ

Trường Tiểu học Trần Văn Ơn
7
Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác đầu tư, quản lý cơ sở
vật chất (CSVC) đã góp phần lớn trong sự phát triển chung của nhà trường.
Bắt đầu từ năm học 2009 - 2010 đến thời điểm hiện tại, cơ sở vật chất của
nhà trường đã được đầu tư mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu của trường chuẩn quốc gia
mức độ II và trường đạt kiểm định mức độ III. Để có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện
đại phục vụ tốt nhất cho công tác giảng dạy trong nhà trường, lãnh đạo nhà
trường đã rất linh hoạt trong việc tranh thủ sự ủng hộ của các cấp, các ngành và
nhân dân địa phương. Các nguồn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất chủ
yếu là sự đầu tư của cấp trên và sự ủng hộ từ phụ huynh học sinh (công tác xã
hội hóa giáo dục), cụ thể:
Nguồn kinh phí của ngân sách cấp cho nhà trường:
Năm học Số tiền ( VNĐ )
2010 - 2011 3.000.810.000
2011 - 2012 6.230.000.000
2012 - 2013 702.000.000
Kinh phí huy động từ PHHS ủng hộ :
- Tiền ủng hộ của PHHS đầu vào lớp 1:
Năm học Số tiền ( VNĐ ) Mua CSVC
2010 - 2011 69.600.000 80 nồi cơm điện, 80 bàn 350 ghế, bát ăn cơm
2011 - 2012 167.800.000 32 bộ bàn ghế học sinh, 20 chăn lông, tủ cơm
2012 - 2013 306.800.000 đệm nằm cho HS bán trú, 32 bộ bàn ghế, 5 tủ
đựng chăn cho HS bán trú.
- Tiền ủng hộ của PHHS xây nhà vệ sinh cho học sinh: 123.500.000đ
- CSVC phụ huynh mua tặng nhà trường
Năm học CSVC phụ huynh tặng
Số tiền
( VNĐ )
Tổng

Như vậy việc huy động đầu tư cho phát triển CSVC của nhà trường được
thể hiện qua các năm học như sau:

Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong quản lý, chỉ đạo đổi mới
phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục trong nhà trường.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp giảng dạy (của GV) và
phương pháp học tập (của HS) đều lấy HS làm trung tâm. Khi đã có hệ thống cơ
sở vật chất tốt đáp ứng việc dạy và học nhà trường quan tâm đến việc đổi mới
Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tại đơn vị

Trường Tiểu học Trần Văn Ơn
9
phương pháp dạy học như: UDCNTT trong dạy học, sử dụng trang thiết bị dạy
học hiện đại ( máy soi, máy chiếu, bảng dạy học tương tác ). Giáo viên thiết kế
giáo án điện tử E- learning, thiết kế các phần mềm, tư liệu dạy học. Việc đầu tư
cơ sở vật chất tác động đến việc đổi mới phương pháp dạy học. Từ việc phương
pháp dạy học được đổi mới, chất lượng giảng dạy của giáo viên nâng lên, gây
hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập và như thế chất lượng giáo dục
được nâng cao.
Đổi mới kiểm tra, đánh giá: Coi trọng việc phân tích kết quả kiểm tra, qua
đó giúp GV điều chỉnh hoạt động giảng dạy, giúp HS biết tự đánh giá kết quả
học tập để phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu trong học tập; các cấp quản
lý trong nhà trường điều chỉnh, bổ sung công tác chỉ đạo dạy học, kiểm tra đánh
giá một cách kịp thời. Bồi dưỡng GV về kĩ năng ra đề dưới nhiều hình thức bám
sát chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình với 3 cấp độ: Biết, thông hiểu, vận
dụng sáng tạo. Kiểm tra đánh giá không chỉ cho điểm mà phải có nhận xét, lời
phê (liên quan đến kiến thức, đạo đức của HS)
Thường xuyên đổi mới công tác thi đua, khen thưởng
Việc ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong các lĩnh vực quản lý,

Tóm lại: Trong những năm qua nhờ tư duy có hệ thống, phương thức
quản lý hiệu quả nhà trường đã có những bước phát triển đột phá toàn diện. Các
thành tích đạt được trong nhưng năm gần đây cụ thể: Chất lượng đội ngũ ngày
một cao (tỷ lệ GV đạt chuẩn và trên chuẩn là 100% ); GV tham gia thi GVdạy
giỏi các cấp các năm đạt:

Đặc biệt, năm học 2012-2013, đồng chí Hiệu trưởng Trần Thị Kim Thanh
đã được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng bằng Lao động sáng tạo. Điều
đó khẳng định sự lãnh đạo, quản lý của thủ trưởng đơn vị là sáng suốt, nhạy bén
và việc ứng dụng khoa học tư duy hệ thống vào công tác quản lý thực sự đạt
hiệu quả cao.
Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tại đơn vị

Trường Tiểu học Trần Văn Ơn
11
Chất lượng 2 mặt giáo dục năm học sau cao hơn năm học trước (Tỉ lệ HS lên
lớp là 100%, trong đó tỷ lệ học sinh Khá giỏi đạt 80% trở lên; Học sinh
HTCTTH đạt 100%.
Chất lượng HSG các cấp tăng từ 38 giải lên 78 giải, cụ thể:

Sự phát triển của nhà trường trong 3 năm học, từ năm học 2010-2011 đến
năm học 2012- 2013 đều được đánh giá ở mức độ cao nhất, thể hiện như sau:
Từ sự phát triển đột phá trên, nhà trường đã được đón nhiều đoàn kiểm tra
các cấp về mọi hoạt động và được đánh giá cao. Trường Tiểu học Trần Văn Ơn
đã trở thành địa chỉ tin cậy của các bậc phụ huynh và các cấp chính quyền địa
phương.
Sự đầu tư đúng hướng vào các lĩnh vực quản lý, cơ sở vật chất, phương
pháp dạy học, thi đua- khen thưởng đã tác động tới chất lượng giáo viên, học
sinh, chất lượng giáo dục dẫn đến sự phát triển bền vững của nhà trường. Việc
Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tại đơn vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status