BÀI XÃ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - Pdf 25

Họ và tên:
Nghề nghiệp:
Chức vụ:
Cấp bậc:
Nơi công tác:

BÀI XÃ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Ngày nay trên phạm vi toàn cầu, môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm trầm trọng. Đó là một trong
những vấn đề toàn cầu của thế giới hiện nay; nó có tác động trực tiếp đến mọi quốc gia, vùng lãnh thổ,
đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam của chúng ta. Ô nhiễm môi trường đã đang
và sẽ là một vấn đề hết sức cấp bách, gây bức xúc trong cộng động quốc tế. Tình trạng ô nhiễm môi
trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra ngày càng trầm trọng, đe
doạ đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của thế hệ hiện tại và tương lai. Để
giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường đòi hỏi phải có sự hợp tác của toàn nhân loại. Nếu có sự hiểu biết
đúng đắn về môi trường, chúng ta sẽ có giải pháp hợp lý giúp chúng ta bảo vệ môi trường thế giới ngày
càng xanh, sạch đẹp.
Trong bài xã luận này, tôi sẽ cố gắng phân tích, tổng hợp từ những hiểu của mình để phần nào nâng
cao tinh thần bảo vệ môi trường đối với mọi người. Trước hết, tôi sẽ đề cập về một số khái niệm cơ bản
về môi trường, kế tiếp sẽ nêu lên thực trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta trên các phương diện: ô nhiễm
môi trường đất, nước và không khí. Đồng thời, phân tích một số nguyên nhân khách quan và nguyên nhân
chủ quan dẫn tới sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như hiện nay. Tiếp theo tôi sẽ nêu ra một số hậu
quả mà ô nhiễm môi trường đem lại đối với đời sống con người và môi trường sinh thái. Cuối cùng tôi xin
đề xuất, luận chứng một hệ thống các giải pháp nhằm ngăn chặn hiệu quả những hành vi gây ô nhiễm môi
trường, hướng tới cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sống của chúng ta.
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao
quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn
của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển
cả, không khí, động, thực vật, đất, nước.
Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. Môi trường là nơi cung cấp tài

bao gồm 3 loại chủ yếu là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trong ba loại ô nhiễm đó ở
nước ta thì tình trạng ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng
nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.
Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị lớn, tình
trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động. Đó là các ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế,
không khí, tiếng ồn Những năm gần đây, sự mở rộng và phát triển của các đô thị tăng nhanh khiến hệ
thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng. Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ
và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không có bất kỳ một biện pháp xử lý nào
ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp. Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các
thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét khối nước thải
độc hại; các phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi, khí độc.
Với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay
thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, ô nhiễm đất xuất phát từ việc lạm dụng nhiều hóa chất và tập quán bón
phân thiếu khoa học. Áp lực tăng dân số đòi hỏi nhu cầu tăng lương thực, thực phẩm ngày càng tăng và
phải tăng cường khai thác độ phì nhiêu của đất bằng nhiều biện pháp như tăng cường sử dụng hóa chất đã
làm cho đất nhanh chóng bạc màu. Ngoài ra, các loại hóa chất bảo vệ thực vật thường là những hóa chất
độc, khả năng tồn lưu lâu trong đất, tác động vào môi trường đất, sau đó đến sản phẩm nông nghiệp, đến
động vật và người, theo kiểu tích tụ, ăn sâu và bào mòn. Do việc sử dụng, bảo quản chưa đúng quy định
nên đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và nông sản gây nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Việc đẩy mạnh đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường đất ở
Việt Nam. Hiện nay nhiều nguồn nước thải ở các đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề tái chế kim
loại, chứa các kim loại nặng độc hại như :Cd, As, Cr, Cu, Zn, Ni, Pb và Hg. Một diện tích đáng kể đất
nông nghiệp ven đô thị, khu công nghiệp và làng nghề đã bị ô nhiễm kim loại nặng
Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước
và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở tại các thành phố lớn, nước thải sinh hoạt
không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác,
còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ
thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những

khí đô thị. Nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu là phương tiện giao thông cá nhân như ôtô, xe máy.
Thành phố Hà Nội có tỷ lệ sử dụng phương tiện công cộng thấp nhất châu Á, với 4 triệu phương tiện cá
nhân, nguyên nhân chính của việc thường xuyên tắc đường và sự ô nhiễm nghiêm trọng trong thành phố.
Các hoạt động sinh hoạt hàng ngày cũng là nguồn gây ô nhiễm, chủ yếu là các hoạt động đun nấu
sử dụng nhiên liệu nhưng đặc biệt gây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài hộ xung quanh.
Ngoài ra, hoạt động xây dựng sửa chữa công trình cùng với đường sá mất vệ sinh cũng trở thành nguyên
nhân không nhỏ ảnh hưởng xấu đến chất lượng không khí đô thị hiện nay.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nêu trên có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau,
song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau:
Đầu tiên, người dân còn tỏ ra thờ ơ thiếu tinh thần hợp tác với Nhà nước trong việc bảo vệ môi
trường mà đặc biệt là các bạn trẻ. Nhiều người nghĩ rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để
làm hại môi trường. Một số người khác lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước,
của chính quyền mà không phải là của mình. Số khác lại nghĩ rằng việc ô nhiễm môi trường không ảnh
hưởng gì tới mình nhiều Việc phá hoại môi trường của một người tuy chỉ ảnh hưởng nhỏ nhưng tập hợp
nhiều người lại là lớn. Trách nhiệm bảo vệ môi trường tuy cũng có một phần là của nhà nước nhưng đa
phần lại là của người dân. Và những việc chúng ta làm đối với môi trường, tuy hiện giờ ta chưa thấy
được, nhưng về lâu về dài nó sẽ ảnh hưởng tới ta ít nhiều.
Một nguyên nhân khác gây ra ô nhiễm môi trường chính là sự thiếu trách nhiệm của các doanh
nghiệp. Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác,
góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường. Các chế tài về xử lý hành chính lẫn truy cứu trách nhiệm hình
sự của Nhà nước đều không đủ sức răn đe hành vi vi phạm về môi trường của các doanh nghiệp. Do đó,
tình trạng tái vi phạm, thậm chí với mức độ trầm trọng hơn, thường xuyên diễn ra.
Những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực
hiện của các cơ quan chức năng. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đã có khoảng 300 văn bản pháp luật về
bảo vệ môi trường được ban hành để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế,
các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này
3
vẫn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được
ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến. Từ đó, làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành
vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế trong việc bảo vệ môi trường. Công tác thanh tra,

trầm trọng do lượng nước sạch bị ô nhiễm ngày một nhiều…
Để có một sự phát triển bền vững cần phải có một chương trình hành động thống nhất và có thể bổ
sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển sản xuất với công tác bảo vệ và kiểm soát môi trường. Nếu không có
một chính sách đúng đắn về bảo vệ môi trường, nền kinh tế sẽ bị thiệt hại trước mắt cũng như lâu dài.
Chính vì vậy mà bảo vệ môi trường sinh thái là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cả hệ thống chính
trị, các cấp, các ngành chức năng và cộng đồng. Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề quan trọng
được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển chung về kinh tế xã hội trong giai
đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Để ngăn chặn, khắc phục và xử lý có hiệu quả những hành vi gây ô nhiễm môi trường, tôi xin đề
xuất một số giải pháp sau đây:
Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường với những chế tài đủ mạnh, bao gồm
cưỡng chế hành chính và xử lý hình sự tuỳ theo mức độ vi phạm, đảm bảo tính nghiêm minh và đủ sức
răn đe. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý môi trường trong các nhà máy, các khu công
nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế; đồng thời, tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt
đẹp và thân thiện hơn với con người.
Hai là, tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường (thường
xuyên, định kỳ, đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh
tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời,
triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân. Đồng thời, cần nâng cao năng
4
lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường; trang bị các phương
tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ có hiệu quả hoạt động của các lực lượng này.
Ba là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề, các
đô thị, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có
chính sách phù hợp. Đối với các khu công nghiệp, cần bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng
hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, đồng thời thường
xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lý nước thải, rác thải tại đó.
Bốn là, chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối
với các dự án đầu tư; trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền
xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư. Việc quyết định các dự án đầu tư cần được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status