ĐỀ BÀI 21: VẤN ĐỀ HỆ THỐNG HOÁ PHÁP LUẬT
NƯỚC TA HIỆN NAY.
TRẢ LỜI
Việc nghiên cứu về hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống hoá pháp
luật Việt Nam nói riêng là một trong những mặt hoạt động cơ bản đặc thù của
nhà nước. Việc ban hành được các văn bản qui phạm pháp luật phản ánh
đúng những nhu cầu khách quan của toàn xã hội. Cần được điều chỉnh bằng
pháp luật là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của
quản lý nhà nước. Hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam là một trong những công việc khó khăn và phức tạp, đòi hỏi yếu tố,
nhiều điều kiện trước hết là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và những
người được trao nhiệm vụ xây dựng pháp luật phải có đủ năng lực khách
quan. Công bằng thực hiện nhiệm vụ cao cả được trao. Để hệ thống pháp luật
Việt Nam được các mục tiêu toàn diện, đồng bộ, khoa học. Có tính khả thi
cao có tính công bằng, dân chủ và văn minh.
I. Hệ thống pháp luật.
Bất cứ nhà nước nào muốn kiểm soát và quản lý xã hội một cách linh
hoạt thì phải ban hành các quy phạm pháp luật. Các quy phạm pháp luật đó
không tách rời nhau mà liên kết với nhau chặt chẽ và được sắp xếp trật tự nhất
định trong một chỉnh thể thống nhất được gọi là hệ thống pháp luật.
1. Khái niệm: Vậy hệ thống pháp luật là toàn bộ các qui phạm pháp
luật trong đó các quy phạm pháp luật được chia thành từng nhóm lớn (gọi là
các ngành luật) để điều chỉnh những lĩnh vực quan hệ xã hội cơ bản và mỗi
nhóm lớn quy phạm pháp luật lại được chia thành từng nhóm nhỏ (gọi là các
chế định pháp luật) để điều tiết các bộ phận cấu thành lĩnh vực quan hệ xã
hội mà nhóm lớn quy phạm pháp luật điều chỉnh. Từ cách hiểu này, hệ thống
pháp luật còn được định nghĩa là hệ thống các ngành luật mà mỗi ngành luật
bao gồm các chế định pháp luật và mỗi chế định pháp luật được cấu tạo từ các
1
qui phạm pháp luật. Như vậy có ba yếu tố cấu thành nên hệ thống pháp luật là
ngành luật chế định pháp luật và quy phạm pháp luật.
thống hoá pháp luật là làm cho pháp luật trở nên có hệ thống, hệ thống hoá
pháp luật có thể được tiến hành theo nhiều cách thức khác nhau tùy theo mục
đích của người hệ thống hoá. Song dù ở cách nào thì người hệ thống cũng
phải thu thập, sắp xếp các quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định, làm
chúng có hệ thống. Vậy có thể hiểu hệ thống hoá pháp luật là thu thập, sắp
xếp các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật
tự nhất định nhằm đạt được những mục đích đã đề ra.
2. Ý nghĩa hệ thống hoá pháp luật.
Công tác hệ thống hoá pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có sự nhìn nhận tổng quát, đối với pháp
luật hiện hành, rà soát phát hiện những điểm không phù hợp, mâu thuẫn,
chồng chéo và những lỗ hổng của hệ thống hoá pháp luật để từ đó có biện
pháp khắc phục và hoàn thiện.
Ngoài ra hệ thống hoá pháp luật phục vụ trực tiếp cho việc giáo dục
nâng cao ý thức pháp luật, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của mọi chủ thể
pháp luật. Đối với hoạt động bảo vệ pháp luật thì điều đó càng quan trọng, sự
sắp xếp có trình tự và hệ thống những quy phạm cần thiết, làm sáng tỏ tư
tưởng và nội dung của chúng để áp dụng một cách đúng đắn, chính xác.
3. Mục đích của hệ thống hoá pháp luật.
Việc hệ thống hoá pháp luật có thể nhằm các mục đích khác nhau,
trong quá trình xây dựng pháp luật việc hệ thống hoá pháp luật ngày càng đầy
đủ, đồng bộ và hoàn thiện hơn.
Tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cân đối, hoàn chỉnh,
thống nhất, trong đó các văn bản luật giữ vai trò đặc biệt, quan trọng của hệ
3
thống văn bản quy phạm pháp luật và đối với sự điều chỉnh các quan hệ xã
hội.
Khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo mâu thuẫn, lạc hậu, thiếu
hoặc thừa quy phạm pháp luật.
Làm cho nội dung của pháp luật phù hợp với những yêu cầu của đời
bản.
- Các quy phạm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật được đưa
vào tập hợp các quy định của pháp luật có thể còn tiêu cực hoặc đã hết hiệu
lực hoặc sắp có hiệu lực pháp lý.
- Kết quả cuối cùng của việc tập hợp hoá pháp luật là làm hình thành
nên một tập hợp các quy định của pháp luật, nên chủ thể tiến hành tập hợp
hoá pháp luật có thể là bất kỳ tổ chức cá nhân nào trong xã hội. Song chủ yếu
là các cơ quan nhà nước và các chuyên gia pháp luật.
b. Theo nghĩa hẹp.
Thì tập hợp hóa pháp luật chỉ là một công đoạn trong quá trình xây
dựng và ban hành một văn bản quy phạm pháp luật mới để thay thế các văn
bản cũ. Nếu hiểu theo nghĩa này thì việc tập hợp hoá pháp luật chỉ được tiến
hành theo đối tượng điều chỉnh của quy phạm pháp luật hoặc văn bản quy
phạm pháp luậta, các quy phạm pháp luật hoặc các văn bản pháp luật được
tập hợp phải đang còn hiệu lực pháp lý và chủ thể tiến hành tập hợp hoá pháp
luật chỉ là những chủ thể có thẩm quyền.
Từ sự phân tích trên tập hợp hoá pháp luật không những có ý nghĩa cho
việc sử dụng pháp luật được thuận tiện, hiệu quả mà còn là cơ sở cho pháp
điển hoá.
2. Pháp điển hoá pháp luật.
a. Khái niệm: Trong từ điển tiếng Việt, từ pháp điển được giải thích
đơn thuần là Bộ luật. Từ điển Đào Duy Anh thì giải thích “đem bao nhiêu
pháp luật đơn hành họp lại thành một bộ pháp luật chung gọi là pháp điển
(Code)” từ Code trong tiếng Anh.
5