BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN CHĂN NUÔI
NGUYỄN ĐỨC CHUYÊN
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ NĂNG LƯỢNG CỦA MỘT SỐ
LOẠI THỨC ĂN PHỔ BIẾN CHO BÒ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN CHĂN NUÔI
NGUYỄN ĐỨC CHUYÊN
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ NĂNG LƯỢNG CỦA MỘT SỐ
LOẠI THỨC ĂN PHỔ BIẾN CHO BÒ
Chuyên ngành: DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Mã số: 62.62.01.07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TRẠCH
2. TS. ĐINH VĂN TUYỀN
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa
từng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng năm 2015
Tác giả luận án
Nguyễn Đức Chuyên
i
LỜI CẢM ƠN
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 4
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 4
4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 5
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
NĂNG LƯỢNG CỦA THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI 6
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THÍ NGHIỆM 1
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADF Xơ rửa a xít (Acid Detergent Fiber)
ARC Hội đồng Nghiên cứu nông nghiệp Anh (Agriculture Research Council)
Ash Khoáng tổng số (Ash)
CF Xơ thô (Crude Fiber )
CHOth Carbohydrate tiêu hóa
CP Protein thô (Crude Protein)
cs. Cộng sự
DE Năng lượng tiêu hoá (Digestible Energy)
dE Tỷ lệ tiêu hoá năng lượng (Digestibility of Energy)
dOM Tỷ lệ tiêu hoá của chất hữu cơ (Digestibility of Organic Matter)
DM Chất khô (Dry Matter)
DMI Lượng thức ăn ăn vào (Dry Matter Intake)
DEE Mỡ tiêu hóa (Digestible Ether Extract)
DCF Xơ tiêu hóa (Digestible Crude Fiber)
DNFE Dẫn xuất không đạm tiêu hóa (Digestible Nitrogen Free Extract)
DCP Protein tiêu hóa (Digestible Crude Protein)
EE Mỡ thô (Ether Extract)
FHP Nhiệt sản sinh ở trạng thái trao đổi đói (Fasting heat production)
GE Năng lượng thô (Gross Energy)
HcP Nhiệt lượng cho quá trình điều tiết nhiệt
2
Hệ số xác định (Coefficient of Determination)
SCFA Axit béo mạch ngắn (Short Chain Fatty Acids)
SD Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)
SE Sai số chuẩn (Standard Error)
SEM Sai số của trung bình (Standard Error of Means)
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TDN Tổng các chất dinh dưỡng tiêu hóa
TLTH Tỷ lệ tiêu hóa
UFL Đơn vị thức ăn cho tạo sữa (Unité Fourragère du Lait)
UFV Đơn vị cỏ cho sản xuất thịt (Unité Fourragère de la Viande)
VCN Viện Chăn nuôi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Tóm tắt các công thức tính GE của thức ăn cho bò Error: Reference
source not found
Bảng 1.2. Tóm tắt một số phương trình tính ME của thức ăn cho bò Error:
Reference source not found
Bảng 1.3: Một số phương trình chẩn đoán ME của thức ăn cho bò từ kết quả in
vitro gas production Error: Reference source not found
Bảng 1.4. Một số phương trình chẩn đoán NE của thức ăn cho bò . . Error: Reference
source not found
v
Bảng 1.5. Phương trình ước tính hệ số k trong các hệ thống dinh dưỡng khác nhau
Error: Reference source not found
Bảng 2.1. Các mức cho ăn trong thí nghiệm xác định NE
found
Bảng 3 . 4
. Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của cỏ voi (CV1) trên các loại gia
súc khác nhau Error: Reference source not found
Bảng 3. 5
. Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của cỏ voi CV35 trên các loại gia
súc khác nhau Error: Reference source not found
Bảng 3. 6
. Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của cỏ voi CV40 trên các loại gia
súc khác nhau Error: Reference source not found
Bảng 3.7. Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của cỏ voi CV45 trên các loại gia
súc khác nhau Error: Reference source not found
Bảng 3.8. Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của cỏ voi CV50 trên các loại gia
súc khác nhau Error: Reference source not found
Bảng 3.9. Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng
trung bình của tất cả các mẫu
Error: Reference source not found
Bảng 3.10. Tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của mẫu rơm ủ urê
Error:
Bảng 3.15. Tỷ lệ tiêu hóa
in vivo
của thức ăn tinh
Error: Reference source
not found
Bảng 3.1
6.
Kết quả xác định giá trị ME bằng phương pháp trực tiếp
. . Error:
Reference source not found
Bảng 3.17. Kết quả xác định giá trị ME tính theo công thức
Error:
Reference source not found
Bảng 4.18. Cân bằng năng lượng và giá trị DE, ME và NE
m
của cỏ voi
Error: Reference source not found
Bảng 3.19. Cân bằng năng lượng và giá trị DE, ME và NE
m
của cỏ voi xác định trên bò thịt
Error: Reference
source not found
Bảng 3.24. Kết quả xác định hàm lượng NE
g
của các thức ăn thô khô
. Error:
Reference source not found
Bảng 3.25. Kết quả xác định hàm lượng NE
g
của các thức ăn ủ chua
. . Error:
Reference source not found
Bảng 3.2
6 . Kết quả xác định hàm lượng NE
g
của các thức ăn tinh
Error:
g
của các thức ăn cho bò thịt
Error:
Reference source not found
Bảng 3.33. Kết quả kiểm chứng phương trình trên cỏ voi tươi
Error:
Reference source not found
Bảng 3.34. Kết quả kiểm chứng phương trình trên cỏ stylo khô
Error:
Reference source not found
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Sự chuyển hóa năng lượng thức ăn ở gia súc
Error: Reference
source not found
Sơ đồ
1.2. Chuyển hoá năng lượng ME ở gia súc nhai lại
. Error: Reference
source not found
viii
Đồ thị 3.1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ tiêu hóa chất khô cỏ voi xác định trên
cừu với giá trị xác định trên bò sữa
ăn thô xác định trên bò thịt Error: Reference source not found
ix
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong chăn nuôi, thức ăn có thể chiếm tới 70% tổng giá thành sản xuất
(Kirchgessner, 1997), trong đó chi phí cho thức ăn cung cấp năng lượng trong
khẩu phần chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là thức ăn cung cấp protein. Do đó
việc đánh giá giá trị năng lượng của thức ăn, nhằm xây dựng khẩu phần đáp
ứng vừa đủ nhu cầu dinh dưỡng cho con vật là hết sức cần thiết (Abate và
Mayer, 1996). Giá trị năng lượng của một loại thức ăn có thể được ước tính
thông qua tính toán từ các thành phần hóa học của nó. Tuy nhiên, giá trị năng
lượng thực của thức ăn đối với gia súc chỉ có thể được xác định sau khi hiệu
chỉnh các thất thoát xảy ra trong quá trình tiêu hóa, hấp thu và trao đổi chất
(Onimisi và cs., 2008).
Hiện nay, các nước trên thế giới đang sử dụng một trong 3 hệ thống cơ
sở là hệ thống năng lượng tiêu hoá (DE), hệ thống năng lượng trao đổi (ME)
và hệ thống năng lượng thuần (NE), trong đó hệ thống NE là chính xác nhất.
Tuy nhiên, do việc xác định NE rất phức tạp, đòi hỏi phải có buồng hô hấp,
nên hệ thống này mới chỉ được sử dụng ở một số nước phát triển như Pháp,
Hà Lan, Đức, Canada (Moehn và cs., 2005, Robert và cs., 2007), còn ở nhiều
nước khác như Anh, Thụy Điển và Australia thì hệ thống năng lượng được
dùng phổ biến vẫn là hệ thống ME (McDonald và cs., 1995).
1
Trong khi năng lượng thô (GE) có thể dễ dàng đo đạc được bằng bomb
calorimeter và DE có thể dễ dàng thực hiện bằng các thí nghiệm tiêu hóa thông
thường trên cũi tiêu hóa hay cũi trao đổi chất, ME và NE thường phải được xác
định trong các buồng hô hấp (ARC, 1980; NRC, 2001; Johnson và cs., 2003).
Tuy nhiên, không phải phòng thí nghiệm nào cũng có bomb calorimeter, đồng
thời thí nghiệm tiêu hóa, đặc biệt là các thí nghiệm sử dụng buồng hô hấp rất
nhau.
Trong khi đó kết
quả của nhiều thí nghiệm lại cho thấy mặc nhận như vậy chưa được chứng
minh
đầy đủ (Aerts và cs., 1984). Như vậy, với đặc điểm thức ăn thô nước
ta là các loại cây cỏ nhiệt đới chủ yếu có hàm lượng dinh dưỡng thấp thì
việc
sử
dụng trực tiếp các giá trị tỷ lệ tiêu hóa và năng lượng trao đổi xác
định được trên cừu cho
bò
sữa và bò thịt có thể không phù hợp.
Trong khi đó, các dữ liệu về giá trị năng lượng của các loại thức ăn cho
gia súc ở Việt Nam là kết quả từ các công thức ước tính (Viện Chăn Nuôi,
2001; Lã Văn Kính, 2003). Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra có sự sai lệch
đáng kể về giá trị năng lượng của thức ăn xác định bằng phương pháp in vivo
và phương pháp ước tính (Tôn Thất Sơn và Nguyễn Thị Mai, 2007). Như vậy,
việc sử dụng cơ sở dữ liệu sẵn có hiện nay về giá trị năng lượng của các loại
thức ăn cho gia súc ở nước ta liệu có đảm bảo được độ chính xác cao cho việc
xây dựng khẩu phần ăn hay không là một câu hỏi lớn cần được trả lời.
Những câu hỏi nghiên cứu đặt ra cho nghiên cứu này:
- Mức độ ảnh hưởng của loại gia súc đến tỷ lệ tiêu hóa thức ăn như thế
nào? Có thể dùng kết quả thử mức tiêu hóa thức ăn trên cừu để áp dụng cho
bò hay không? Nếu có thể thì cần phải hiệu chỉnh như thế nào?
- Trong điều kiện thức ăn và gia súc của Việt Nam, có thể sử dụng
các công thức của INRA hay không? Nếu sử dụng được thì cần hiệu chỉnh
như thế nào?
- Khả năng xác định các giá trị DE, ME, NE, NE
m
và NE
- Bước đầu xây dựng bảng giá trị DE, ME, NE, NE
m
và NE
g
của một
số loại thức ăn phổ biến cho bò ở Việt Nam từ kết quả thí nghiệm trong
buồng hô hấp đảm bảo độ chính xác cao.
- Xây dựng phương trình ước tính giá trị DE, ME, NE, NE
m
và NE
g
của
một số loại thức ăn phổ biến cho bò ở Việt Nam từ thành phần hóa học và
hàm lượng các chất dinh dưỡng tiêu hóa của chúng.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
Đề tài góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu về thành phần hóa học, tỷ lệ
tiêu hóa toàn phần biểu kiến của các chất dinh dưỡng cơ bản (DM, CP, CF,
EE, NDF, ADF) của một số loại thức ăn phổ biến cho bò ở Việt Nam. Bước
đầu có được các giá trị DE, ME, NE, NE
m
và NE
g
của một số loại thức ăn phổ
biến cho bò ở Việt Nam từ kết quả thí nghiệm trong buồng hô hấp đảm bảo
độ chính xác cao hơn các số liệu trước đây và bắt đầu tiến hành xây dựng
4
các phương trình ước tính giá trị DE, ME, NE, NE
m
và NE
g
g
của một số loại thức ăn phổ biến cho bò ở Việt Nam từ kết
quả thí nghiệm buồng hô hấp.
- Đã xây dựng các công thức ước tính giá trị năng lượng của thức ăn cho
gia súc nhai lại ở Việt nam từ những kết quả phân tích thành phần hóa học, tỷ lệ
tiêu hóa in vivo cùng với kết quả xác định trực tiếp bằng hệ thống buồng hồ
hấp, gồm: 1 phương trình ước tính DE, 2 phương trình để ước tính ME, 2
phương trình để ước tính NE
m
, 1 phương trình để ước tính NE
g
.
5
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ NGHIÊN CỨU XÁC
ĐỊNH GIÁ TRỊ NĂNG LƯỢNG CỦA THỨC ĂN CHO GIA SÚC
NHAI LẠI
1.1. TRAO ĐỔI NĂNG LƯỢNG Ở GIA SÚC NHAI LẠI
1.1.1. Chuyển hóa năng lượng thức ăn ở gia súc nhai lại
Khi gia súc thu nhận thức ăn, chỉ một phần năng lượng trong thức ăn
được tích lũy và sử dụng cho mục đích sản xuất, phần còn lại bị đào thải ra
ngoài qua phân, nước tiểu, khí mêtan và nhiệt. Quá trình chuyển hoá năng
lượng từ thức ăn sau khi gia súc ăn được mô tả trong sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1. Sự chuyển hóa năng lượng thức ăn ở gia súc
Năng lượng thô (GE)
Năng lượng tiêu hoá (DE)
Năng lượng trao đổi (ME)
Năng lượng thuần (NE)
Năng lượng phân
Năng lượng nước tiểu
Năng lượng khí mêtan
lượng của thức ăn còn lại sau khi trừ đi HI được gọi là năng lượng thuần
(NE). Đó chính là năng lượng hữu ích được con vật sử dụng cho duy trì cơ
thể, lao tác, nuôi thai hay tạo sản phẩm. Hệ số k = NE/ME được gọi là hiệu
suất sử dụng năng lượng trao đổi.
Toàn bộ năng lượng duy trì cuối cùng được thải ra khỏi cơ thể ở dạng
nhiệt (Heat production - HP). Hầu hết NE sử dụng cho lao tác cuối cùng cũng
thải ra khỏi cơ thể dưới dạng nhiệt. Do vậy, tổng nhiệt lượng sản sinh (HP)
bằng tổng năng lượng thuần duy trì (NE
m
), nhiệt gia tăng (HI) và năng lượng
thuần lao tác (NE
w
) (nếu có).
HP = NE
m
+ HI + NE
w
7
1.1.2. Các loại năng lượng của thức ăn
a. Năng lượng thô
Năng lượng thô (GE) là tổng lượng năng lượng hoá học có trong thức
ăn được chuyển hoá thành nhiệt năng khi oxy hóa thức ăn trong bomb
calorimetter (AOAC, 1990). Gia súc thu được năng lượng từ thức ăn ăn vào.
Có những mối quan hệ hữu cơ phức tạp giữa các phần năng lượng khác nhau
của thức ăn trong quá trình thức ăn được gia súc sử dụng (Crampton và
Harris, 1969; Pond và cs., 2005). Không có mối quan hệ giữa tổng lượng GE
ăn vào và khả năng sử dụng GE ở gia súc. Theo Olson và cs. (2008), GE
không phải là một biến tốt để chẩn đoán DE (R
2
= 0,39). Điều này là có thể
ăn trên cơ sở một số thí nghiệm tiêu hóa có được hay xác định thông qua các
thí nghiệm tiêu hóa trong phòng thí nghiệm (in vitro).
Tổng các chất dinh dưỡng tiêu hóa được (TDN) là một cách đo năng
lượng hiện vẫn được sử dụng gián tiếp hoặc trực tiếp trong dinh dưỡng gia súc
nhai lại. TDN được tính từ kết quả của thí nghiệm tiêu hóa thức ăn và là tổng
của protein tiêu hóa (DCP), carbohydrate tiêu hóa (DNFE), xơ thô tiêu hóa
(DCF) và cộng với 2,25 lần mỡ tiêu hóa (DEE).
TDN = DCP + DNFE + DCF + 2,25 DEE
Ở đây: DCP: là protein tiêu hóa (g/kg DM)
DNFE: là dẫn xuất không đạm tiêu hóa (g/kg DM)
DCF: là xơ tiêu hóa (g/kg DM)
DEE: là mỡ tiêu hóa (g/kg DM).
TDN có thể chuyển đổi thành DE như sau: 1 kg TDN = 4,4 Mcal DE hoặc
18,4 MJ DE (NRC, 2000). TDN có thể so sánh được với DE nhưng được biểu
diễn dưới dạng khối lượng hay phần trăm các chất dinh dưỡng tiêu hóa được.
Khi so với DE, TDN thường ước tính thấp giá trị năng lượng của protein vì
protein không bị oxy hóa hoàn toàn trong cơ thể động vật như khi đốt bằng bom
calorimeter (Blaxter, 1967, 1989; Crampton và Harris, 1969; Pond và cs., 2005).
9
Sử dụng TDN để đưa ra nhu cầu dinh dưỡng của bò sữa cũng gặp phải một vài
vấn đề như đã thảo luận trong công bố của NRC (2001).
c. Năng lượng trao đổi
Năng lượng trao đổi (ME) là năng lượng DE đã trừ đi phần năng
lượng của thức ăn mất mát trong nước tiểu và khí mêtan. ME chính là phần
năng lượng gia súc sử dụng để duy trì các hoạt động chức năng và sản xuất
của cơ thể. Toàn bộ phần ME còn lại sau khi thoả mãn các nhu cầu duy trì
là để cho các nhu cầu sản xuất (tăng trọng, nuôi thai, tiết sữa ) (Blaxter,
1967; Ferrell và Oltjen, 2008). Hệ số sử dụng năng lượng trao đổi từ GE
được gọi là q = ME/GE (ARC, 1980; McDonald và cs., 2002). Thông
thường hệ số này của khẩu phần hoặc thức ăn chất lượng kém là thấp (q
năng lượng gia nhiệt (HI) mất do quá trình lên men thức ăn (HF) và trao đổi
dinh dưỡng (Pond và cs., 2005).
NE = ME - HI
Năng lượng thuần của thức ăn (NE) là phần năng lượng được gia súc sử
dụng cho duy trì và phục vụ cho các chức năng sản xuất khác nhau (tăng trọng,
tiết sữa, nuôi thai ). Phần năng lượng thuần sử dụng cho duy trì (NE
m
) dùng để
thỏa mãn các nhu cầu trao đổi cơ bản hay gần bằng nhu cầu năng lượng cho trao
đổi đói, các hoạt động duy trì cơ thể, giữ nhiệt của cơ thể (khi nhiệt độ bên ngoài
thấp hoặc cao hơn biên độ nhiệt thích hợp). Phần lượng năng lượng duy trì này
hầu hết thoát ra khỏi cơ thể dưới dạng nhiệt. Phần năng lượng thuần cho sản xuất
được giữ lại trong các mô khi gia súc tăng trưởng hay được vỗ béo và trong các
sản phẩm như sữa, bào thai, lông, hoặc cũng có thể dùng cho các hoạt động lao
tác: cày bừa, kéo (Lofgreen và Garrett, 1968; Johnson và cs., 2003; Ferrell và
Oltjen, 2008).
Tuy nhiên, HI không cố định cho một gia súc nào đó được ăn một loại
thức ăn nào đó, mà phụ thuộc vào việc các chất dinh dưỡng được sử dụng như
thế nào (Blaxter, 1967; Williams và Jenkins, 2003a). Cho ăn thường xuyên
làm giảm HI so với cho ăn không thường xuyên (Pond và cs., 2005). Blaxter
11
Nhiệt
(HP)
(1967) ước tính HI ở gia súc nhai lại vào khoảng 5 đến 10% của GE. Tuy
nhiên, ở gia súc nhai lại một số lượng hạn chế số liệu cho thấy, cho ăn urê
thay vì protein có khuynh hướng giảm sản xuất nhiệt (Pond và cs., 2005).
NE có giá trị sử dụng cao hơn TDN, vì chúng cho phép ước tính chính
xác hơn lượng năng lượng được sử dụng cho các mục đích khác nhau. NE
thường được chia thành năng lượng thuần cho duy trì (NE
m
hoạt động chủ động (HjP), cho quá trình điều tiết nhiệt (HcP), cho quá trình
tiêu hoá, hấp thu và đồng hoá (HdP), cho quá trình lên men (HfP), cho quá
trình hình thành và bài tiết chất thải (HwP) và cho quá trình tạo thành sản
phẩm (HrP). Khi gia súc được cung cấp thức ăn lý tưởng trong môi trường
không stress, thì phần nhiệt năng được dùng cho hoạt động chủ động và cho
quá trình điều tiết nhiệt là không đáng kể và khi đó HI và nhiệt sản sinh khi
trao đổi đói (FHP) là hai thành phần chính cấu thành nên tổng nhiệt lượng sản
sinh (HP). Bình thường thì HP bao gồm HI được thoát ra khỏi cơ thể cùng với
phần năng lượng duy trì cơ thể (NE
m
) và năng lượng lao tác (NE
w
, nếu có).
1.2. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC LOẠI NĂNG LƯỢNG CỦA
THỨC ĂN CHO GIA SÚC NHAI LẠI
Việc xác định giá trị năng lượng của thức ăn là rất cần thiết cho việc
phối hợp khẩu phần (Abate và Mayer, 1996). Trong khi GE có thể dễ dàng
đo đạc được bằng dụng cụ bomb calorimeter và DE có thể dễ dàng thực hiện
bằng các thí nghiệm tiêu hóa thông thường trên cũi tiêu hóa hay cũi trao đổi
chất. Giá trị ME và NE thường phải được xác định trong các buồng hô hấp
(ARC, 1980; NRC, 2001; Johnson và cs., 2003). Tuy nhiên, không phải
phòng thí nghiệm nào cũng có bomb calorimeter, đồng thời thí nghiệm tiêu
hóa, đặc biệt là các thí nghiệm sử dụng buồng hô hấp, rất tốn kém, đòi hỏi
nhiều lao động và cần buồng hô hấp rất đắt tiền. Vì vậy, sẽ là không thực tế
để xác định GE, DE, ME và NE của tất cả thức ăn tinh, cỏ và khẩu phần cho
gia súc nhai lại bằng các thí nghiệm với buồng hô hấp (Van Soest, 1994;
Pond và cs., 2005). Một lựa chọn hợp lý được nhiều hệ thống dinh dưỡng đề
nghị và áp dụng là chẩn đoán GE từ thành phần hóa học, chẩn đoán DE từ
thành phần hóa học và tỷ lệ tiêu hóa, chẩn đoán ME và thậm chí NE từ thành
phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và DE cũng như TDN (NRC, 1976; Abate và
được dùng cho các thí nghiệm cho mục đích 3 nói trên (Montgomery, 1997).
14