Chơng 1
Tổng quan về công ty chứng khoán và hiệu quả kinh
doanh của công ty chứng khoán
1.1. Những vấn đề cơ bản về thị trờng chứng khoán
Cùng với sự vận động và phát triển kinh tế, nhu cầu đầu t và tích luỹ trong
xã hội không ngừng tăng và ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Những ngời có
cơ hội đầu t sinh lời thì thiếu vốn, trái lại những ngời có vốn nhàn rỗi lại không có
cơ hội đầu t. Từ đó trong nền kinh tế cũng hình thành nên một cơ chế chuyển vốn
từ tiết kiệm sang đầu t. Lúc đầu sẽ xuất hiện những khoản vay trực tiếp, dựa trên
quan hệ quen biết cá nhân để giải quyết nhu cầu vốn của mình. Tuy nhiên khi
cung cầu vốn tăng lên thì hình thức này không đáp ứng đợc nữa. Thực tế đòi hỏi
phải xuất hiện các trung gian tài chính, mặt khác do nhu cầu về các khoản vốn lớn
nên phải có các cách khác nhau để vay vốn. Các nhà đầu t phát hành ra chứng
khoán để vay vốn. Thị trờng tài chính xuất hiện.
Thị trờng chứng khoán nằm trong thị trờng tài chính dài hạn thông qua cơ
chế tài trợ trực tiếp, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhợng các loại
chứng khoán dài hạn.
Cho tới nay, thị trờng chứng khoán phát triển ở mức có thể nói là không
thể thiếu trong đời sống kinh tế của những nớc theo cơ chế thị trờng và nhất là
những nớc đang phát triển cần thu hút luồng vốn dài hạn cho nền kinh tế quốc
dân.
1.1.1.Vai trò của thị trờng chứng khoán đối với nền kinh tế thị trờng.
Thị trờng chứng khoán là một định chế tài chính tất yếu của nền kinh tế thị
trờng phát triển.Thị trờng chứng khoán là chiếc cầu nối vô hình giữa cung và cầu
vốn trong nền kinh tế. Một thị trờng chứng khoán lành mạnh và hoạt động có hiệu
quả sẽ tạo điều kiện khai thác tốt các tiềm năng của nền kinh tế, tạo sự lành mạnh
trong việc thu hút và phân phối vốn trong nền kinh tế một cách có hiệu quả nhất.
Thị trờng chứng khoán góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của
nền kinh tế . Chức năng cơ bản của thị trờng chứng khoán là công cụ huy động
1
vốn đầu t cho nền kinh tế và tăng tiết kiệm quốc gia thông qua việc phát hành và
2
phong vũ biểu của nền kinh tế, giúp những ngời đầu t và những ngời quản lý có cơ
sở đánh giá thực trạng và dự đoán tơng lai của nền kinh tế.
Rõ ràng, với cách thức hoạt động mềm dẻo linh hoạt của thị trờng chứng
khoán, thị trờng chứng khoán đã phát huy vai trò tích cực và có ý nghĩa quan
trọng đối với nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trờng.
1.1.2. Nguyên tắc hoạt động của thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán thờng nhìn vào 3 mục tiêu lớn: hoạt động có hiệu
quả, điều hành công bằng, phát triển ổn định. Để đạt đợc mục tiêu đó, thị trờng
chứng khoán phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
Nguyên tắc trung gian: Nguyên tắc này đòi hỏi việc mua bán chứng
khoán phải thực hiện thông qua môi giới trung gian. Trên thị trờng sơ cấp, các
nhà đầu t thờng không mua trực tiếp nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh
phát hành. Trên thị trờng thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới kinh doanh,
các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết
nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện cácgiao dịch mua bán chứng
khoán trên tài khoản của mình. Nguyên tắc trung gian đảm bảo cho thị trờng hoạt
động lành mạnh, đều đặn, hợp pháp và phát triển, bảo vệ lợi ích của ngời đầu t.
Có tác dụng đảm bảo an toàn về chứng khoán, tránh chứng khoán giả mạo, trộm
cắp chứng khoán, khắc phục những hạn chế về không gian của sàn giao dịch.
Điều này thể hiện rõ hơn trên thị trờng chứng khoán tập trung tức là Sở giao
dịch chứng khoán.
Nguyên tắc đấu giá: Mục tiêu của thị trờng chứng khoán là cạnh tranh
hoàn hảo. Vì vậy không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán, mà
giá cả chỉ có thể xác định căn cứ vào sự tác động qua lại của cung và cầu chứng
khoán theo nguyên tắc đấu giá. Giá cả của chứng khoán đợc định ra trên nguyên
tắc thị trờng. Vì vậy thị trờng chứng khoán đợc coi là thị trờng mang tính tự do
nhất trong các loại thị trờng.
Nguyên tắc công khai thông tin : Để đảm bảo công bằng trong buôn bán
và hình thành giá chứng khoán, đảm bảo quyền lợi cho ngời mua bán chứng
mua bán các chứng từ tài chính khác nh chứng quyền, chứng khế, quyền lựa
chọn Các chứng từ tài chính nay đ ợc ra đời từ các giao dịch chứng khoán và đợc
4
quyền chuyển đổi sang chứng khoán qua mua bán. Do đó, ngời ta gọi chúng là
các chứng từ có nguồn gốc tài chính hoặc các chứng khoán phái sinh.
1.1.4. Chủ thể tham gia thị trờng chứng khoán
Trên thị trờng chứng khoán có nhiều loại chủ thể tham gia hoạt động theo
nhiều mục đích khác nhau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu t, chủ thể trung gian
chứng khoán, chủ thể quản lý và giám sát các hoạt động của thị trờng chứng
khoán và các tổ chức có liên quan.
Chủ thể phát hành: Đây là những ngời cần tiền và huy động vốn bằng
cách phát hành chứng khoán và bán cho những ngời đầu t hoặc những ngời kinh
doanh chứng khoán. Chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các doanh nghiệp và
một số tổ chức khác theo qui định của pháp luật.
Chủ thể đầu t: Ngời đầu t là ngời có tiền nhàn rỗi, sử dụng tiền đầu t và
thị trờng chứng khoán bằng cách thực sự mua bán chứng khoán trên thị trờng
chứng khoán nhằm hởng lãi và lợi nhuận. Có 2 loại chủ thể đầu t là nhà đầu t cá
nhân và các tổ chức đầu t.
Chủ thể trung gian chứng khoán: Nhà trung gian chứng khoán có thể
hoạt động với t cách là nhà trung gian cá nhân, tổ chức trung gian ( pháp nhân ).
Vai trò chủ yếu của nhà trung gian chứng khoán là kinh doanh, môi giới và bảo
lãnh chứng khoán, ngoài ra còn thực hiện các nghiệp vụ khác nh t vấn đầu t, quản
lý quỹ, giao dịch mua bán chịu chứng khoán ...
Ngời quản lý và giám sát các hoạt động của thị trờng chứng khoán:
Thực hiện việc quản lý và giám sát ngành công nghiệp chứng khoán là một cơ
quan chuyên trách theo dõi, hỗ trợ, kiểm soát, chỉnh lý, điều hoà hoạt động các
thị trờng chứng khoán trong cả nớc
Các tổ chức liên quan: Ngoài các tổ chức trên, trên thị trờng chứng khoán
còn có các tổ chức quan trọng khác có liên quan đến tổ chức và hoạt động của thị
trờng chứng khoán nh Sở giao dịch chứng khoán; tổ chức thanh toán bù trừ và lu
Mô hình này có u điểm là kết hợp đa năng rất cao, do đó mà giảm bớt rủi
ro trong hoạt động kinh doanh chung, có khả năng chịu đựng các biến động của
6
thị trờng chứng khoán. Tuy nhiên, nếu nh thị trờng có biến động mạnh thì hoạt
động kinh doanh sẽ bị ảnh hởng nếu không tách bạch rõ ràng các nghiệp vụ kinh
doanh. Thờng thờng, các nớc châu Âu, châu úc thờng áp dụng mô hình công ty
đa năng.
1.2.1.1. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức một công ty chứng khoán có thể đợc xây dựng từ đơn giản
đến phức tạp tuỳ theo qui mô của thị trờng, phơng thức kinh doanh của chủ sở
hữu, khách hàng , mặt khác, tuỳ thuộc vào tính chất sở hữu của công ty.
Cơ quan quyền lực cao nhất của công ty chứng khoán là Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị bổ nhiệm ban Giám đốc và Giám đốc điều hành công ty. Giúp
việc cho Hội đồng quản trị có Ban kiểm soát, có nhiệm vụ theo dõi và kiểm soát
tất cả các giao dịch chứng khoán.
Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một công ty chứng khoán gồm
các phòng chủ yếu sau:
Hình 1: Sơ đồ tổ chức chung của công ty chứng khoán :
7
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng
giao
dịch
Phòng
kế toán-
tài chính
Phòng
chấp. Bộ phận này thờng thoả thuận với các ngân hàng để vay tiền từ ngân hàng,
cho khách hàng vay và ký kết các văn bản thoả thuận thế chấp có liên quan.
Phòng Marketing: Với chức năng chủ yếu là quan hệ với khách hàng của
công ty, nhận lệnh từ khách hàng sau đó chuyển sang phòng giao dịch để thực
hiện, nghiên cứu phát triển thị trờng.
8
Phòng quản trị hành chính tổng hợp: Phòng này có nhiệm vụ chủ yếu
là duy trì cơ sở kinh doanh, văn phòng làm việc, trang thiết bị đồ dùng văn phòng
nói chung, duy trì điện nớc, nhà ăn ; tổ chức gặp gỡ, làm việc với các cơ quan
hữu quan, các tổ chức quốc tế, tổ chức kinh doanh khác; ký kết và quản lý các
hợp đồng tuyển dụng lao động, quản lý nhân sự
Phòng lu ký, đăng ký và lu trữ thông tin: Thực hiện các việc liên quan
đến lu ký, đăng ký chứng khoán và lu giữ thông tin về giao dịch chứng khoán, về
tài khoản của khách hàng
Trong trờng hợp công ty chứng khoán đợc cấp quản lý tài sản khách hàng,
quản lý danh mục đầu t, công ty chứng khoán có thể thành lập phòng quản lý tài
sản.
Các phòng này đem lại cho công ty những thu nhập to lớn bằng cách đáp
ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu đó. Trên
thực tế, nhiều công ty chứng khoán chào bán rất nhiều chủng loại chứng khoán và
loại hình khác nhau. Vì vậy, mỗi công ty chứng khoán là một thực thể riêng biệt
và rất phức tạp, có cơ cấu hoạt động riêng và cơ cấu này luôn thay đổi theo thời
gian.
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán chịu ảnh hởng và phản ánh của
nhiều nhân tố, về quản lý, về thị trờng, về con ngời. Trình độ chuyên môn hoá
cao độ dẫn đến phân cấp quản lý, nhiều khi các bộ phận trong tổ chức không phụ
thuộc lẫn nhau. Bên cạnh đó, thị trờng tài chính có ảnh hởng lớn đến các Công ty
chứng khoán, đến chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của
công ty. Mọi hoạt động quản lý và chuyên môn trong công ty chứng khoán đều
diễn ra trong bối cảnh của thị trờng chứng khoán. Mặt khác trong công ty chứng
Công ty buôn bán chứng khoán: Là công ty đứng ra mua bán chứng
khoán với chi phí do công ty tự chịu. Công ty phải cố gắng bán chứng khoán với
giá cao hơn giá mua vào. Vì vậy loại công ty này hoạt động với t cách là ngời uỷ
thác chứ không phải là đại lý nhận uỷ thác.
Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng: Loại công ty
này nhận chênh lệch giá qua việc buôn bán chứng khoán, do đó họ còn đợc gọi là
nhà tạo thị trờng, nhất là trên thị trờng giao dịch OTC.
10
Các công ty chứng khoán là đối tợng quản lý của các nguyên tắc, qui chế
do Uỷ ban chứng khoán ban hành. Các quy chế này chi phối hoạt động của các
công ty này, kiểm soát họ trong quan hệ giữa các công ty chứng khoán với nhau
và giữa công ty chứng khoán với khách hàng của họ.
1.2.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán
Khi thực hiện các hoạt động của mình, các công ty chứng khoán cũng tạo
ra sản phẩm vì họ là đại lý hay uỷ thác trong quá trình mua bán chứng khoán,
dịch vụ t vấn đầu t cho các cá nhân đầu t, công ty và cả Chính phủ nữa.
Vai trò huy động vốn: Các công ty chứng khoán là các trung gian tài
chính có vai trò huy động vốn, tức là họ là các kênh chuyển vốn từ nơi thừa sang
nơi có nhu cầu sử dụng vốn. Các công ty chứng khoán thờng đảm nhận vai trò này
qua các hoạt động về nghiệp vụ ngân hàng đầu t và môi giới chứng khoán.
Vai trò xác định giá cả chứng khoán: Thông qua Sở giao dịch chứng
khoán, thị trờng OTC, các công ty chứng khoán cung cấp một cơ chế giá cả nhằm
giúp nhà đầu t có đợc sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu
t của mình.
Vai trò thực hiện tính thanh khoản của chứng khoán: Các công ty
chứng khoán thực hiện mong muốn chuyển tiền mặt thành chứng khoán và ngợc
lại một cách ít thiệt hại nhất.
Vai trò thúc đẩy vòng quay của chứng khoán: Các công ty chứng khoán
cũng là ngời tạo ra sản phẩm bằng cách cung cấp cho khách hàng các cách đầu t
khác nhau. Qua đó, họ góp phần làm tăng vòng quay của chứng khoán qua việc
Sơ đồ quy trình giao dịch: 12
Khách hàng Công ty chứng
khoán
Sở giao dịch
(2)
(1)
(4)
(5)
(3)
(1): Mở tài khoản. Một khách hàng có thể mở một hoặc nhiều tài khoản ở
một công ty chứng khoán, gồm có: tài khoản tiền mặt, tài khoản ký quỹ, tài khoản
uỷ thác.
(2): Đặt lệnh: Khi khách hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải đa lệnh
cho ngời đại diện có giấy phép đang giữ tài khoản của mình qua điện thoại, gặp
trực tiếp hoặc bằng th từ. Khi đó công ty chứng khoán sẽ kiểm tra số khách hàng
cần bán hoặc số tiền trên tài khoản đủ thanh toán cho số lợng chứng khoán cần
mua cả về giá trị chứng khoán và các loại phí giao dịch hay không và luôn yêu
cầu khách hàng phải ký quỹ một phần chứng khoán cần bán hoặc một số tiền nhất
định trên tài khoản khách hàng ở công ty heo một tỉ lệ nhất định.
(3): Công ty chứng khoán chuyển lệnh tới thị trờng phù hợp để thực hiện:
Các lệnh mua bán chứng khoán niêm yết chuyển trực tiếp đến sàn giao dịch Sở
giao dịch chứng khoán. Còn đối với các lệnh mua hoặc bán những chứng khoán
không đợc niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán của khách hàng vẫn đợc
chuyển tới phòng thực hiện lệnh.
những biến động của thị trờng để đa ra đợc quyết định đầu t chính xác, hợp lý.
Các khoản thu của nghiệp vụ này gồm hai phần chủ yếu là cổ tức và lãi vốn (số
chênh lệch giữa giá mua và giá bán) nhng phần thu lãi vốn sẽ là phần chủ yếu.
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán: Với đội ngũ chuyên gia
giỏi về chứng khoán, am hiểu thị trờng, có tiềm lực tài chính, các công ty chứng
khoán hoạt động rất mạnh mẽ về nghiệp vụ nay. Đây là hoạt động hỗ trợ cho công
ty phát hành hay chủ sở hữu chứng khoán trong việc phân phối chứng khoán
thông qua thoả thuận mua chứng khoán để bán lại.
Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t: Thực chất nghiệp vụ này là nghiệp
vụ t vấn của công ty chứng khoán nhng ở mức độ cao hơn vì trong hoạt động này,
khách hàng sẽ uỷ thác cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu t
theo một chiến lợc hay những nguyên tắc mà đã đợc khách hàng thoả thuận. Thực
hiện nghiệp vụ này cho khách hàng, công ty chứng khoán vừa bảo quản hộ chứng
khoán, vừa đầu t hộ chứng khoán nên công ty chứng khoán nhận đợc khoản phí
quản lý bằng tỉ lệ phần trăm trên tổng số lợi nhuận thu về cho khách hàng.
14
Đối với các nhà đầu t thì việc uỷ thác đầu t này đem lại cho họ rất nhiều lợi
ích nh giảm rủi ro, đảm bảo ổn định lợi nhuận, giảm chi phí giao dịch và nghiên
cứu, hiệu quả đầu t đợc đảm bảo hơn so với tự đầu t, đặc biệt là đối với ngời đầu t
ít có kiến thức về chứng khoán và thị trờng chứng khoán.
Nghiệp vụ lu ký chứng khoán: Đây là nghiệp vụ uỷ thác của khách hàng
thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán. Thực hiện nghiệp vụ này
khách hàng sẽ đa số chứng khoán họ cần thu gỡ hộ đến công ty và ký hợp đồng
với công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán có trách nhiệm bảo quản, lu giữ
anh toàn cho các chứng khoán này. Công ty chứng khoán thu đợc khoản phí
nghiệp vụ gần nh không bị rủi ro, có điều kiện mở rộng các nghiệp vụ khác để thu
hoa hồng, tăng thêm nguồn lợi, bảo quản chứng khoán nh vật thế chấp cho một
khoản vay của khách hàng.
Nghiệp vụ thu lợi tức hộ khách hàng: Nghiệp vụ này của công ty chứng
khoán xuất phát từ nghiệp vụ lu ký chứng khoán cho khách hàng. Khi thực hiện lu
Giao dịch trái phiếu theo hợp đồng chuộc lại trái phiếu: Hợp đồng
chuộc lại trái phiếu từ vòng đầu t tại một thời điểm trong tơng lai sẽ đợc hai bên
ký kết tại thời điểm giao dịch hiện tại. Có nhiều loại chuộc lại: Chuộc lại chung
qui định rõ khối lợng giao dịch, đơn vị mua bán, lãi suất cố định; Chuộc lại theo
qui mô lớn qui định khối lợng giao dịch lớn, đơn vị giao dịch .
Ký gửi đầu t trái phiếu số lợng nhỏ để tiết kiệm thuế: Loại ký gửi này
có u điểm lớn về thuế, điều kiện mở tài khoản đơn giản. ở đây, ngời đầu t phải
giữ trái phiếu trong một thời gian từ một năm đến hết hạn, thờng là trái phiếu
Chính phủ, trái phiếu địa phơng.
Ngoài ra, công ty chứng khoán còn có nhiều hoạt động khác mang tính
chất đặc biệt nh huy động vốn ngắn hạn
Hiện nay, luật chứng khoán ở nhiều nớc cho phép các công ty chứng khoán
có thể thực hiện một, hai hay tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Số
vốn điều lệ tối thiểu của công ty phải bằng số vốn điều lệ tơng ứng với mỗi nghiệp
vụ chứng khoán mà công ty đợc phép kinh doanh.
1.2.3. Nguyên tắc hoạt động và đạo đức nghề nghiệp.
16
Các công ty chứng khoán đã đợc cấp giấy phép kinh doanh hoạt động theo
các nguyên tắc bắt buộc: Giao dịch trung thực và công bằng,vì lợi ích của khách
hàng; kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ,có tinh thần trách nhiệm. Phải có hợp đồng
với khách hàng trớc khi thực hiện dịch vụ, không tiến hành các hoạt động có thể
làm cho khách hàng và công chúng hiểu sai về giá cả, giá trị và bản chất của
chứng khoán hoặc các hoạt động gây thiệt hại cho khách hàng. Bảo vệ tài sản của
khách hàng bằng cách tách biệt tài sản của khách hàng với tài sản của mình. Đảm
bảo nguồn vốn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng.
Tổ chức và thực hiện công tác kiểm soát nội bộ, tổ chức và thực hiện hạch toán và
quản lý tài chính theo qui định của pháp luật. Đảm bảo có đủ nhân viên kinh
doanh chứng khoán có kỹ năng đã qua đào tạo và đợc giám sát kỹ lỡng, không đ-
ợc bán chứng khoán mình không sỡ hữu hoặc không có lệnh bán của khách hàng,
trừ tròng hợp cơ quan có thẩm quyền cho phép, không đợc nhận lệnh mua bán của
quan tới việc kinh doanh của khách hàng. Tất cả các thoả thuận về việc cung cấp
dịch vụ giữa nhân viên với khách hàng, giữa công ty với khách hàng đều phải đợc
viết bằng văn bản và phải đợc quy định đầy đủ, chi tiết. Sau khi thực hiện giao
dịch cho khách hàng, nhân viên phải nhanh chóng xác nhận các đặc điểm chính
của giao dịch nh: ngày giờ giao dịch, loại chứng khoán giao dịch, giá cả và số l-
ợng chứng khoán giao dịch. Bên cạnh đó, các thông tin liên quan tới công ty niêm
yết đều phải công khai, rõ ràng minh bạch.
Ưu tiên khách hàng: Nhân viên phải đợc xử lý các lệnh của khách hàng
một cách công bằng và theo thứ tự thời gian nhận đợc chúng, đảm bảo rằng trong
mọi trờng hợp các lệnh của khách hàng phải đợc u tiên hơn so với lệnh của chính
công ty mình.
Xung đột về lợi ích: Trờng hợp nhân viên có một lợi ích trong một giao
dịch với khách hàng hoặc có mối quan hệ sẽ làm nảy sinh xung đột về lợi ích, họ
phải tự giác không làm t vấn cho khách hàng hoặc thực hiện các giao dịch đó trừ
khi đã công khai hoá cho khách hàng biết đợc lợi ích đó và đợc khách hàng chấp
nhận trớc khi tiến hành vụ giao dịch và nhân viên cũng đảm bảo rằng họ đã làm
mọi việc để khách hàng đợc đối xử công bằng
18
Tuân thủ các qui định: Nhân viên phải chấp hành pháp lụât, thực hiện và
duy trì các biện pháp thích hợp để đảm bảo việc chấp hành pháp luật, các nguyên
tắc của cơ quan có thẩm quyền.
Quy định về đạo đức nghề nghiệp mang tính định tính cao và đòi hỏi các cá
nhân phải có ý thức tự giác thực hiện cùng với các quy tắc về hoạt động đảm bảo
lợi ích của công chúng đầu t và thị trờng hoạt động lành mạnh.
1.3. Hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán
và các nhân tố ảnh hởng
1.3.1. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán
Tất cả các doanh nghiệp tồn tại và phát triển đều phải đặt ra những mục
tiêu cụ thể. Để đạt đợc mục tiêu đó trớc hết doanh nghiệp phải xác định cho mình
chiến lợc kinh doanh phù hợp với sự biến động của thị trờng. Đồng thời phải tiến
20
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng loại tài sản:
Hiệu quả sử dụng của tài sản lu động:
Lợi nhuận gộp hoặc lợi nhuận thuần
Khả năng sinh lời của TSLĐ =
Tổng giá trị tài sản lu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản lu động bình
quân vào sản xuất kinh doanh thì sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định :
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định và vốn cố định đợc đánh giá bằng nhiều
chỉ tiêu nhng chủ yếu sử dụng những chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thu
Sức sản xuất của TSCĐ =
Tổng giá trị tài sản cố định bình quân.
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem
lại bao nhiêu đồng doanh thu.
Tổng lợi nhuận
Mức sinh lời của TSCĐ =
Tổng giá trị tài sản cố định bình quân.
Chỉ tiêu này cho biết để đạt đợc một đồng lợi nhuận thì phải sử dụng bao
nhiêu đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định.
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu:
Tổng lợi tức các hoạt động
Hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu =
Tổng vốn chủ sở hữu bình quân
21
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu đợc đánh giá bằng khả năng sinh lời của
vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả càng cao và ngợc lại.
Những quốc gia có tình hình kinh tế chính trị xã hội ổn định, vững mạnh sẽ tạo đ-
ợc lòng tin đối với nhà đầu t trong và ngoài nớc. Đó là một trong những nhân tố
thúc đẩy sự phát triển kinh tế cùng với hoạt động tài chính tiền tệ. Vấn đề thu
nhập quốc dân của một quốc gia và thu nhập bình quân đầu ngời chính là những
yếu tố tác động đến nhu cầu về số lợng hàng hoá, dịch vụ, về chủng loại, chất l-
ợng, về thị hiếu... Trên cơ sở đó, hoạt động kinh doanh của các công ty nói chung
và các công ty chứng khoán nói riêng sẽ gặp nhiều thuận lợi. Các nhà đầu t sẵn
sàng hơn trong việc tham gia vào thị trờng, các công ty cũng sẵn sàng mở rộng
qui mô sản xuất kinh doanh. Điều này sẽ làm tăng qui mô của thị trờng nên
những công ty biết đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trờng sẽ là những công ty làm
ăn có hiệu quả. Trong môi trờng này, sự tăng trởng, các chính sách kinh tế, lạm
phát, biến động tài chính tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh luôn tác
động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Ngợc lại những quốc gia có
tình hình kinh tế chính trị xã hội bấp bênh, kém ổn định, xung đột xảy ra liên
miên gây ra những cơn sốt, cú sốc, sức ép thị trờng... thì các công ty chứng khoán
cũng khó có thể hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả.
Bên cạnh đó, một môi trờng pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các
công ty tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời điều
chỉnh các hoạt động kinh tế theo hớng không chỉ chú ý đến hiệu quả kinh doanh
của riêng bản thân công ty mà còn phải quan tâm đến hiệu quả của toàn xã hội.
Cùng với điều này, thì nội dung của các chính sách quản lý kinh tế, chính sách
quản lý về chứng khoán và thị trờng chứng khoán có ý nghĩa quyết định đối với
hoạt động kinh doanh chứng khoán. Mọi hoạt động kinh doanh chứng khoán đều
phải nằm trong khuôn khổ của các quy định này. Chính vì thế, một chính sách
quản lý đúng đắn, phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh chứng
khoán, dẫn đến sự phát triển của thị trờng chứng khoán và toàn bộ nền kinh tế,
trái lại, một chính sách cứng nhắc, thiếu hợp lý sẽ gây nhiều trở ngại cho sự phát
triển của toàn bộ thị trờng nói chung và đến sự phát triển của một công ty nói
riêng.
23
Mà chính bởi có sự khác nhau về các nhân tố nội tại giữa các công ty. Nhân tố nội
24
tại chính là cơ sở vật chất, mục tiêu phát triển, uy tín của công ty, mạng lới khách
hàng, khả năng của ban lãnh đạo, trình độ của cán bộ công nhân viên..., tất cả các
yếu tố này đều tác động đến hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán. Vì
vậy, để có thể đẩy mạnh và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, các công ty
phải biết tận dụng những thế mạnh cũng nh hạn chế những điểm yếu của công ty
mình.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh doanh đều phải có vốn.
Đối với công ty chứng khoán vốn phụ thuộc vào tài sản cần tài trợ, mà loại tài sản
này đợc qui định bởi loại hình nghiệp vụ nó đợc thực hiện. Vốn phản ánh quy mô
doanh nghiệp, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có nguồn
vốn lớn thờng là những doanh nghiệp có qui mô lớn, phạm vi hoạt động rộng. Và
cũng chính vì thế, hiệu quả kinh doanh phụ thuộc rất nhiều về vốn. Bên cạnh đó,
trong công ty con ngời luôn đóng vai trò trung tâm. Mức độ hiệu quả công việc
của từng ngời sẽ ảnh hởng tới hệ thống bởi vì tổng hợp hiệu quả của các cá nhân
sẽ đợc hiệu quả chung của công ty. Một công ty hoạt động có hiệu quả khi các cá
nhân trong công ty có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có tính tự giác, kỷ luật
cao, đồng thời các thành viên trong công ty phải có mối quan hệ bình đẳng, hoà
hợp, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung toàn
công ty. Thực tế cho thấy, những công ty mạnh trên thị trờng đều là những công
ty có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ, tác phong khoa học và tính kỷ
luật cao. Cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên thì vấn đề về các nhà quản trị
trong công ty cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Nhà quản trị luôn nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo ra những phơng án mới cho
chiến lợc phát triển kinh doanh đông thời phải biết quan tâm đến đời sống của
nhân viên trong toàn công ty, tạo ra không khí làm việc vui vẻ, phấn khởi. Từ đó,
hiệu quả của công ty sẽ tăng lên.
Chơng 2