tiểu luận tích tụ tập trung tử bản và vận dụng trong thực tiễn ở việt nam - Pdf 25

Đại học ngoại thơng hà nội
Khoa lý luận chính trị
Khoa lý luận chính trị
**********
**********
****
****
Tiểu luận
tích tụ, tập trung t bản và vận dụng trong
thực tiễn ở Việt Nam
Sinh viên thực hiện: Lơng Thị Kim Anh
Giáo viên hớng dẫn: Thạc Sỹ Lê Tuấn Anh
hà nội, 4-2010
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Kinh tế chính trị là khoa học xã hội, đối tượng nghiên cứu của nó là mặt xã hội của
sản xuất, tức là quan hệ sản xuất hay là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá
trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất. Kinh tế chính trị học cũng
có một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử. Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XVIII sang đầu
thế kỷ XIX, nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh đã bắt đầu bộc lộ những mâu
thuẫn, hạn chế. Nhiều vấn đề kinh tế nảy sinh mà các nhà tư tưởng cổ điển không thể lý
giải được. Một loạt các học thuyết kinh tế ra đời mong muốn thay thế cho những tư tưởng
cổ điển như: các học thuyết kinh tế chính trị tư sản hậu cổ điển, kinh tế chính trị tiểu tư
sản, kinh tế chính trị của những người xã hội chủ nghĩa không tưởng, kinh tế chính trị Mác
– Lênin v.v…Trong đó, kinh tế chính trị Mác – Lênin vượt qua được các nhà kinh tế chính
trị tư sản cổ điển, đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong lịch sử học thuyết kinh tế
chính trị. Đặc biệt là việc đề ra học thuyết về giá trị thặng dư, đây là hòn đá tảng trong
toàn bộ học thuyết kinh tế chính trị Mác – Lênin.Kinh tế chính trị Mác – Lênin đánh dấu
một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử phát triển của kinh tế chính trị học, đưa kinh tế chính
trị vược qua những hạn chế của các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển, giải quyết một
cách triệt để những vấn đề mà khoa học kinh tế trước Mác không thể vược qua được trên

hiện nay đặc biệt là vấn đề huy động sử dụng tư bản (vốn) trong việc xây dựng và phát
triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa
hiện nay.
PHẦN 2: TÍCH TỤ VÀ TẬP TRUNG TƯ BẢN
I. Tư bản
1. Khái niệm
Tư bản là phần mang lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách bóc lột sức lao
động của công nhân làm thuê. Tư bản là một quan hệ xã hội, là quan hệ sản xuất phản ánh
mối quan hệ cơ bản giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản làm thuê.
2. Sự phân chia tư bản và ý nghĩa của nó
Để sản xuất ra giá trị thặng dư, nhà tư bản phải ứng trước tư bản để mua tư liệu sản
xuất là sức lao động. Trong quá trình sản xuất, giá trị của tư liệu sản xuất được lao động
cụ tể của người công nhân chuyển vào sản phẩm mới, lượng giá trị của chúng không đổi.
Bộ phận tư bản ấy được gọi là tư bản bất biến.Nhưng đối với bộ phận tư bản dùng để mua
sức lao động thì trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công
nhân tạo ra một giá trị mới không chỉ bù đắp đủ giá trị sức lao động của công nhân mà còn
tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Như vậy, bộ phận tư bản này đã có sự biến đổi về
lượng được gọi là tư bản khả biến .
Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển một cách giống nhau
vì một bộ phận tư bản chuyển giá trị của nó vào sản phẩm theo những cách thức khác
nhau. Do đó, ta có thể chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động. Tư
bản cố định là bộ phận chủ yếu của tư bản sản xuất (máy móc, nhà xưởng…) tham gia
toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần vào sản
phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn hữu hình (hao mòn về vật chất, về
giá trị sử dụng do tác động tự nhiên) và hao mòn vô hình (hao mòn thuần tuý về giá trị do
xuất hiện những máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc công suất lớn hơn). Còn Tư bản lưu
động là một bộ phận của tư bản sản xuất (nguyên vật liệu, sức lao động…) được tiêu dùng
hoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm
trong quá trình sản xuất. Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định và việc
tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng : nó giúp cho việc tiết

móc, thiết bị và công nhân thì nhà tư bản có thể bắt số công nhân hiện có cung cấp thêm
một lượng lao động bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động, đồng thời
tận dụng một cách triệt để công suất của máy móc hiện có, chỉ phải tăng thêm nguyên liệu
tương ứng mà thôi.
b. Năng suất lao động
Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
giảm. Điều này đem lại hai hệ quả : một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định,
phần dành cho tích lũy có thể lấn sang phần dành cho tiêu dùng, trong khi tiêu dùng của
nhà tư bản không giảm mà có thể còn tăng cao hơn trước. Hai là, một lượng giá trị thặng
dư nhất định dành cho tích lũy cũng có thể chuyển hoá thành một khối lượng tư liệu sản
xuất và sức lao động phụ thuộc tăng nhiều hơn trước.
4
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm cho tích lũy
nhờ việc sử dụng vật liệu mới và tạo ra công dụng mới của vật liệu hiện có. Năng suất suất
lao động sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh.
c. Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy mô
hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất. Tư bản tiêu dùng là phần giá trị
nhựng tư liệu lao động được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng
khấu hao. Vì vậy mà có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Sự chênh
lệch này là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất. Kỹ thuật càng hiện đại sự chênh
lệch càng lớn, và sự phục vụ không công của tư liệu lao động càng lớn.
d.TÝch tô t b¶n
Tích tụ tư bản là việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng tích lũy của từng nhà tư bản
riêng lẻ. Tích tụ, một mặt do yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật, mặt khác khối lượng giá trị thặng dư tăng thêm lại tạo khả năng hiện thực cho tích
tụ tư bản mạnh hơn. Tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản.Tích tụ tư bản là
một tất yếu. Trước hết, là do yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, của
cạnh tranh và của tiến bộ kỹ thuật. Đồng thời trình độ bóc lột và khối lượng giá trị thặng
dư bóc lột được ngày càng tăng trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, là điều

Nền kinh tế hàng hoá hoàn toàn mang tính chất cạnh tranh, góp phần loại bỏ nhựng
yếu kém, lạc hậu trong khâu sản xuất. Tự do cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải cải tiến kỹ
thuật tăng quy mô đầu tư sản xuất, do việc tự do cạnh tranh làm nhiều nhà tư bản phải phá
sản, nếu không muốn phải liên kết với nhau để cùng tồn tại. Đây là quá trình tập trung vốn
và lao động, dẫn đến sự hình thành giai đoạn độc quyền về sau.Có thể nói, tích tụ tư bản là
sự phát triển trên quy mô tư bản cá biệt bằng cách biến một phần giá trị thặng dư thành tư
bản. Trong quá trình phát triển và vận động của nền sản xuất, nhà tư bản sau khi bóc lột
giá trị thặng dư của người lao động làm thuê, sử dụng một phần giá trị thặng dư này để
tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất khiến cho quy mô tư bản cá biệt tăng lên, đồng thời
cũng làm cho tư bản xã hội tăng theo tỷ lệ tương ứng. Nếu bỏ qua tính chất tư bản chủ
nghĩa, thì việc tích tụ tư bản có giá trị và ý nghĩa rất lớn trong việc tích lũy vốn phục vụ
cho sản xuất.
III.TËp trung t b¶n
1. Khái niệm
Là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất các tư bản cá biệt có
sẵn trong xã hội thành một tư bản khác lớn hơn. Đây là sự tập trung những tư bản đã hình
thành, là sự thủ tiêu tính độc lập riêng biệt của chúng, là việc biến nhiều tư bản nhỏ thành
một số ít tư bản lớn hơn. Ví dụ, một tư bản 2000 đôla hợp với một tư bản 3000 đôla thành
một tư bản lớn hơn là 5000 đôla.
Tập trung tư bản thường diễn ra bằng hai phương pháp :
Phương pháp cưỡng bức: trong quá trình cạnh tranh, các nhà tư bản lớn thôn tính các nhà
tư bản nhỏ.
Phương pháp tự nguyện: trong quá trình cạnh tranh, các nhà tư bản không phân thắng bại,
nên họ liên hiệp và tổ chức các công ty cổ phần để tránh khỏi sự phá sản, và có đủ sức
mạnh cần thiết cho sự cạnh tranh trên quy mô mới.
Tiến hành dựa vào 2 biện pháp:
Thôn tính kính tế : trong quá trình cạnh tranh,các nhà tư bản lớn thôn tính các nhà tư bản
nhỏ dẫn đến việc phá sản.
Hợp lực về vốn & cưỡng bức: trong quá trình cạnh tranh,các nhà tư bản ko phân
thắng bại, họ liên hiệp lại và tổ chức các công ty cổ phần để tránh khỏi sự phá sản, và họ

soát 60% khai thác quặng đồng- thép, Tơrớt dầu lửa kiểm soát 90% tổng sản xuất dầu; ở
Nhật Bản các công ty bị phá sản hợp nhất thành những công ty lớn, tổ chức lũng đoạn trở
thành phổ biến và tạo nên sức mạnh mới, làm cho các công ty ít dần đi như ngành dệt vải
lụa năm 1901 có 66 công ty đến năm 1908 còn 36 năm 1913 còn 7 công ty, 2 ngân hàng
Mitsui và Mishubishi lũng đoạn hơn 50% tổng số vốn v.v….
Khủng hoảng kinh tế: Khủng hoảng kinh tế diễn ra liên tục làm cho nhiều xí nhiệp
nhỏ bị phá sản, các xí nghiệp nhỏ buộc phải đổi mới kỹ thuật sản xuất để thoát khỏi khủng
hoảng, do đó thúc đẩy quá trình sản xuất. Tín dụng Tư bản chủ nghĩa được mở rộng, trở
thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất. Các công ty lớn có tiềm lực kinh tế
cạnh tranh khốc liệt với nhau khó phân thắng bại, vì thế nảy sinh xu hướng thỏa hiệp, từ đó
hình thành các tổ chức độc quyền. Tại các nước tư bản xảy ra tình trạng khủng hoảng liên
miên, ở Anh: 1878 – 1879, 1882 – 1887, 1890 – 1894; ở Mỹ cũng xảy ra khủng hoảng kinh
tế theo chu kỳ liên tiếp vào những năm 1878-1879,1886-1889,1890-1897v.v…các tổ chức
lũng đoạn thỏa hiệp với nhau để phân chia thị trường, lĩnh vực ảnh hưởng, một vài công ty
nắm giữ toàn bộ một lĩnh vực sản xuất, hoặc nắm giữ vị trí trọng yếu của nhiều lĩnh vực như
các Xanhdica, Torot . Quá trình này không chỉ diễn ra ở từng nước Tư bản chủ nghĩa mà
còn diễn ra ở phạm vi quốc tế như hai công ty điện GEC của Mỹ và AEC của Đức chia
7
nhau thị trường, GEC được nhận phần nước Mĩ, Canada,AEC được nhận phần Đức, Áo,
Nga, hà Lan, Đan Mạch, Thụy Sĩ, TNK, bán đảo bancang v.v….
Tác động cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật: Một trong những nguyên nhân không
kém phần quan trọng dẫn đến sự hình thành của Tư bản chủ nghĩa độc quyền tư nhân đó
chính là do tác động của cuộc CMKHKT lần thứ 2. Cuộc cách mạng KHKT lần thứ 2 đã tạo
tiền đề và trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho Chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn độc
quyền tư nhân.Trong 30 năm cuối thế kỷ XIX, lịch sử sản xuất của xã hội có những bước
chuyển biến quan trọng, sản lượng công nghiệp tăng lên nhanh chóng. Việc sử dụng lò
Betxome và lò Mactanh đánh dấu bước cách mạng trong ngành luyện kim, đưa sản lượng
thép tăng từ 250 nghìn năn 1870 lên 28,3 triệu tấn năm 1990. Nhờ đó sắt thép được sử dụng
rộng rãi tron sản xuất như chế tạo máy, đường ray, tàu biển, các công trình xây dựng…Việc
khai thác các nguồn năng lượng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ những năm 80 đã có

8
khiến nó tạo ra các tổ chức độc quyền có vai trò quyết định trong hoạt động kinh tế. Đây
chính là đặc trưng kinh tế cơ bản nhất của chủ nghĩa đế quốc. Tổ chức độc quyền là liên
minh giữa những nhà tư bản lớn để tập trung vào trong tay một phần lớn hay thậm chí là
toàn bộ sản phẩm của một ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định
đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó. 04 đặc điểm còn lại của Chủ nghĩa tư bản
độc quyền tư nhân cũng chính là biểu hiện của quá trình tập trung sản xuất và tư bản nhưng
biểu hiện dưới một góc độ khác.
IV. Mối quan hệ giữa tích tụ tư bản và tập trung tư bản
Tích tụ và tập trung tư bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ
tạo điều kiện thúc đẩy lẫn nhau. Tích tụ tư bản làm tăng qui mô tư bản cá biệt khiến cho
khả năng cạnh tranh gay gắt hơn dẫn đến sự tập trung tư bản. Tập trung tư bản tạo điều
kiện để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, nâng cao giá trị thặng dư ,
tạo điều kiện để Tích tụ tư bản.Tích tụ và Tập trung tư bản có thể hiểu như hai mặt của tư
bản, như hai cặp phạm trù nội dung - hinh thức, bản chất - hiện tượng vậy. Nếu chỉ có hiện
tượng là tập trung được tư bản thành tư bản lớn mà không có bản chất là tăng được tư bản
lên mạnh mẽ thì tư bản vẫn yếu.Tích tụ và tập trung tư bản dẫn đến tích tụ tập trung sản
xuất, sản xuất qui mô lớn ra đời, quá trình này diễn ra thông qua cạnh tranh, trong đó tín
dụng giữ vai trò đòn bẩy để thúc đẩy tập trung sản xuất.
V. Nh÷ng mÆt tÝch cùc vµ tiªu cùc của tÝch tụ tư bản vào tập trung tư
bản trong chủ nghĩa tư bản hiện tại
1.Nh÷ng mÆt tiªu cùc cña tÝch tô vµ tËp trung t b¶n
So với chủ nghĩa tư bản cổ điển, chủ nghĩa tư bản hiện đại xét về bản chất vẫn
không có sự thay đổi. Tuy nhiên, về mặt hình thức nó có những biểu hiện mới mà nếu nhìn
nhận và đáng giá một cách không khoa học và chính xác chúng ta dễ dàng bị nhầm lẫn. Rõ
ràng, chủ nghĩa tư bản hiện đại dù đã có sự điều chỉnh và thay đổi song vẫn không đi ra
khỏi giới hạn , phạn trù “chủ nghĩa tư bản” của nó. Xét về phương diện lịch sử, chủ nghĩa
tư bản vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX trở lại đây đã có những biến đổi sâu sắc, có thể
coi như một bước phát triển mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền: sự xuất hiện ngày

môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi; thiếu đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học - kỹ
thuật, công nhân lành nghề; trình độ dân trí thấp và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân
ít, không đủ mức cần thiết để tiếp nhận đầu tư nước ngoài;về phía các nước tư bản chủ
nghĩa phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ làm xuất hiện nhiều ngành sản
xuất và dịch vụ mới, nhất là những ngành có hàm lượng khoa học cao, đòi hỏi lượng vốn
lớn để đầu tư vào nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và sản xuất. Có một sự di chuyển vốn
trong nội bộ các công ty độc quyền xuyên quốc gia. Các công ty này cắm chi nhánh ở
nhiều nước, nhưng phần lớn chi nhánh của chúng đặt ở các nước tư bản chủ nghĩa phát
triển. Để vượt qua những hàng rào bảo hộ mậu dịch và khắc phục những trở ngại do việc
hình thành các khối liên kết như EU, NAFTA các công ty xuyên quốc gia đã đưa tư bản
vào trong các khối đó để phát triển sản xuất. Tuy nhiên, một loạt công ty ở các nước Anh,
Pháp, Hà Lan đã vượt qua cả lệnh cấm vận của Mỹ để đầu tư vào các nước đang phát
triển. Chẳng hạn họ đầu tư thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam - đó là bằng chứng rõ
rệt chứng minh cho xu hướng trên. Sở dĩ như vậy là vì tình trạng thiếu dầu khí và những
kim loại quý hiếm vẫn đang là "gót chân Asin" của nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa
phát triển, trong khi đó các nước đang phát triển giàu tài nguyên lại thiếu vốn và kỹ thuật
để khai thác, và nguồn lợi cao từ lĩnh vực này đối với cả hai phía.
Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh
tranh và thống trị mới. Tuy chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn sụp đổ và chủ nghĩa thực
dân mới đã suy yếu, nhưng các cường quốc tư bản chủ nghĩa, khi ngấm ngầm, lúc công
khai, vẫn tranh giành nhau phạm vi ảnh hưởng bằng cách thực hiện "Chiến lược biên giới
mềm", ra sức bành trướng "biên giới kinh tế" rộng hơn biên giới địa lý, ràng buộc, chi
phối các nước kém phát triển từ sự lệ thuộc về vốn, công nghệ đi đến sự lệ thuộc về chính
trị vào các cường quốc.Chiến tranh lạnh kết thúc, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi,
10
nhng li c thay th bng nhng cuc chin tranh khu vc, chin tranh thng mi,
nhng cuc chin tranh sc tc, tụn giỏo m ng trong hoc nỳp sau cỏc cuc ng ú
l cỏc cng quc quc.Nhng cuc tn cụng ca M v ng minh vo ỏpganixtan,
Irc
Tich tu va tõp trung t ban trong chu nghia t ban hiờn ai tiờp tuc c õy manh

s phõn cụng nay, nh giai quyờt c võn nan thõt nghiờp, co thờm nguụn thu ngoai tờ
v.vsong nờu khụng co ng lụi chiờn lc ung thi tõt yờu phai tra gia cao vờ s tut
hõu va cai mõt se ln hn cai c. Do võy, võn ờ t ra õy la cõn chõp nhõn s
phõn cụng nay mc ụ nao va biờt cach chuyờn hoa ờ nm nhng khõu cụng nghờ tiờn
tiờn, khc phuc c nhng tiờu cc.
11
Đẩy mạnh quan hệ hàng hóa, tiền tệ trên phạm vi quốc tế. Với mạng lưới chi
nhánh dày đặc, các công ty xuyên quốc gia đã khai thác được mọi nguồn hàng tiềm tàng
của thế giới, khai thác được thị trường tại chỗ, giảm chi phí vận chuyển, hạ giá thành.
Cùng với những hàng hóa thông thường thế giới hàng hóa được bổ sung thêm các loại
hàng hóa mới, ngay cả tri thức con người thể hiện trong những phát minh sáng chế cũng
được trao đổi dưới hình thức hàng hóa. Những hàng rào biên giới quốc gia cùng với
những trở ngại của nó cho quá trình quốc tế hóa lưu thông cũng được tháo bỏ. Song, dựa
vào tiềm lực kinh tế to lớn, với những nguồn nguyên liệu, nhiên liệu dồi dào dưới sự kiểm
soát của mình, chúng đã thực hiện hoạt động đầu cơ, nâng giá, trao đổi nội bộ giữa các chi
nhánh. Điều đó gây nên sự mất ổn định trong lưu thông hàng hóa, cũng như nền tài chính,
tiền tệ thế giới. Đặc biệt, trong nền kinh tế mở, việc tập trung đầu tư vào cổ phiếu, một
mặt giúp cho các nước chủ nhà có thêm nguồn thu vốn đầu tư lớn, song điều rủi ro gặp
phải là các tập đoàn tư bản rất dễ dàng thực hiện hành vi “ảo thuật” trên thị trường này để
kiếm lời. Điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở châu Á năm 1997 và đại
khủng hoảng năm 2008 trên phạm vi toàn cầu.
Đẩy mạnh sự phát triển khoa học công nghệ. Với mục đích cạnh tranh và tìm kiếm
lợi nhuận, với thế lực và tiềm lực khoa học công nghệ được tích lũy trong nhiều thập kỷ,
các nước tư bản, các công ty xuyên quốc gia đi đầu trong việc nghiên cứu, thử nghiệm
những dây chuyền công nghệ tiên tiến. Nhiều sản phẩm mới đạt trình độ tiên tiến nhất,
nhiều dạng năng lượng, nguyên liệu mới được nghiên cứu và ứng dụng, phương pháp tự
động hóa sử dụng người máy, phương pháp điều khiển từ xa trong quản lý v.v…giúp tăng
năng suất lao động và cải thiện đời sống của con người. Nắm trong tay lực lượng khoa
học và công nghệ tiên tiến, các nước tư bản, các tập đoàn xuyên quốc gia cũng phải buộc
chấp nhận những tất yếu kinh tế, thực hiện chuyển giao công nghệ sang các nước khác, mà

trung vốn vào trong quá trình sản xuất.Rõ ràng đối với đất nước ta với những đặc điểm
như trên, cùng với nó là quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì vấn đề tích tụ
và tập trung vốn là một trong những vấn đề cơ bản để thực hiện thành công chiến lược
phát triển kinh tế.Đối với đất nước Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội với những nhiệm vụ kinh tế cơ bản như: phát triển lực lượng sản xuất, coi công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới theo
định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng và nâng cao hiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế.
Trong thời kỳ quá độ cũng tồn tại ba loại hình sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể và sở hữu tư bản tư tư nhân, mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức sở
hữu ở nhiều mức độ khác nhau. Chính vì thế, nền kinh tế của đất nước ta trong thời kỳ quá
độ tất yếu là nền kinh tế nhiều thành phần, việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế là tất yếu
khách quan không thể khác, đồng thời việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế cũng nhằm
khai thác tối đa mọi nguồn lực, các tiềm năng của đất nước như vốn, tài nguyên thiên
nhiên, sức lao động, kinh nghiệm quản lý để tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và hiệu quả.
Mỗi thành phần kinh tế lại có vai trò và vị trí riêng:
Kinh tế nhà nước dựa trên hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất giữ vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Kinh tế tập thể dựa trên hình thức sở hữu tập thể, nó cùng với kinh tế nhà nước trở
thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về quan hệ
sản xuất và bóc lột lao động làm thuê, nó có vai trò đáng kể trong việc phát triển lực lượng
sản xuất, xã hội hóa sản xuất, giải quyết việc làm, khai thác các nguồn vốn và góp phần
giải quyết các vấn đề xã hội khác.
Kinh tế tư bản nhà nước dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn (tư bản) giữa
kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước, kinh tế tư bản nhà nước
13
có khả năng to lớn trong việc huy động vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý tiên tiến
vì lợi ích của bản thân kinh tế tư bản tư nhân và phát triển kinh tế của đất nước.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, dựa trên hình thức sở hữu hầu như tuyệt đối là

Tiết kiệm của dân cư: là phần thu nhập để dành chưa tiêu dùng của các hộ gia
đình. Xét trên từng gia đình, phần tiết kiệm này có thể không lớn, nhưng trên qui mô toàn
quốc, đặc biệt khi thu nhập bình quân đầu người tương đối cao, quy mô dân số lớn, thì đây
là nguồn vốn có vị trí hàng đầu trong đầu tư phát triển. Vấn đề thu hút, tập trung nguồn
vốn nhàn rỗi từ trong dân cư là vấn đề hết sức quan trọng để tạo nguồn vốn phát triển kinh
tế đất nước.
Viện trợ phát triển chính thức (ODA): đây là nguồn tài chính do các cơ quan chính
thức của chính phủ một số nước, hoặc của các tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang
14
phat triờn nhm thuc õy, hụ tr qua trinh phat triờn kinh tờ xa hụi cua nc nay. ODA co
2 c iờm c ban: th nhõt, õy la khoan vay u ai va co mụt thi gian õn han; th hai,
ODA la khoan cho vay mang tinh chõt rang buục (vờ muc ich s dung, nguụn s dunf va
cac rang buục kinh tờ khac, cõn phai s dung hờt sc hp ly.
Vụn õu t trc tiờp nc ngoai (FDI): õy la nguụn vụn do cac cụng ty t nhõn
nc ngoai õu t vao mụt nc khac ờ kinh doanh nhm muc tiờu tin kiờm gia tri thng
d va li nhuõn. ụi vi nc chu nha nh thu thuờ FDI ma co thờ bu p s thiờu hut
vụn trong nc ờ thuc õy tng trng kinh tờ va chuyờn dich c cõu kinh tờ, tao viờc
lam.ụng thi, qua o tiờp nhõn chuyờn giao cụng nghờ, kinh nghiờm va phng thc
quan ly tiờn tiờn nhm tim kiờm thi trng tiờu thu nc ngoai.
II.Giải pháp cho vấn đề tích tụ và tập trung t bản ở Việt Nam
Co thờ noi qua trinh tich tu va tõp trung t ban (vụn) Viờt Nam hiờn nay ang
diờn ra hờt sc phc tap, do nờn kinh tờ thi trng chung ta la nờn kinh tờ thi trng theo
inh hng xa hụi, cung luc trờn õt nc ang tụn tai nhiờu thanh phõn kinh tờ va cac
hinh thc s hu an xen nhau. Võn ờ quan trong hang õu c t ra la huy ụng va s
dung co hiờu qua cac nguụn vụn õu t:
Th nhõt, cõn tao mụi trng an toan va ụn inh. S an toan, ụn inh vờ kinh tờ,
chinh tri la yờu cõu trc hờt ờ cac nha kinh doanh yờn tõm hiờn ai hoa,bo vụn õu t.
S ụn inh vờ kinh tờ liờn quan ờn ụn inh kinh tờ vi mụ, c biờt la ụn inh vờ tiờn tờ, s
ụn inh cua hờ thụng chinh sach, luõt phap liờn quan ờn kinh tờ.
Tiờp tuc cai thiờn hờ thụng kờt cõu ha tõng va phat triờn nguụn lao ụng, c biờt la

như hai cặp phạm trù nội dung - hinh thức, bản chất - hiện tượng vậy. Nếu chỉ có hiện
tượng là tập trung được tư bản thành tư bản lớn mà không có bản chất là tăng được tư bản
lên mạnh mẽ thì tư bản vẫn yếu.Tích tụ và tập trung tư bản dẫn đến tích tụ tập trung sản
xuất, sản xuất qui mô lớn ra đời, quá trình này diễn ra thông qua cạnh tranh, trong đó tín
dụng giữ vai trò đòn bẩy để thúc đẩy tập trung sản xuất. Đối với vấn đề Tích tụ –tập trung
tư bản trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay đặc biệt là việc huy động sử dụng tư bản
(vốn) trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay có một ý nghĩa hết sức quan trọng làm sao vừa
đảm bảo sự phát triển cho nền kinh tế vừa đảm bảo thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ, đảm bảo các vấn đề về vệ sinh môi trường, tránh ô nhiễm sinh thái, cạn kiệt tài
nguyên, tệ nạn xã hội, tính định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với phạm vi một bài tiểu luận nhỏ không thể tránh được những thiếu sót rất mong
được sự góp ý của các thầy cô.
16
Tài liệu tham khảo
1/ Giáo trình Kinh tế chính trị: NXB CTQG, Hà Nội, 2007.
2/ Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị: NXB LLCT, Hà Nội, 2007.
3/ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X: NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
4/ Tập bài giảng về Chủ nghĩa tư bản hiện đại: NXB CTQG, Hà Nội, 2005.
5/ Giục giã từ cuộc sống: NXB Trẻ, Tp.HCM, 2006.
6/ Giáo trình Lịch sử Văn minh thế giới: NXB Giáo dục, 2008
7/ Toàn Cầu Hóa và sự tồn vong của Nhà nước, Nguyễn Vân Nam: NXB Trẻ, Tp.HCM,
2007.
8/ Một số bài viết được lấy từ trang Google.
17
Mục lục
Phần 1: Mở đầu 1
Phần 2: Tích tụ và tập trung t bản 2
I.T bản 2
1.Khái niệm 2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status