Nhóm thực hiện : Nhóm 8
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những tư tưởng về quản lý kinh tế của Hồ chủ tịch đó là sản xuất
phải đi đôi với tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Hồ Chí Minh
coi đây là biện pháp quan trọng để tích luỹ vốn, để sản xuất kinh doanh có hiệu
quả, đặc biệt là ở một nước nghèo nàn và lạc hậu như nước ta.
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, thất thoát lãng phí đang gây nhiều bức xúc
và tranh cãi. Nó có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương; ở
mọi cấp từ trung ương xuống cơ sở; các cơ quan hành chính nhà nước; các
doanh nghiệp, các cơ quan sự nghiệp; các tổ chức chính trị -xã hội; trong các gia
đình và từng người dân, xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, với mọi đối tượng. Thất thoát
lãng phí gây thiệt hại lớn cho Đảng, Nhà nước, tập thể và công dân; ảnh hưởng
đến sự phát triển bền vững của đất nước. Nó gây trở ngại lớn đối với quá trình
đổi mới xây dựng đất nước; làm thất thoát khoản tài chính, tài sản lớn, làm biến
chất cán bộ, công chức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà
nước; làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trong con mắt của cộng đồng thế giới,
trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài. Nó là nguy cơ cho tình trạng bất ổn định
kinh tế xã hội.
Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế thất thoát lãng phí trong
đầu tư? Từ vấn đề cấp thiết đó, nhóm em xin đưa ra đề tài “Thất thoát, lãng phí
trong đầu tư: thực trạng và giải pháp”. Nhóm em rất mong qua sự nghiên cứu lý
thuyết và tra cứu thông tin cho đề tài có thể hiểu thêm về vấn đề này và vận
dụng vào thực tế để góp phần đưa nước ta hoàn thành quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước như mục tiêu đã đề ra của Đảng và Nhà nước ta.
1
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ
TRONG ĐẦU TƯ
I. Khái quát về đầu tư
1. Khái niệm đầu tư
đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tư thương mại có
tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra,
từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho
phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói
chung .
2.3 . Đầu tư phát triển
2.3.1 Khái niệm
Đầu tư phát triển (ĐTPT) là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi
dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo
ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ
năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
2.3.2 Vấn đề kết quả và hiệu quả của ĐTPT
Kết quả của ĐTPT là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị,
…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật,…) và tài
sản vô hình (những phát minh, sáng chế, bản quyền,…). Các kết quả đạt được
của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội.
3
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Hiệu quả của ĐTPT phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội
thu được với chi phí chi ra để đạt kết quả đó.
Kết quả và hiệu quả ĐTPT cần được xem xét trên cả phương diện chủ đầu
tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ
động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của cơ quan
quản lý nhà nước các cấp.
Đối với đề tài về thất thoát, lãng phí (TTLP) trong đầu tư, chúng ta sẽ xem
xét nguyên nhân và giải pháp của vấn đề này theo khía cạnh ĐTPT.
II. TTLP trong ĐTPT
1. Quan niệm về thất thoát, lãng phí
1.1 Thất thoát là gì?
Thất thoát vốn trong đầu tư là tất cả các hoạt động tác động tới dự án đầu tư
TTLP xuất hiện dưới nhiều hình thức cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau.
Dưới đây là một số loại cơ bản
2.1. TTLP trong đầu tư XDCB
Đây là một dạng TTLP chi tiêu diễn rất nghiêm trọng. Thường bao gồm các
dạng sau:
- TTLP trong khâu quy hoạch (không có quy hoạch hoặc quy hoạch
không tốt).
- TTLP trong khâu xác định chủ trương đầu tư.
- TTLP trong khâu thẩm định, phê duyệt, thiết kế kỹ thuật, tổng dự
toán.
5
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
- TTLP trong khâu kế hoạch hoá đầu tư.
- TTLP trong khâu đấu thầu xây dựng.
- TTLP trong công tác chuẩn bị xây dựng.
- TTLP trong khâu tổ chức thực hiện.
- TTLP trong cơ chế quản lý giá trong xây dựng.
- TTLP trong khâu thanh, quyết toán.
2.2. TTLP khác trong ĐTPT
- TTLP trong công nghệ.
- TTLP trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.
- TTLP trong thu thuế.
III. Những khả năng dẫn đến TTLP từ đặc điểm của ĐTPT
Khi nghiên cứu về ĐTPT có thể thấy được rằng các đặc điểm của nó cũng
tiềm ẩn những khả năng dẫn đến TTLP
1. Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư
phát triển thường rất lớn có thể dẫn đến TTLP
Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Như vậy, nếu không có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các
chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu
cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
7
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
Trong quá trình đầu tư, quản lý quá trình vận hành kết quả đầu tư không
tốt, không nhanh chóng đưa thành quả đầu tư vào sử dụng đã làm cho công trình
không hoạt động tối đa được công suất, chậm thu hồi vốn và dẫn đến các hao
mòn vô hình.
Ngoài ra cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay
trong năm đómà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm
rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu
tư và rất dễ dẫn đến thất thoát lãng phí.
4. Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả
đầu tư bị thất thoát do ảnh hưởng của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã
hội vùng
Các thành quả của hoạt động ĐTPT mà là các công trình xây dựng thường
phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên. Không thể dễ dàng di
chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác nên công tác quản lý hoạt
động ĐTPT cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:
Trước tiên chính là việc chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư. Đầu tư cái
gì, công suất bao nhiêu là hợp lý… cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựa trên
những căn cứ khoa học. Đối tượng đầu tư và quy mô đầu tư không thích hợp
làm cho dự án đầu tư đó không hiệu quả. Ví dụ, công suất xây dựng nhà máy
sàng tuyển than ở khu vực có mỏ than (do đó quy mô vốn đầu tư) phụ thuộc rất
nhiều vào trữ lượng than của mỏ. Do trữ lượng than của mỏ ít mà quy mô của
nhà máy sàng tuyển lớn nên không đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động
hết công suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án.
Thứ hai là vấn đề lựa chọn địa điểm đầu tư. Để lựa chọn địa điểm thực hiện
đầu tư đúng phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ
tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hoá… Không đảm bảo xây dựng
xây dựng xong hiệu quả rất thấp, gây TTLP lớn. Tình trạng lập QH cho có hình
thức để đủ thủ tục xin vốn đầu tư, quyết định kế hoạch đầu tư không chuẩn bị kỹ
vẫn phổ biến; Khi chất lượng công trình kém, xuống cấp nhanh thì lại đổ cho
thời gian, nhiệm vụ gấp, phải bảo đảm tiến độ trên giao… Tính pháp lý của QH
thấp, phổ biến tình trạng không tuân thủ nghiêm theo QH, kế hoạch đã được
duyệt; Thay đổi bổ sung không đúng thẩm quyền làm sai lệch QH chung, chưa
tôn trọng QH của các ngành khác…
2. Trong công tác chuẩn bị đầu tư:
Công tác chuẩn bị đầu tư bao gồm: lập và thẩm định dự án đầu tư
Các nguyên nhân dẫn tới giảm chất lượng chuẩn bị dự án vừa có tính chất
chủ quan bắt nguồn từ chính các chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng ở
giai đoạn này gồm chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, cơ quan quản lý nhà nước có liên
quan và vừa có tính chất khách quan phát sinh từ các bất cập trong quy trình
quản lý đầu tư xây dựng, trong các định mức kinh tế - kỹ thuật và trong hệ thống
tiêu chuẩn, quy chuẩn.
3. Trong công tác thực hiện đầu tư
Thực hiện đầu tư bao gồm: đấu thầu công trình và thi công dự án
Công tác đấu thầu, chỉ định thầu vi phạm các quy định hiện hành. Hạ giá
thầu thấp không có căn cứ để trúng thầu hoặc trúng thầu với giá rất thấp nhưng
vẫn làm được, chứng tỏ khâu lập thiết kế dự toán không đúng; Hiện tượng thông
thầu, tiêu cực, tham nhũng để chọn nhà thầu sai dẫn đến những hiện tượng rất
nghiêm trọng như vụ Thuỷ cung Thăng Long, một số vụ của Tổng Công ty Dầu
khí...
Trong việc thi công công trình, những sai sót trong kỹ thuật thiết kế và thi
công , vi phạm về nghiệm thu, thanh quyết toán, có tiêu cực xảy ra ở phía chủ
đầu tư, cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công và cả phía nhà cung
10
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
cấp. Đồng thời hiện tượng tráo đổi vật tư, thiết bị đưa vào công trình, nâng giá,
khai khống khối lượng, cắt xén vật tư cũng đưa lại những TTLP cho công trình.
đầu tư sai là nguyên nhân quan trọng gây ra dàn trải, TTLP không nhỏ, ảnh
hưởng về lâu dài. Tuy chưa có số liệu đầy đủ nhưng nhiều chuyên gia cho rằng
trong đầu tư và xây dựng, lãng phí ở các khâu do các quyết định không sát,
không đúng chiếm khoảng 60-70% tổng số TTLP. Chưa kể tình trạng cố ý làm
sai, vi phạm pháp luật, vụ lợi trong đầu tư XDCB còn diễn ra ở nhiều dự án.
1.2 Trình độ chuyên môn thấp
Ngoài việc một số chủ thể tham gia quá trình triển khai các dự án cố ý vi
phạm các quy định quản lý dự án thì ở nhiều trường hợp khác, năng lực hạn chế,
trình độ chuyên môn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp của các chủ thể cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng, giá thành của dự án. Tại Hội thảo toàn
quốc về nguồn nhân lực ngành xây dựng mới đây đã thống nhất nhận định:
nguồn nhân lực trong XDCB vừa thiếu vừa yếu ở tất cả các khâu, các chủ thể
tham gia quản lý triển khai (chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tư vấn khảo sát, thiết
kế, giám sát, đến nhà thầu xây lắp). Thực tế này cũng đã được Đoàn giám sát
của UBTVQH ghi nhận trong quá trình làm việc với các bộ, ngành địa phương.
Báo cáo của Đoàn giám sát cho biết: Một số Ban quản lý dự án không có kỹ sư
xây dựng; Việc phân cấp mạnh cho huyện, xã trong XDCB tỏ ra vượt quá khả
năng chuyên môn của cán bộ thuộc các cấp này...
2. Cơ chế chính sách
2.1 Hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn chỉnh
Mặc dù nước ta đã có Pháp lệnh, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,
nhưng vẫn chưa có cơ chế phòng ngừa, đấu tranh một cách cụ thể, đồng bộ,
12
Nhóm thực hiện : Nhóm 8
thống nhất chặt chẽ. Những nội dung pháp luật chưa thật sự tuyên truyền sâu
rộng đến với dân, chưa thấm nhuần vào nhận thức, hành động của mọi người;
chưa có chế tài xử lý nghiêm minh, kịp thời những người vi phạm. Việc thực
hiện cải cách hành chính vừa chậm vừa lúng túng, chưa tạo ra tác động tích cực
cho phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
2.2 Cơ chế quản lý, thanh tra giám sát không hiệu quả
Một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng vốn là hiện t-
ợng TTLP trong đầu t. Trong giai đoạn 2001-2005, lợng TTLP ở mức sơ bộ 15%
thì con số cũng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong phòng chống TTLP nhng tình trạng
này vẫn diễn ra tràn lan tại các công trình, dự án; và đây vn đang là vấn đề nan
giải của các cấp các ngành cần đợc giải quyết.
TTLP hiện nay là nghiêm trọng, kéo dài suốt dọc trong tất cả các giai
đoạn đầu t, từ công tác QH đến việc chuẩn bị đầu t, thực hiện đầu t, vận hành kết
quả đầu t.
I. TTLP từ công tác QH.
QH là giai đoạn đầu tiên quyết định đầu t vào đâu, đầu t vào cái gì, quy
mô nh thế nào. Vì vậy, QH sai lầm sẽ tạo hệ lụy về lâu dài. Công tác QH của nớc
ta hiện nay còn mang tính bị động, cha làm cơ sở, kế hoạch cho TPT, dẫn đến
một số quyết định đầu t sai lầm, hoặc dự án phải điều chỉnh nhiều lần, gây TTLP
14
Nhúm thc hin : Nhúm 8
về vốn và các nguồn lực khác. Theo nhận định của một số chuyên gia kinh tế,
TTLP do công tác QH gây ra lên tới 60-70% tổng TTLP trong đầu t.
1. TTLP do QH thiu tm nhỡn di hn
QH đầu t ở nớc ta hiện nay thực sự cha có sự thẩm định một cách kỹ
càng về các căn cứ kinh tế xã hội nh điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, hay các yếu tố
về thị trờng. Từ đó, một số QH đã thể hiện rõ nét những sai sót, yếu kém: thiếu thị
trờng đầu vào; sản phẩm đầu ra không có chỗ đứng, không tiêu thụ đợc, nhà máy
buộc phải đóng cửa, gây ra lãng phí vốn đầu t.
1.1. Nhà máy thiếu nguyên liệu đầu vào.
Lãng phí trên 52 tỷ đồng nguồn vốn đầu t nhà nớc.
Theo điều tra, trong giai doạn 2001-2007, các nhà máy(NM) chế biến
rau quả của nớc ta hầu nh chỉ hoạt động với 25-30% công suất. Một điển hình là
NM chế biến cà chua của công ty xuất nhập khẩu rau quả đặt tại Hải Phòng. Hoàn
thành từ năm 2001 nhng mỗi năm NM chỉ hot động với 4,5% công suất do không
cho sản phẩm, các doanh nghiệp chỉ thấy đợc những lợi ích trớc mắt, chỉ trong
vòng 5 năm công suất ngàn