Thất thoát và lãng phí trong đầu tư. Thực trạng và giải pháp - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ
-----*****-----
BÀI THẢO LUẬN
Đề tài:
Thất thoát và lãng phí trong đầu tư. Thực trạng và giải pháp.
Nhóm sinh viên : nhóm 8
Lớp tín chỉ : KTĐT – 2
Khóa : 48
Hệ : Chính quy
Hà nội, tháng 9 năm 2008
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Danh sách thành viên nhóm 8
Họ và tên Lớp chuyên nghành
1. Lò Thị Mai Phương Kinh tế đầu tư 48A
2. Vũ Tố Quyên Kinh tế đầu tư 48A
3. Nguyễn Thị Hồng Nhung Kinh tế đầu tư 48A
4. Lê Thi Minh Thúy Kinh tế đầu tư 48A
5. Vũ Đức Linh Kinh tế đầu tư 48A
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
2
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Danh mục các từ viết tắt
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
FDI
Foreign Direct Investment
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
WTO
World Trade Organisation
Tổ chức thương mại thế giới
DN Doanh nghiệp

trong thời kỳ hiện nay, giai đoạn 2000 - 2007. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn TS. Từ Quang
Phương, TS. Phạm Văn Hùng đã hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài này.
Hà Nội, 23/10/2008Nhóm sinh viên: Nhóm 8
4
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Chương I:
Những vấn đề lý luận chung về thất thoát và lãng phí trong hoạt
động đầu tư
I. Những vấn đề lý luận chung về đầu tư.
1. Khái niệm đầu tư.
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào
đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt
được kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so
với những hi sinh về nguồn lực mà nguời đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn
lực hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả
đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản chính( tiền vốn), tài sản vật chất( nhà máy, đường
xá, bệnh viện, trường học…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học,
kỹ thuật…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong
nền sản xuất xã hội.
Đầu tư đó là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành một loại tài sản kinh
doanh nào đó như nhà xưởng, máy móc và vật tư (thường được gọi là đầu tư cho các đối
tượng vật chất) cũng như để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi ( thường gọi là đầu
tư tài chính), mà ở đây những tài sản đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn một nhu
cầu nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương
lai ( thường gọi là dự án đầu tư ).
Đầu tư đó là sử dụng vốn nhằm tạo nên các dự trữ và tiềm năng về tài sản để sinh lợi
dần trong thời gian tương lai. Ở đây cần hiểu đúng ý nghĩa của danh từ dự trữ. Ví dụ, một nhà

đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.
- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng.
- Lập dự án đầu tư.
- Thẩm định dự án để quyết định đầu tư.
2.2. Giai đoạn thực hiện đầu tư.
Giai đoạn này bao gồm các công việc sau đây:
- Xin giấy phép đầu tư.
- Chọn thầu tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng của công trình.
- Tổ chức đấu thầu.
- Ký kết hợp đồng với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến dự án.
- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện đầu tư.
2.3. Giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Vận hành các kết quả đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu của dự án đầu tư, vận hành
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
6
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
có tốt hay không là dựa vào quá trình tổ chức quản lý hoạt động, quá trình chọn lựa các
phương thức vận hành thích hợp với tùy từng dự án khác nhau.
II. Những vấn đề lý luận về thất thoát và lãng phí trong đầu tư.
1. Thế nào là thất thoát và lãng phí trong đầu tư.
• Thất thoát trong đầu tư là hiện tượng mất mát, thiệt hại không đáng có về vốn đầu
trong suốt quá trình đầu tư, từ khi quyết định chủ trương đầu tư cho đến khi dự án hoàn thành
và đưa vào sử dụng.
Phần vốn đầu tư bị thất thoát là phần vốn tuy đưa vào dự án nhưng bị lãng phí hoặc biến
mất trong quá trình triển khai thực hiện dự án. Nguyên nhân ở đây có thể do tiêu cực và tham
nhũng gây nên lãng phí hoặc do thiên tai, dịch họa và do tác động của nền kinh tế.
Thất thoát trong đầu tư được đo lường bằng giá trị thất thoát và tỷ lệ thất thoát. Giá trị
thất thoát được hiểu là hiệu số giữa tổng vốn đầu tư thực hiện với giá trị thực của công trình.
Giá trị thực là phần chi phí thực tế, hợp lý, cần thiết để xây dựng công trình đạt được mục đích
đầu tư. Tỷ lệ thất thoát là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thất thoát và tổng vốn đầu tư thực hiện

cho dự án hoặc phần chi cao hơn các quy định hợp pháp, chi không đúng quy định của dự án...
căn cứ theo mục đích và động cơ của các hành động trên mà có thể coi đó là lãng phí hay tham
ô.
Lãng phí do những chi phí, tổn hao và sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và các
nguồn lực khác trên mức hợp lý. Hoặc không đạt được mục tiêu, kết quả đã xác định, nếu có
thì chất lượng, hiệu quả ở mức thấp hơn yêu cầu đặt ra. Do những hư hao, tổn thất không đáng
có hoặc không thể được phép. Khái quát lại, những điểm nêu trên do hành vi chủ quan của cá
nhân, tập thể đều được gọi là hành vi lãng phí.
Tóm lại, lãng phí là một hành động thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý
trọng của cải, quý trọng sức người của nhà nước, của nhân dân. Một dự án đầu tư được tiến
hành lúc nào cũng có thất thoát, trong đó lãng phí chiếm đến gần 80% giá trị thất thoát. Thất
thoát lãng phí là một hành động gây kết quả tai hại đến tài sản của nhà nước, của tập thể và
đó cũng là một hành động vi phạm pháp luật.
2. Các hình thức biểu hiện thất thoát và lãng phí trong đầu tư
Thất thoát và lãng phí được xem là vấn đề nghiêm trọng hiện nay, là một trong những
nguyên nhân làm cho hiệu quả của các dự án đầu tư giảm sút, xét dưới từng góc độ khác nhau
có thể nhận diện được thất thoát và lãng phí trong đầu tư cũng khác nhau, nếu xem xét trong
từng giai đoạn của quá trình đầu tư thì ta có thể thấy một số hình thức biểu hiện rõ ràng nhất
đó là : “dàn trải, kéo dài, thất thoát về vốn, kém hiệu quả, chất lượng và tuổi thọ công
trình giảm…”. Cụ thể trong từng giai đoạn như sau:
2.1. Giai đoạn Chuẩn bị đầu tư
Chuẩn bị đầu tư là một giai đoạn quan trọng trong quá trình đầu tư, trong giai đoạn này
có hai quyết định quan trọng đó là: Quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư.
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
8
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Chủ trương đầu tư thường có biểu hiện sai lầm là việc quy hoạch sai hay không có quy
hoạch các dự án, đầu tư không có quy hoạch, không theo quy hoạch được phê duyệt hoặc phê
duyệt sai không phù hợp với đặc điểm kinh tế, điều kiện tự nhiên, dân số và lao động…cũng
sẽ dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp, đây cũng là một nguyên nhân dẫn tới thất thoát vốn đầu tư,

Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Hoặc chẳng hạn, đối với các dự án có thể gây ô nhiễm môi trường (sản xuất phân bón hay
thuốc trừ sâu…) khi chọn địa điểm nếu đặt ở gần khu dân cư đông đúc, đến lúc đưa dự án vào
hoạt động mới phát hiện và xử lý ô nhiễm thì quá tốn kém, đưa chi phí đầu tư vượt quá dự
kiến ban đầu có khi rất lớn, gây lãng phí rất nhiều tiền của.
• Khâu bố trí kế hoạch, cấp vốn đầu tư
Từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư chuyển sang giai đoạn thực hiện đầu tư phải thông qua khâu
bố trí kế hoạch và cấp vốn đầu tư. Việc bố trí kế hoạch đầu tư cũng là khâu dễ gây ra lãng phí,
thất thoát với những hiện tượng sau đây:
+ Bố trí kế hoạch không phù hợp với các mục tiêu định hướng của chiến lược, của quy
hoạch được phê duyệt, kế hoạch đầu tư hàng năm không ăn khớp với kế hoạch đầu tư trung và
dài hạn…cũng sẽ dẫn đến gián tiếp làm thất thoát và lãng phí vốn đầu tư sau này,
+ Bố trí vốn đầu tư phân tán : danh mục các dự án đầu tư trong kế hoạch đầu tư quá
nhiều, chủ yếu là các dự án quy mô nhỏ, dẫn đến vốn đầu tư càng bị phân tán làm cho thời
gian đầu tư bị kéo dài, tiến độ thực hiện dự án bị chậm lại, vốn đầu tư không phát huy được
hiệu quả, gây lãng phí vốn đầu tư.
o Trong khâu này ta có thể nhận thấy biểu hiện rõ nhất là trong các dự án xây dựng
các khách sạn du lịch và các công viên của một số thành phố, các dự án thường
được cấp vốn rất lớn và qua nhiều năm triển khai có dự án không phát huy được
hiệu quả, có dự án thì vẫn đang còn dở dang. Điều này đặt ra vấn đề cần xem xét lại
việc cấp vốn đầu tư và bố trí vốn sao cho hợp lý, nên đầu tư vào các dự án có tiềm
năng, tránh lãng phí và thất thoát.
2.2. Giai đoạn Thực hiện đầu tư.
Trong giai đoạn này ta có thể thấy biểu hiện thất thoát và lãng phí rõ ràng nhất đó là vấn
đề thời gian, vốn đầu tư của các dự án được chi ra và nằm khê đọng trong suốt những năm
thực hiện đầu tư, đó là những năm vốn không sinh lời. Thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài
thì vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn, lãng phí càng lớn.
• Khâu thiết kế
Chất lượng thiết kế một dự án đầu tư không đúng theo các quy phạm, quy chuẩn về kỹ
thuật của nhà nước, hồ sơ thiết kế không phù hợp với tình hình thực tế về địa chất, địa hình,

hiểu là bù đắp chi phí sản xuất cộng thuế giá trị gia tăng và một phần lợi nhuận tối thiểu). Điều
nay tất yếu dẫn đến hậu quả tiêu cực là bớt xén vật tư, giảm cấp vật liệu làm giảm chất lượng
dự án đầu tư. Hậu quả là doanh nghiệp bị thiệt hại, bị lỗ. Nhà nước lại bỏ ra một khoản chi phí
để khắc phục, sửa chữa công trình.
• Khâu theo dõi, kiểm tra việc thực hiện đầu tư.
Công tác theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện đầu tư của chủ đầu tư, ban quản lý dự
án, của tư vấn giám sát không chặt chẽ, thậm chí mang tính hình thức dẫn đến việc nhà thầu :
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
11
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
làm sai thiết kế; sử dụng vật tư không đúng quy cách, không đảm bảo chất lượng; bớt xén
nguyên vật liệu…các phần của dự án đầu tư nhiều khi được nghiệm thu không đúng chế độ,
khai tăng khối lượng, nghiệm thu khống khối lượng, nâng giá vật tư, nguyên vật liệu lên…
o Một số dự án như xây dựng kênh mương, nhà máy sản suất, trường học, kho bạc…
do trong quá trình xây dựng không được theo dõi, giám sát chặt chẽ nên sau khi đưa
vào sử dụng đã bị xuống cấp nghiêm trọng, công trình bị sạt lở, bị hư hỏng nặng, có
công trình thì trong quá trình thi công đã bị rút bớt xén nguyên vật liệu như thép,
thay đổi vật liệu rẻ tiền, nên các bể lọc, bể chứa đều bị rạn, nứt nghiêm trọng, có
những công trình không những gây thất thoát lãng phí về vốn mà còn gây ra những
vụ tai nạn như sập giàn dáo, sập nhà gây thiệt hại về người, về của rất đáng tiếc.
Đây là những biểu hiện cần phải được xử lý nghiêm khắc.
2.3. Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Đây là giai đoạn cuối của một dự án đầu tư, nó cũng có một vai trò rất quan trọng trong
việc quyết định sự thành công của dự án vừa thực hiện. Việc bố trí triển khai các kế hoạch để
đưa dự án vào khai thác, sử dụng cũng là khâu mà dễ gây ra lãng phí và thất thoát. Cụ thể với
từng dự án có quy mô khác nhau mà áp dụng chi phí vận hành khác nhau, tuy nhiên trên thực
tế có nhiều dự án đã sử dụng lượng chi phí vận hành quá lớn vượt quá mức cần thiết so với giá
trị thực của nó, hoặc là các kế hoạch áp dụng không hợp với các dụ án và không khả thi nên đã
dẫn tới tình trạng dự án đưa vào sử dụng không đạt hiệu quả kinh tế cũng như xã hội mong
muốn, thạm chí hoàn toàn không có hiệu quả…đây là một lãng phí to lớn sau khi đã hoàn

nhiều hơn. Ngoài ra tham nhũng làm giảm thu nhập hay tăng chi phí quốc gia, thí dụ như đút
lót nhân viên hữu trách để trả ít thuế, để khỏi trả tiền phạt, gian lận, ăn cắp của công vv... do
đó chính phủ phải mượn nợ nhiều hơn cho những chi phí quốc gia.
Thất thoát và lãng phí làm cho hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư bị giảm sút nhanh
chóng, chất lượng công trình thực hiện không đáp ứng được nhu cầu đặt ra… Một số dự án do
lãng phí vốn đầu tư nên đã dẫn tới hiện tượng thời gian đầu tư bị kéo dài, ảnh hưởng đến tiến
độ thực hiện dự án, vốn đầu tư không phát huy được hết hiệu quả của nó.
Lạm dụng tham ô, tham nhũng để gây nên thất thoát lãng phí trong đầu tư cũng gây
hậu quả nghiêm trọng, chủ đầu tư cứ chủ trương phát sinh nhiều hạng mục yêu cầu cấp trên
phải giải quyết, gây hiện tượng ỷ lại, vừa mất cân đối ngân sách nhà nước, nền kinh tế bị thiệt
hại, vừa tạo ra bất công giữa các dự án, các ngành, các địa phương…
Khi mà những hành động như rút ruột nhà nước, rút ruột công trình, bớt xén vật tư, chủ
đầu tư và bên thi công móc nối và thỏa thuận với nhau để kiếm lời vẫn diễn ra thường xuyên
thì thất thoát và lãng phí không thể lượng hóa được, điều này rất nguy hiểm và gây khó khăn
trong việc quản lý các hoạt động của dự án đầu tư, từ đây sẽ gây ra sơ hở dẫn đến phát sinh
nhiều tiêu cực hơn trong hoạt động đầu tư và nhiều hậu quả kinh tế khác…
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
13
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
2.Về mặt xã hội
Tình trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư vốn diễn ra trong tất cả các khâu, các giai
đoạn của quá trình đầu tư, điều này dẫn đến một hậu quả rất nghiêm trọng đó là hiệu quả xã
hội của các dự án đầu tư bị giảm sút nhanh chóng, chất lượng công trình thực hiện không đáp
ứng được nhu cầu, gây nhức nhối cho toàn xã hội.
Một phần hậu quả của thất thoát và lãng phí là tăng trưởng tệ nạn xã hội. Cụ thể là có
những kẻ phạm pháp tìm cách mua chuộc cán bộ, nhân viên, thành viên chính quyền có thế lực
và vai trò trong các dự án đầu tư để nhằm kiếm chác tư lợi về cho bản thân, gây thất thoát
nghiêm trọng vốn và nguyên vật liệu thi công. Nếu những viên chức này tham lam, và hành vi
những kẻ phạm pháp được che chở và trở thành “hợp pháp hoá”. Người dân hàng ngày chứng
kiến những hành vi phạm pháp nhưng không bị trừng phạt, dần dần họ quen thuộc với những

Nhóm sinh viên: Nhóm 8
15
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Chương II:
Thực trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư.
I. Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam là kết quả của số lượng hơn là của hiệu
quả đầu tư. Vốn đầu tư phát triển ngày một gia tăng cả về lượng vốn tuyệt đối, cả về tỷ lệ
lượng vốn đó so với GDP. Một con tính rất đơn giản: năm 1995, vốn đầu tư phát triển so với
GDP chỉ có 31,7%, nhưng đã làm cho GDP tăng 9,54%, tức là để GDP tăng 1% thì tỷ lệ vốn
đầu tư so với GDP mới chỉ cần 3,3% (hay suất đầu tư là 3,3 lần); còn vào năm 2003, tỷ lệ vốn
đầu tư so với GDP lên tới 36,3%, nhưng GDP chỉ tăng 7,26%, thì suất đầu tư đã lên đến 5 lần,
tức là hiệu quả đầu tư đã giảm tới 34%, hay giảm hơn 1/3 ; năm 2004, tỷ lệ vốn đầu tư so với
GDP đạt 36,3%, với suất đầu tư đạt 4,7 lần, nên tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,69%; năm 2005
tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP theo kế hoạch là 36,5%; nếu suất đầu tư chỉ đạt như năm trước
(4,7 lần) thì tốc độ tăng GDP cũng chỉ đạt khoảng 7,8%, thấp xa so với mục tiêu tăng 8,5% đã
đề ra. Đây là tỷ lệ thuộc loại cao đứng thứ 11 trên thế giới, thứ 3 ở châu Á và thứ 2 trong khu
vực Đông Nam Á. Vào năm 2006, Việt Nam được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) coi là một
“Trung Quốc đang nổi lên” và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) coi là một “ngôi sao”.
Hoạt động đầu tư ở Việt Nam tỏ ra xuất sắc về mặt số lượng, nhưng lại tương đối kém
về mặt chất lượng. Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2004 của WB đối với 23 quốc gia
cho thấy, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 3 về tỷ lệ đầu tư so với GDP, nhưng chỉ xếp thứ 17 về mặt
chất lượng và hiệu quả đầu tư.
Từ những phân tích trên có thể thấy, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ nâng cao số
lượng đầu tư sang tăng cường hiệu quả và năng suất của đầu tư. Đã đến lúc Việt Nam nên
chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu vào sang tăng trưởng dựa trên hiệu quả. Sự
chuyển biến như vậy sẽ đòi hỏi Việt Nam phải hành động trên nhiều mặt.
Theo tính toán của các tổ chức quốc tế, nếu suất đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh
chỉ có 3,7 lần thì của khu vực kinh tế nhà nước lên đến trên 7 lần, tức là cao gần gấp đôi khu
vực ngoài quốc doanh, hay hiệu quả đầu tư chưa bằng một nửa. Một mặt trong tổng vốn đầu tư

chóng của dòng vốn FDI. Mặt khác, sự kết nối giữa lĩnh vực FDI và các doanh nghiệp trong
nước vẫn còn hạn chế.
Trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2005, chỉ có 69% trong tổng số 20,8 tỷ vốn FDI
cam kết đổ vào Việt Nam được giải ngân. Năm ngoái, chưa đầy 40% trong 12,7 tỷ USD cam
kết vào năm 2006 được giải ngân. Tình hình giải ngân các khoản vay phát triển cũng diễn ra
tương tự. Do đó, một việc làm cấp thiết là Việt Nam phải tăng cường khả năng hấp thụ vốn để
giảm khoảng cách giữa lượng cam kết và lượng giải ngân của các dòng vốn từ bên ngoài đổ
vào.
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
17
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Tăng cường hiệu quả đầu tư cũng có nghĩa là những nguồn tài chính dài hạn mới cần
được phát triển để thay thế những nguồn hỗ trợ phát triển từ các nước tài trợ. Những nguồn
vốn mới này cần đến từ thị trường vốn vì các ngân hàng thương mại sẽ phải đối mặt với mức
độ rủi ro cao nếu cung cấp những khoản cho vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn
cho các dự án phát triển. Sự nổi lên của thị trường chứng khoán Việt Nam là một bước phát
triển được chào đón. Tuy nhiên, cần có nhiều hơn nữa các biện pháp cải cách, trong đó có việc
thiết lập những khung pháp lý phù hợp để đảm bảo sự vận hành trơn tru của thị trường vốn.
Hình 1: Nguồn vốn đầu tư qua các năm (tỷ đồng)
- Hiệu quả đầu tư thấp từ khu vực doanh nghiệp nhà nước
Các nền kinh tế thành công trong khu vực đều duy trì một tỷ lệ cao trong thời gian dài
như Thái Lan khoảng 30% GDP. Việt Nam hiện đã và đang cố gắng thu hút vốn đầu tư từ nhà
nước, dân cư và vốn bên ngoài để có được tỷ lệ đầu tư rất cao tới gần 40% GDP nhằm đạt tốc
độ phát triển bình quân 8% giai đoạn 2000-2007.
Tuy nhiên, vấn đề ở đây là sự gia tăng vốn đầu tư từ khu vực quốc doanh hiện đang
nhận được sự tài trợ “hào phóng” của Chính phủ thông qua việc thực hiện các dự án công hay
tín dụng ưu đãi nhưng lại đóng góp rất ít vào động lực phát triển và xuất khẩu. Điều này thể
hiện qua một số chỉ tiêu cụ thể như chiếm 43,9% trong tổng đầu tư, song chỉ tạo 41,1% tăng
trưởng công nghiệp thực hay đạt 10% giá trị gia tăng trong giai đoạn 6 năm (2000-2006).
Trong khi đó, hai khu vực còn lại là vốn đầu tư nước ngoài và khu vực dân doanh chỉ chiếm tỷ

nhiều vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở, chưa đầu tư thoả đáng cho các dự án có khả năng thu hồi
vốn, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị làm tăng GDP.
Hiện đầu tư công của chúng ta đã vượt xa so với khả năng của ngân sách nhà nước.
Trong khi đó, đầu tư cho cơ sở hạ tầng đã chiếm tới 50% ngân sách. Điều này sẽ khiến đầu tư
cho an sinh xã hội, giáo dục bị ảnh hưởng."Nếu chưa tìm được đối tác thích hợp sẽ tổ chức
đấu thầu lại."
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
19
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
Bội chi NSNN so với GDP
Nguồn: Bộ Tài chính
Giai đoạn từ năm 2001-2007, NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể. Tốc độ tăng thu
hằng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi bình quân hằng năm đạt 18,5%. Bội chi NSNN
trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-5%
GDP. Nếu chỉ xét ở tỷ lệ so với GDP, cũng thấy bội chi NSNN trong 7 năm trở lại đây tăng
cao hơn các năm trước đó khá nhiều (bình quân khoảng 4,95% GDP) vì giai đoạn năm 1991-
1995, mức bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 2,63% và giai đoạn từ năm 1996-2000 ở mức
3,87% so với GDP.
- Tăng quá mức của các dòng vốn từ bên ngoài
Đối với Việt Nam, vốn nước ngoài đã và đang đóng góp phần quan trọng trong gia
tăng đầu tư, chi tiêu và kinh tế đối ngoại. Hàng năm, dòng vốn từ bên ngoài chảy vào Việt
Nam rất lớn dưới các hình thức: viện trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư nước ngoài (đầu
tư trực tiếp nước ngoài FDI và đầu tư tài chính nước ngoài FFI) và kiều hối. Trong năm 2007,
tổng vốn từ bên ngoài ước đạt 14,6 tỷ USD hay khoảng 20% GDP, trong đó từ đầu tư nước
ngoài 8,6 tỷ USD và từ kiều hối 5,0 tỷ USD chưa kể gần 1,0 tỷ USD giải ngân ODA. Số tiền
ngoại tệ này đã góp phần không chỉ vào tăng trưởng kinh tế mà còn bù đắp cho thâm hụt cán
cân thương mại và tăng dự trữ quốc gia.
Tuy nhiên, việc tăng quá nhanh của các dòng vốn bên ngoài mà đặc biệt là FFI đang
gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế nói chung mà trực tiếp đến thị trường chứng khoán và
bất động sản nói riêng. Trong năm 2007, lượng vốn FFI chảy vào Việt Nam lên tới gần 6 tỷ

nước ngoài và trái phiếu tư nhân, thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước
(SCIC); quá trình cổ phần hoá đang diễn ra tại Việt Nam bao gồm cả ngân hàng thương mại
quốc doanh; tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống điện và giao thông, cải cách
khung pháp lý dành cho các nhà đầu tư nước ngoài.
• Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
21
Lớp tín chỉ: KTĐT -2

Trong giai đoạn từ 1988 đến tháng 9/2007, đã có 8.058 dự án FDI được triển khai ở Việt Nam.
Lượng vốn đầu tư trong gần 20 năm đạt đến con số 72,86 tỉ USD nhưng cho đến thời điểm
9/2007 mới chỉ thực hiện được khoảng 42,5% – một hiệu suất không hề cao. Nếu bổ ra theo
các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ thì càng thấy rõ.
II.Thực trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư giai đoạn 2000 – 2007.
Trong báo cáo của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII có đánh giá việc thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội năm
1991-2000 đã nhận định “ cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý. Tình trạng bao cấp và bảo hộ
Nhóm sinh viên: Nhóm 8
22
Lớp tín chỉ: KTĐT -2
còn nặng. Đầu tư của Nhà nước còn thất thoát và lãng phí ” . Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
nhà nước hiện nay vẫn chưa cao, đầu tư dàn trải đi kèm với tình trạng thất thoát vốn là một
trong những lãng phí lớn nhất.
Thất thoát và lãng phí có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương; ở
mọi cấp từ trung ương xuống cơ sở; các cơ quan hành chính nhà nước; các doanh nghiệp, các
cơ quan sự nghiệp; các tổ chức chính trị - xã hội; trong các gia đình và từng người dân. Thất
thoát và lãng phí có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, với mọi đối tượng. Thất thoát diễn ra ở mọi
giai đoạn của quá trình đầu tư cũng như trong mọi lĩnh vực.
Trong những năm qua bên cạnh những thành tựu và tiến bộ đã đạt được trong
ĐT&XD, vẫn còn những mặt yếu kém, bất cập là quản lý còn lỏng lẻo, dàn trải, thiếu tập

16/17 dự án vi phạm thanh toán, quyết toán công trình.
Tổng số sai phạm về tài chính trong 17 dự án này là 870 tỷ đồng. Các địa phương đã
kiến nghị xử lý 136 tỉ đồng, trong đó thu về ngân sách nhà nước 65 tỉ đồng, còn lại là xuất
toán, giảm trừ quyết toán, buộc đơn vị thi công phải sửa chữa, khắc phục hậu quả 71 tỉ đồng;
kiến nghị xử lý kỷ luật 515 người, chuyển cơ quan điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự 7 vụ.
Các vi phạm này liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan thuộc Bộ Giao thông Vận tải, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng, Bộ Văn hoá - Thông tin,
Bộ Y tế và UBND các tỉnh: Nghệ An, Lào Cai, Thái Nguyên, các Tổng Công ty: Dệt May,
Rượu Bia, Dầu khí, Xi măng, Cục Hàng không và Cụm cảng sân bay quốc tế Nội Bài.
Năm 2003, Thanh tra 14 dự án phát hiện sai phạm về kinh tế 19,1 % số vốn được kiểm
tra. Trong hai năm 2002 và 2003 thanh tra các bộ và địa phương phát hiện số sai phạm về tài
chính chiếm 1,57 % số vốn của 2518 dự án đã thanh tra. Theo kết quả thanh tra một số dự án,
công trình với số vốn 8235 tỷ đồng đã phát hiện ra tổng số sai phạm về tài chính là 1235 tỷ,
chiếm trên 14% tổng số vốn
Trong năm 2004 Hà Nội đã có kết quả 47/54 dự án tiến hành thanh, kiểm tra, Kết quả
là con số lãng phí, thất thoát trong năm được phát hiện là 3,6%, đã giảm hẳn so với năm ngoái
(năm 2003 thất thoát, lãng phí trên 4%). Qua triển khai 197 cuộc thanh tra kinh tế xã hội,
thành phố đã phát hiện sai phạm, thất thoát tới 5.285 triệu đồng trong 48 dự án (chiếm 3,6%
tổng vốn đầu tư đã kiểm tra).
Năm 2006, Thanh tra Chính phủ đã tiến hành 38 cuộc thanh tra lớn theo chương trình
kế hoạch và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Qua thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm
trong quản lý, chi tiêu tài chính, lãng phí, thất thoát với tổng giá trị hơn 1.560 tỷ đồng và 5,47
triệu USD. Thanh tra các bộ, ngành, địa phương cũng đã tiến hành 12.603 cuộc thanh tra, kiểm
tra (chủ yếu là các cuộc thanh tra về đầu tư xây dựng), qua đó phát hiện sai phạm với tổng giá
trị 4.822 tỷ đồng. Từ thực tiễn các cuộc thanh tra nêu trên có thể rút ra kết luận: Hầu hết các
dự án được thanh tra đều có sai phạm và sai phạm diễn ra ở tất cả các khâu, các giai đoạn của
quá trình đầu tư. Đáng chú ý, năm 2006 Tổng hội xây dựng đã công bố danh sách 43 dự án
đầu tư xây dựng có thất thoát, lãng phí nhằm chống lãng phí, thất thoát trong đầu tư XDCB (có
danh sách kèm theo).
Nhóm sinh viên: Nhóm 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status