Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong vài thập kỷ trở lại đây, cùng với khoa hoc và công nghệ con người
đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của kinh tế. Tuy nhiên thực tế những vấn
đề gặp phải như sự nghèo đói, ô nhiễm môi trườn, nước sạch… đang đặt ra
cho các quốc gia một câu hỏi lớn đó là làm sao vừa mang lại cuộc sống cho
người dân của nước họ được tốt hơn nhưng vẫn đảm bảo giả quyết được các
vấn đề có tính chất toàn cầu như trên. Đăc biệt các vấn đề đó đang diễ ra
mạnh mẽ ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam kể từ
khi đổi mới nền kinh tế thay đổi nhanh chóng, tuy nhiên hậu quả của nó là sự
cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, nghèo đói và bệnh tật… cũng đang
làm cản trở lớn trong mục tiêu phát triển bền vứng của Đảng và Nhà nước.
Sớm nhận thức được điều đó, trong những năm gần đây chính phủ đã quan
tâm hơn tới những vấn đề này trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường. Luật bảo
vệ môi trường năm 93 và sủa đổi năm 2005 luật bảo vệ môi trường được sửa
đổi tạo khunng pháp lý và là cơ sở cho các chính sách về môi trường ra đời.
Sự ra đời của quỹ Bảo Vệ Môi Trường năm 2003 nhằm hỗ trợ cho hoạt động
phát triển bền vững. Tất cả những yếu tố đó cho thấy Việt Nam đang và sẽ
chuẩn bị cho tiến trình phát triển bền vững. Song do đặc điểm của nền kinh
tế, kinh nghiệm, sự quản lý yếu kém…nên vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế
trong chính sách quản lý và bảo vệ môi trường của nước ta Để mang lại nhận
thức đúng đắn và tìm hiểu hoạt động thực tiễn hoạt động của quỹ Bảo vệ Môi
Trường Việt Nam cũng như những vấn đề còn tồn tại và hạn chế từ phía quỹ
và từ phía chính sách của Nhà Nước tôi đã chọn đề tài nghiên cứu "Thực
trạng hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam và các bất cập về
chính sách vĩ mô trong hoạt động cho vay vốn bảo vệ môi trường của quỹ
Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam”
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Vấn đề nghiên cứu trả lời cho câu hỏi “hoạt động của quỹ bảo vệ Môi
khi nền kinh tế rơi vào tình trạng phát triển nóng ,tốc độ tăng trưởng đi kèm
với lạm phát cao nhằm giúp nền kinh tế ổn định. Trong trường hợp này hạn
chế tiêu dùng và đầu tư xã hội là mục đích của chính sách.
1. Chính sách thuế
Thuế là khoản đóng góp theo nghĩa vụ bắt buộc được quy định bằng luật
mà mỗi thành viên trong xã hội động kích thích hay kìm hãm kinh tế mà còn
có mối quan hệ mật thiết đến đời sống vật chất và mỗi tổ chức kinh tế phải
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
3
Chuyên đề tốt nghiệp
nộp vào ngân sách nhà nước. Thuế không những là nguồn thu quan trọng có
tác, tinh thần của mọi người dân trong xã hội.
Thuế là công cụ quan trọng của chính sách tài khóa nhằm điều tiết kinh
tế vĩ mô. Ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thì vai trò quan
trọng nhất của thuế là huy động các nguồn thu để tài trợ cho các hoạt động
công cộng. Nó còn có tác động lớn đến sự ổn định thu nhập và giá cả. Chẳng
hạ khi chính phủ có thâm hụt ngân sách thì một trong những biện pháp bù đắp
là tăng thuế, thu nhập khả dụng của dân cư giảm đi làm giảm tiêu dung, giảm
sức mua và do đó có thể làm giảm giá , ảnh hưởng đến sản xuất và sản lượng
của nền kinh tế. Gần đây chính phủ đã và đang có biện pháp tăng cường quản
lý thuế thu nhập cá nhân. Đây là loại thuế quan trọng trong việc giúp chính
phủ phân phố lai thu nhập, của cải của xã hội nhằm nần cao phuc lợi xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân cao có thể gây ra ảnh hưởng người dân tiết kiệm hơn
và điều ngược lại thì tiết kiệm ít hơn. Vì vậy khi hoạch định chính sách thuế ,
các nhà hoạch định phải chú ý kết hợp mục tiêu huy động nguồn lực cho ngân
sách nhà nước với mục tiêu khác như khuyến khích tăng nguồn lực cho khu
vực kinh tế tư nhân, cải thiện phân phối thu nhập và tính khả thi trong quản
lý. Để có một hệ thống thuế tốt thì các nhà hoạch định cần chú ý đến các tính
chất như sau:
+ Hiệu quả kinh tế: thuế là cần thiết nhưng khi hoạch định cần tôn trọng
hiện pháp luật thuế đối với cả cơ quan thu thuế và đối tượng nộp thuế. Trong
một số trường hợp số thuế thu được thấp trong khi chi phí quản lý lớn sẽ
không đảm bảo được hiệu quả chung của nền kinh tế.
Một đề xuất nào đó sẽ ảnh hưởng ra sao tới hiệu quả của nền kinh tế? Nó
có tạo ra hay làm gia tăng những xáo trộn, bóp méo trong cơ chế giá mà từ đó
có thể ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng và nhà sản xuất không? Một
sắc thuế áp dụng đối với hàng hóa này mà không áp dụng đối với hàng hóa
khác có thể khiến người tiêu dùng chuyển sang tiêu dùng những hàng hóa
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
5
Chuyên đề tốt nghiệp
không phải chịu thuế, và điều này có thể như mong muốn hoặc cũng có thể
không như mong muốn của nhà hoạch định chính sách thuế. Hơn nữa, việc
đánh thuế có thể làm cho những méo mó đang tồn tại bị mất đi, và một ví dụ
thường thấy là việc đánh thuế đối với việc gây ô nhiễm
1.2. Thuế và tính công bằng
Đánh thuế đối với các thành viên kinh tế còn mang lại nguồn thu cho
chính phủ, thông qua đó chính phủ có thể dùng nó để phân phối lại, đầu tư
cho cơ sở hạ tầng giao thông công cộng, các công trình phúc lợi xã hội, các
chương trình như: xóa đói giảm nghèo vay vốn phát triển kinh tế, bảo vệ môi
trường, trợ cấp cho người tàn tật, người già không nơi nương tựa…
Thuế cần đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế giữa các đối
tượng. ở đây chúng ta cần phải hiểu rằng công bằng không có nghĩa là cào
bằng bình quân giữa các đối tượng mà cần hiểu theo hai đặc tính công bằng
đó là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Công bằng
theo chiều ngang có nghĩa là các đối tượng nộp thuế có thu nhập như nhau thì
chịu mức thuế suất bằng nhau. Công bằng theo chiều dọc có nghĩa là đối
tượng nộp thuế có thu nhập lớn hơn thì chịu mức thuế suất lớn hơn. Chẳng
hạn ,theo quy định của thuế thu nhập cá nhân, người có thu nhập cao hơn thì
phải nộp mức thuế lớn hơn người co thu nhập thấp hơn. Sở dĩ có nguyên lý
Tháng 10 năm 2010 dự thảo luật thuế bảo vệ môi trường đã được quốc
hội thông qua và dự định sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2012. Có thể
nói đây là lần đầu tiên luật thuế môi trường ra đời cho thấy sự quan tâm
nghiêm túc của nhà nước đến vấn đề môi trường đang suy thoái trầm trọng
như hiện nay. Luật thuế bảo vệ môi trường cùng với luật bảo vệ môi trường
sửa đổi năm 2005 góp phần hoàn thiện tính đồng bộ trong khung pháp lý và
đảm bảo chủ chương phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước .
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Nội dung của Luật Thuế môi trường
Luật Thuế môi trường dự thảo 5 nhóm hàng bao gồm: xăng dầu, than,
dung dịch HCFC, túi nhựa xốp, thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử
dụng là những mặt hàng phải chịu thuế môi trường. Trong đó, xăng dầu chịu
mức thuế từ 1.000-4000 đồng/lít (so với dự thảo trước đây mức thuế đã giảm
xuống 2.000 đồng/lít), nhiên liệu bay 1.000-3000 đồng/lít, dầu từ 300-2.000
đồng/lít. Còn than chịu mức thuế từ 6.000-30.000 đồng/tấn; dung dịch HCFC
từ 1.000-5.000 đồng/kg; túi nhựa xốp 20.000-30.000 đồng/kg và thuốc bảo vệ
thực vật hạn chế sử dụng từ 500-5.000 đồng/kg.
Dự thảo Luật Thuế môi trường cũng quy định người nộp thuế là tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sản xuất và nhập khẩu hàng hóa thay vì sản xuất và kinh
doanh. khi Luật chính thức được đi vào thực tiễn, các cơ quan Hải quan ở các
cửa khẩu sẽ là người trực tiếp tham gia việc thực thi bởi đối tượng thu thuế
trong Luật Thuế bảo vệ môi trường chính là những sản phẩm hàng hóa khi sử
dụng sẽ gây ra ô nhiễm môi trường. Đối với hàng nhập khẩu và hàng sản xuất
trong nước thì bộ Tài Chính sẽ trực tiếp thu.
Việc ban hành một luật thuế môi trường là rất cần thiết để hạn chế những
tác động gây hại cho môi trường từ các doanh nghiệp và người dân. Đã có
nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện đánh thuế môi trường rất thành công
như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, hay Ấn Độ…Chúng ta có thể học hỏi thêm
độ
tăng
chi
ngân
sách
vẫn
tiếp
tục
duy
trì
ở
mức
cao, trung
bình
khoảng
là
27.5%
và
24.5%. Từ năm 2008 trở lại đây mức chi tiêu chính phủ còn cao hơn nữa.
Nguyên
nhân
là
do
chính
phủ
thực
hiện
cải
cách
tiền
lương,
sẽ
còn
tiếp
tục
điều
chỉnh cho phù hợp với tình hình hiện tại của nền kinh tế. Một nguyên nhân
khác là do chính phủ đã tăng chi kích cầu sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm
2008. Qua đó chính phủ đã tăng đầu tư công, hỗ trợ lãi xuất ngắn, trung và
dài hạn cho các doanh nghiệp sản xuất…
làm tăng bội chi của chính phủ. Đó
cũng chính là nguyên nhân góp phần làm gia tăng tình hình lạm phát, giá cả
hàng hóa và dịch vụ tăng trong những năm gần đây gây khó khăn cho đời
sống một bộ phận người dân.
Đồ thị: kết quả thu chi ngân sách 1995-2008
Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế( 1998,2003) và ngân hang thế giới (2009)
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
9
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2 Chi tiêu công cho môi trường
Về việc chi ngân sách cho vấn đề bảo vệ môi trường thì cùng với sự ra
đời của Luật thuế Môi trường năm 1993 và sửa đồi năm 2005, Hàng năm
chính phủ đã giành một khoản ngân sách đầu tư vào một số công trình giải
quyết vấn đề môi trường như: các nhà máy xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt,
công nghiệp… và dành kinh phí để hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp đầu
tư vào các lĩnh vực môi trường, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hệ
thống xử lý rác thải gây ô nhiễm trong hoạt động sản xuất. Đặc biệt với quyết
tổ chức, cá nhân có các dự án đầu tư hoặc phương án đề nghị tài trợ thực hiện
các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; dự
án đầu tư thực hiện việc phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố
môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải quyết các vấn
đề môi trường cục bộ nhưng có phạm vi ảnh hưởng lớn.
Tiêu chí xét duyệt dự án
•Tiêu chí 1: Tính cấp thiết và hiệu quả bảo vệ môi trường.
•Tiêu chí 2: Quy mô và đặc thù.
•Tiêu chí 3: Tính kinh tế và khả năng trả nợ.
•Tiêu chí 4: Tính nhân rộng, bền vững.
•Tiêu chí 5: Ưu thế áp dụng công nghệ tiên tiến phù hợp, đặc biệt là
công nghệ trong nước.
•Tiêu chí 6: Phục vụ trực tiếp các chính sách của Nhà nước về bao vệ
môi trường.
Các Lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ tài chính
•Xử lý chất thải công nghiệp của các khu công nghiệp (KCN);
•Xử lý ô nhiễm môi trường của các đơn vị trực thuộc QĐ64 (xử lý triệt
để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng);
•Xử lý nước thải của các nhà máy, xi nghiệp;
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
11
Chuyên đề tốt nghiệp
•Xử lý ô nhiễm làng nghề (nước, không khí, chất thải rắn);
•Xử lý chất thải sinh hoạt;
•Xử lý khói bụi xi măng và các loại bụi khác;
•Triển khai các công nghệ sạch, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng
lượng;
•Sản xuất các sản phẩm bảo vệ môi trường;
•Xã hội hóa thu gom rác thải.
Các nội dung ưu tiên hỗ trợ tài chính
- Hồ sơ vay vốn được Quỹ thẩm định và chấp nhận;
- Có khả năng tài chính và khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết ghi tại
hồ sơ đề nghị vay vốn;
- Phải đảm bảo nguồn vốn đối ứng tham gia đầu tư theo đúng tiến độ đã
xác định trong hồ sơ đề nghị vay vốn;
- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Quỹ.
•Mức vốn vay:
- Bộ Tài chính hướng dẫn quy định về mức vốn cho vay của Quỹ Bảo vệ
môi trường Việt Nam.
- Căn cứ hướng dẫn của Bộ Tài chính, Giám đốc Quỹ quyết định cho vay
trong phạm vi khả năng nguồn vốn cho phép và phù hợp với kế hoạch sử
dụng vốn, kế hoạch thu - chi tài chính hàng năm đã được Hội đồng quản lý
Quỹ phê duyệt.
•Thời hạn vay
Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với khả năng nguồn vốn của
Quỹ, điều kiện cụ thể của chương trình, dự án vay vốn và khả năng trả nợ của
người vay, nhưng không quá 10 (mười) năm. Trường hợp đặc biệt do Hội
đồng quản lý Quỹ quyết định.
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
13
Chuyên đề tốt nghiệp
•Lãi suất vay
Lãi suất cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam do Giám đốc
Quỹ quyết định đối với từng dự án vay vốn cụ thể thuộc đối tượng quy định
của Quỹ nhưng không vượt quá mức trần lãi suất áp dụng đối với các khoản
cho vay với lãi suất ưu đãi của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam do Bộ Tài
chính quy định.
•Bảo đảm tiền vay
- Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam cho vay trên cơ sở có tài sản bảo
đảm bằng các hình thức thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Trình tự, thủ
trữ ngoại tệ …Tuy nhiên trong thời gian gần đây do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế năm 2008 và sự yếu kếm trong công tác quản lý tiền tệ
thì chính sách này liên tục không ổ định.
III. Một số nghiên cứu có liên quan
1. Nghiên cứu trong nước.
Chiến lược quốc gia về BVMT đến năm 2000 và tầm nhìn đến năm 2020
(NESP 2010) đã đưa ra 4 mục tiêu tổng quát và đưa ra bức thông điệp chung
về sự cần thiết ngăn chặn ô nhiễm, các khu vực suy thoái nghiêm trọng, đảm
bảo phát triển bền vững, xây dựng cơ chế chính sách tài chính thích hợp.
Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2001 cũng nhận định rằng
tài chính hiện chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chồng chéo và khuyến nghị “ cần
sớm thống nhất về nguyên tắc và cơ chế kế hoạch hóa và cung cấp tài chính
cho hoạt động BVMT".
Luật BVMT Việt nam năm 1993, luật sửa đổi năm 2005 được Quốc hội
thông qua và có hiệu lực từ giữa năm 2006 đã được xem như là một kỳ tích
của Việt nam trong việc xây dựng văn bản pháp luật cho vấn đề Môi trường.
Nghị định 80 hướng dẫn chi tiết hơn việc thực thi luật.
Nghiên cứu của “ Đánh giá thực trạng hoạt động VEPF, đề xuất ý kiến
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
15
Chuyên đề tốt nghiệp
giải pháp phát triển bền vững” ( Nguyễn đức Chi 2007) và “Đánh giá và đề
xuất nhằm nâng cao khả năng huy động vốn của VEPF” ( Bùi Công MInh
2007) đã cho thấy rất nhiều bất cập trong cơ chế chính sách cũ cung cấp rất
nhiều những thông tin cho việc nhận định cần thiết xây dựng lại cơ chế chính
sách tài khóa và tiền tệ.
“Sổ tay hướng dẫn tiếp cận các nguồn tài chính cho các doanh nghiệp
BVMT” của WB được triển khai xây dựng năm 2008 và dự kiến sẽ phổ biến
rộng rãi cho các doanh nghiệp trong nước nhằm giới thiệu và cung cấp thông
tin về các cơ chế tài chính phù hợp mà các doanh nghiệp có thể tiếp cận và
người dân,gìn giữ của cải tài nguyên cho thế hệ tương lai.
Về việc điều hành các chính sách vĩ mô cần có sự phối hợp đồng bộ các
trong cải cách.hiện nay cùng với sự ra đời của luật bảo vệ môi trường và dự
thảo luật thuế bảo vệ môi trường nặm 2010 thi các chính sách tài khóa và tiền
tệ có tác động trực tiếp và quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường hiện
nay. Trong chính sách tỷ giá hối đoái, việc điều chỉnh tỷ giá có ảnh hưởng
đến giá cả trong nước và quốc tế, thay đổi tỷ giá cũng là điều kiện tiên quyết
trong thay đổi chính sách thương mại, đặc biệt trong điều kiện mở cửa. Tuy
nhiên, không có thay đổi trong chính sách thương mại thì việc thay đổi tỷ giá
sẽ vận hành không có hiệu quả. Trong sự phối hợp với các lĩnh vực khác của
nền kinh tế, việc điều chỉnh theo hướng thay đổi tỷ giá không mang tính chất
cứng nhắc mà được xem như là phù hợp với các giai đoạn phát triển khác
nhau của nền kinh tế.
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
17
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA QUỸ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
I. Giới thiệu chunbg về quỹ BVMT Việt Nam.
Theo quyết định 82/2002/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày 26
tháng 6 năm 2002 thì quỹ bảo vệ Môi Trường Việt Nam ra đời. Mục tiêu và
nhiệm vụ của quỹ là bảo vệ moi trường, hỗ trợ tài chính cho các dự án đầu tư
liên quan đến lĩnh vực môi trường nhằm góp phần vào kế hoạch phát triển
bền vững của chính phủ.
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính nhà nước trực
thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và chịu sự quản lý nhà nước về tài
chính của Bộ Tài chính. Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng
phải bảo toàn vốn điều lệ và tự bù đắp chi phí quản lý.
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là Quỹ bảo vệ môi trường quốc gia.
Quỹ có chức năng tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; các
Hoạt động
tài trợ
Địa phương
Vốn tài trợ
(triệu đồng)
Năm
tài trợ
1
Tài trợ kinh phí cho giải
thưởng cuộc thi Báo trí toán
quốc về môi trường lần 2
do Bộ Tài nguyên và Môi
trường và Hội nhà báo Việt
Nam tổ chức
Hội nhà báo
Việt Nam
62 2005
2
Tài trợ để xử lý môi trường,
tiến hành kiểm tra đánh giá
mức độ ô nhiễm nguồn nước
do ảnh hưởng của bão số 7
Sở Tài nguyên
và Môi trường
Tỉnh Nam
định
200 2005
3
Tài trợ để xử lý môi trường,
tiến hành kiểm tra đánh giá
Sở Tài nguyên
và Môi trường
Tỉnh Quảng
Nam
10 2005
7
Tài trợ để đánh giá mức độ
ô nhiễm môi trường sau lũ
lụt
Sở Tài nguyên
và Môi trường
Tỉnh Bình
định
10 2005
8
Tài trợ để đánh giá mức độ
ô nhiễm môi trường sau lũ
lụt
Sở Tài nguyên
và Môi trường
Tỉnh Quảng
Bình
10 2005
9
Tài trợ để đánh giá mức độ
ô nhiễm môi trường sau lũ
lụt
Sở Tài nguyên
và Môi trường
Tỉnh Quảng trị
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Quảng Nam
14
Tài trợ khắc phục hậu quả
cơn bão số 6
Sở Ttài
nguyên và Môi
trường Tỉnh
Quảng ngãi
20 2006
15
Tài trợ khắc phục hậu quả
cơn bão số 6
Sở Tài nguyên
và Môi trường
Tỉnh Bình
định
20 2006
16
Tài trợ khắc phục hậu quả
cơn bão số 6
Sở Ttài
nguyên và Môi
trường Tỉnh
Hà tĩnh
30 2006
17
Tài trợ khắc phục hậu quả
cơn bão số 6
Tài trợ cho 31 nhiệm vụ
khắc phục sự cố môi
trường, tuyên truyền, giải
thưởng môi trường 3630 2008
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
21
Chuyên đề tốt nghiệp22
Khắc phục sự cố môi
trường sau bảo
Gồm 11
tỉnh/thành phố
(Quảng
Bình,Quảng
Trị, Thừa
Thiên Huế, Đà
Nẵng, Quản
Nam, Quảng
Ngãi, Bình
Định,Phú Yên,
Đắc Lắc ,Bắc
Cạn
2200 2009
23 Tài trợ cho 6 dự án, nhiệm
vụ bảo vệ môi trường
300
2009
Tổn
dự án sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng đều được vay tiền của quỹ.
Đây là các dự án nằm trong ưu tiên của Chính phủ, trong đó có các đơn vị
nằm trong Quyết định 64. Nhưng với số lượng khoảng 4000 cơ sở doanh
nghiệp nên Quỹ sẽ phải chọn những vấn đề cấp bách hơn như: ưu tiên cho
giải quyết môi trường lưu vực sông Cầu, Nhuệ-Đáy, Đồng Nai, sông Hàn và
sông Hương.
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 2: Giá trị các hợp đồng cho vay đến hết tháng 2/2011
STT Tổng số (tỉ đồng) năm
1 4,89356 2004
2 15,75666 2005
3 39,2607 2006
4 26,4613 2007
5 6823 2008
6 172,0083 2009
7 2205274 2010
8 582,13792 18/2/2011
(Nguồn: Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam)
Nói chung hoạt động tín dụng ,đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường
phần nào đã đáp ứng về vốn cho các nhà đầu tư môi trường. Hoạt động này đã
có bước phát triển mạnh, đối tượng phục vụ không chỉ là các dự án lớn hang
chục tỉ đồng, mà còn cả những dự án nhỏ dưới 1 tỉ đồng của các hộ sản xuất
kinh doanh. Nguồn vốn cho vay của Quỹ đã góp phần cải thiện môi trường ở
các điểm nóng về ô nhiễm môi trường, như các khu vực công nghiệp, đặ biệt
khu vực phía Nam ( Đồng Nai, Bình Dương), các nhà máy dệt ,nhuộm, nhà
máy xi măng, giấy, cà phê, ô nhiễm môi trường ở Đồng Bằng Sồn Cửu Long,
cũng như hỗ trợ các dự án tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng sạch
đồng thời cũng giải quyết vấn đề bức xúc hiện nay là rác thải sinh hoạt, ô
quan đến hoạt động của quỹ. Tham dự hội nghị trao đổi kiến thức trong lĩnh
vực tài chính carbon theo cơ chế phát triển sạch tổ chức tại Hubei, Trung
Quốc, hội thảo “ xúc tiến thương mại CDM” tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc.
Tham dự cuộc họp của ban chỉ đạo thực hiện công ước khung của Liên Hợp
Quốc về biến đổi khí hậu và CDM về việc phê duyệt văn kiện thiết kế dự
SV: Nguyễn Văn Tiến - Lớp: Kinh tế học 49
25