1
I-Tổng quan về các khu vườn quốc gia của Việt Nam.
Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định
pháp luật của chính quyền sở tại. Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi
sự khai thác, can thiệp bởi con người. Vườn quốc gia thường được thành lập ở
những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có
hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động-thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao
cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người. Theo quyết định
số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt
Nam, thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001
về Quy chế quản lý rừng thì vườn quốc gia là một dạng rừng đặc dụng, được xác
định trên các tiêu chí sau:
• Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập
nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều
hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động
rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp.
• Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn
rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và
du lịch sinh thái.
• Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái
đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của
vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự
nhiên của vườn
2
1. Việt Nam hiện nay có bao nhiêu Vuờn Quốc gia?
Hiện nay,Chính phủ Việt Nam đang rà soát,sắp xếp lại hệ thống các khu bảo tồn
gồm 13 Vuờn Quốc gia với tổng diện tích 320000 ha, 61 khu bảo tồn thiên nhiên
và 34 khu rừng Văn hóa-Lịch sử -Môi truờng. Các khu vuờn quốc gia của Việt
Nam hiện nay có:Vườn quốc gia Ba Bể (Cao Bằng) : 7.610; Vuờn Quốc gia Ba
Vì (Hà Tây) : 7.377 ha; Vuờn Quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) :22.031 ha;
• Đồng thời tạo thuận lợi cho đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khao học trong
và ngoài nước, tham quan học tập.
• Khai thác thế mạnh của thiên nhiên để phát triển du lịch sinh thái, hướng
dẫn người dân trong việc tạo việc làm, tham gia các hoạt động dịch vụ
du lịch, cải thiện đời sống cho đồng bào, phát triển kinh tế - xã hội địa
phương, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững an ninh quốc phòng.
• Tôn tạo, bảo tồn rừn gắn với cảnh quan và quần thể di tích văn hoá, lịch
sử.
• Xây dựng cơ sở hạ tầng Vườn, tạo điều kiện cho nghiên cứu, bảo tồn hệ
động, thực vật rừng. Đồng thời tạo thuận lợi cho đẩy mạnh hợp tác
nghiên cứu khao học trong và ngoài nước, tham quan học tập.
3-Giá trị đa dạng sinh học ở các khu bảo tồn:
Điều kiện khí hậu ôn hòa đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự
phong phú về các loài sinh vật rừng ở nước ta. Theo danh mục các loài thực vật,
động vật đã được thống kê hiện nay nước ta có hơn 20.000 loài thực vật trong đó
có khoảng 2.300 loài dã được nhân dân đưa vào sử dụng và làm đồ gỗ xây dựng,
4
làm thuốc,thực phẩm, thức ăn gia súc và làm cảnh. Hệ động vật nước ta có hàng
chục nghìn loài trong đó có 275 loài thú, 380 loài chim .180 loài bò sát, 80 loài
ếch nhái… Sự phong phú về hệ thực vật,động vật là nguồn tài nguyên thiên
nhiên quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
- Việt Nam là quốc gia có đa đạng sinh học đứng thứ 16 trên thế giới, với trên 75
loài duy nhất chỉ nước ta mới có.
4-Hoạt động du lịch:
Du lịch sinh thái ở đầy đã hình thành một số tuyến du lịch, phục vụ ăn uống, nghỉ
dưỡng…. một số hoạt động như
• Đi bộ
Một số vườn quốcgia đã xây dựng được nhiều tuyến đi bộ trong rừng, với nội
dung và thời gian khác nhau, du khách có thể lựa chọn cho mình những tuyến
6
II. Thực trạng vườn quốc gia ở Việt Nam
1. Tình trạng xâm hại nguồn tài nguyên vườn quốc gia diễn
ra ngày càng phức tạp.
Các hoạt động xâm hại cây rừng dọc dãy Nam Trường Sơn Bắc thường
gặp gây hậu quả suy thoái đa dạng sinh học được tổng kết qua nhiều tài liệu
lưu trữ ở các chi cục kiểm lâm sở tại và tài liệu công bố bởi các nhà khoa học
là khai thác gỗ, củi, đốt than, chưng cất tinh dầu Re hương, khai thác lá nón,
song mây, mật ong... Trong các hoạt động đó, nhiều loài cây gỗ có giá trị cao
hoặc quý hiếm, nguy cấpvẫn thường xuyên bị khai thác trái phép như kiền
(Hopea siamensis), Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Pơ mu (Fokienia
hodginsii)... Theo số liệu điều tra ở nhiều tỉnh từ Nghẹ An đến Quảng Nam,
mặc dù số lượng vụ vi phạm và khối lượng gỗ bị khai thác trái phép có nơi
giảm rõ rệt trong những năm vừa hiệu tăng dần. Các vụ vi phạm gây tiếng
vang dư luận cả nước trong vài năm vừa qua tập trung vào các loài nguy cấp,
quý, hiếm. Điển hình là các vụ khai thác, vận chuyển trái phép huê mộc
(Dalbergia tonkinensis) từ Quảng Bình vào đến Quảng Nam. Tuy nhiên, trong
thực tế hiện nay đang có hiện trạng một số người dân bản xứ ngày đêm săn
lùng khai thác một số loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm ở Trường Sơn để
bán cho tư thương như củ bình vôi (Stephania spp.) thuộc nhóm IA trong Nghị
đinh 32/2006/NĐ-CP, lan kim tuyến (Anoetochilus spp.), lan hài
(Padiopedilum spp.) thuộc … nhưng các cơ quan, ban ngành hữu trách ở các
địa phương xảy ra hiện tượng chưa ngăn chặn kịp thời hoặc chưa có phương án
xử lý thích hợp. Đôi khi mẫu vật của các loài này được trưng bày bán ở các
chợ hay vỉa hè đường phố năm này qua tháng nọ, nhưng vãn không bị xử lý,
theo dõi, tìm giải pháp khắc phục. Lấy ví dụ, củ bình vôi được bày bán ở chợ
Đông Hà, vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, thành phố Huế… lan kim tuyến được
7
tư thương đến tận vùng cao huyện Quế Sơn, Đại Lộc… tỉnh Quảng Nam để
mua từ những nông dân sống ven rừng… Ngay cả việc môt số người dân tộc
vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tại địa phương; tổng hợp trên địa
bàn cùng với việc thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên
rừng quy định tại Điều 32 của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và
hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn", thế nhưng trong thực
tế, chưa thấy Ủy ban nhân dân các cấp ở các địa phương trong khu vực triển
khai tinh thần đó, có chăng chỉ mới dừng lại ở mức kiểm kê rừng, đánh giá rất
chung nguồn tài nguyên hiện hữu và đề ra phương hướng hành động quản lý,
bảo tồn tổng hợp. Chính vì thế khi xảy ra những vụ vi phạm trên diện rộng, khai
thác vận chuyển trái phép các loài nguy cấp, quý hiếm thì các địa phương rất
lúng túng trong xử lý vụ việc. Điển hình là các vụ khai thác, vận chuyển trái
phép loài cây gỗ huê (sưa, trắc thối) - Dalbergia tonkinensis từ Thừa Thiên Huế
đến Quảng Nam trong năm 2006 đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác xử lý
của các địa phương. Đến lúc vụ việc rộ lên, lực lượng kiểm lâm và công an kinh
tế tịch thu tang vật, mới bắt đầu tìm chuyên gia giám định. Có nghĩa là các địa
phương đã rất bị động. Sở dĩ như vậy là vì trước đó các địa phương chưa bao giờ
kiểm tra, xác định và ghi nhận loài này để định vị trên bản đồ và đề ra phương
án bảo tồn. Tương tự, mãi tới nay, theo chỗ chúng tôi biết thì cũng chưa có Ủy
ban nhân dân địa phương nào quan tâm chỉ đạo, tổ chức điều tra, xác định và
khoanh vùng để bảo tồn các loài nguy cấp, quý hiếm có ở dịa phương đựoc ghi
trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP như các loài tuế (Cycas spp.) bình vôi
(Stephania spp.), các loài lan kim tuyến (Anoectochilus spp.), các loài lan hài
(Paphiopedilum spp.), thạch hộc (Dendrobium nobile) là những loài đang bị
người dân khai thác, vận chuyển trái phép liên tục.
9