TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ - BẮC KẠN
2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển VQG Ba Bể
Lịch sử hình thành VQG Ba Bể được tính từ năm 1977 theo Quyết Định số 41-
TTg ngày 24/1/1977 của Thủ tướng Chính phủ chính thức công nhận Ba Bể là khu văn
hoá lịch sử. Quan điểm trên được tái khẳng định trong Nghị Định 194/CP, ngày
9/8/1986 của Chủ tịch HĐBT giao cho Bộ Lâm Nghiệp và các cơ quan chức năng tiến
hành khảo sát và xây dựng dự án đầu tư cho Ba Bể thành VQG.
Năm 1992, Viện Điều tra quy hoạch rừng đã hoàn thành việc xây dựng dự án
đầu tư thành lập VQG Ba Bể. Dự án đã được Chính phủ phê duyệt và Vườn Quốc gia
Ba Bể được chính thức thành lập từ 10/11/1992 theo quyết định số 83/TTg của Thủ
tướng Chính phủ. Chức năng nhiệm vụ của Vườn là: bảo tồn các nguồn gen động, thực
vật, các hệ sinh thái, cảnh quan môi trường; tổ chức, quản lý, phục vụ nghiên cứu khoa
học, du lịch dịch vụ.
Theo các nhà địa chất, Vườn Quốc gia Ba Bể nằm trong vùng caxtơ Chợ Rã Ba
Bể - Chợ Đồn, gồm khối đá vôi Givet (kỷ Đề vôn giữa) nằm trên phiến đá Protezel và
bên cạnh là khối đá hoa cương đã trải qua chế độ lục địa khoảng 200 triệu năm. Điều
này khẳng định sự già nua của địa hình caxtơ ở đây khác với những nơi khác. Độ cao
trung bình của núi đá vôi là 800 - 900 m so với mặt biển và quá trình diễn biến địa chất
phức tạp vẫn tiếp tục xảy ra.
Trước đây, Vườn Quốc Ba Bể thuộc tỉnh Cao Bằng, sau khi tái lập tỉnh, Vườn
nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (1997). Từ năm 1997 đến năm 2002, Vườn Quốc gia Ba
Bể chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Nông Nghiệp & Phát triển Nông thôn. Đến cuối
năm 2002, VQG Ba Bể được giao cho UBND tỉnh Bắc Kạn quản lý (Quyết định số
51/2002/QĐ-TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ v/v chuyển VQG Ba Bể
thuộc Bộ NN và PTNT về UBND tỉnh Bắc Kạn quản lý). Hiện nay, tổng số cán bộ nhân
viên của Vườn có 65 người, cùng với 20 lao động hợp đồng. Giúp việc cho Ban quản lý
có các đơn vị trực thuộc là Hạt kiểm lâm, Trung tâm du lịch, và các phòng chức năng.
Tại khu trung tâm Vườn đã có hệ thống đường giao thông đi lại tốt, có cơ sở vật chất
đảm bảo yêu cầu làm việc của Ban quản lý. Hiện có tất cả 11 trạm kiểm lâm bảo vệ
rừng được bố trí tại các điểm quan trọng ở trong và dọc theo ranh giới Vườn.
Trong kế hoạch Hành động ĐDSH (1994) đã đề xuất mở rộng VQG Ba Bể lên
chưa được triển khai thường xuyên.
Cuối năm 2004, Vườn quốc gia Ba Bể cùng với ba Vườn Quốc gia khác của Việt
Nam là Hoàng Liên ở Lào Cai, Chư Mom Ray ở Kon Tum và Kon Ka Kinh ở Gia Lai
được công nhận là Vườn di sản ASEAN. Đây là một danh hiệu có giá trị về phát triển
du lịch, nghiên cứu khoa học, văn hóa, giáo dục của ASEAN.
2.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
Vườn Quốc gia Ba Bể cách Hà Nội 250 km về phía Bắc thuộc địa bàn huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Cạn, bao gồm toàn bộ diện tích đất xã Nam Mẫu, một phần ở các xã
Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ.
Vườn có tọa độ địa lý: 22
0
30 độ vĩ Bắc, 105
0
36’ độ Kinh Đông. Tổng diện tích
đất đai tự nhiên Vườn đang quản lý là 7.610ha trong đó khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.226,2
ha, khu phục hồi sinh thái 4.038,6 ha, khu hành chính dịch vụ 300,2 ha, vùng đệm ước
tính khoảng 42.100 ha.
Vườn Quốc gia Ba Bể nằm trên độ cao từ khoảng 150 đến 1.098 mét so với mặt
nước biển. Về cấu trúc địa chất, chiếm ưu thế là đá vôi với nhiều đỉnh cao lởm chởm,
độ phân cắt lớn, nhiều sườn đồi dốc bao quanh các thung lũng, sông suối. Địa hình núi
đá vôi có nhiều hang động, lớn nhất là Động Puông, dài tới 300m, có sông Năng chảy
qua, tạo nên cảnh quan thiên nhiên đầy vẻ ngoạn mục.
Đặc điểm nổi bật nhất của Vườn Quốc gia Ba Bể là trên địa hình đá vôi có một
hồ nước ngọt - Hồ Ba Bể. Hồ nằm ở vị trí trung tâm của Vườn, có cấu tạo đặc biệt thắt
ở giữa và phình to ở hai đầu. Quanh Hồ là những vách đá, chỗ dựng đứng như một bức
tường, chỗ lại vòng vèo uốn lượn ăn sâu vào các thung lũng làm cho hình dáng hồ rất
độc đáo, hoang sơ. Hồ Ba Bể nằm trong vùng địa hình casto Chợ Rã - Ba Bể - Chợ Đồn
thuộc vùng trũng của khối nâng Việt Bắc. Khối nâng này được hình thành do sự phá
huỷ của khối lục địa Đông Nam Á và cuối kỳ Cambri khoảng 200 triệu năm về trước.
0
C,
độ ẩm bình quân hàng năm là 83%, lượng mưa trung bình hàng năm là 1378mm.
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Vườn Quốc gia Ba Bể nằm trong địa giới hành chính huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
nhưng phía Tây lại giáp huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang, có chung vùng đệm với
Khu BTTN Nà Hang (xã Đà Vị, huyện Nà Hang). Hiện nay, trong khu bảo vệ nghiêm
ngặt của Vườn có 524 hộ, với 3.200 nhân khẩu, số dân sống trong vùng đệm có hơn
6.000 nhân khẩu.
Các dân tộc sinh sống ở đây có người Tày chiếm 44%, người H’mông chiếm
54%, người Dao, Nùng và Kinh chiếm 2%. Tuy có nhiều dân tộc khác nhau nhưng dân
cư ở đây có tính cộng đồng cao, sống đoàn kết. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá độc
đáo riêng của mình. Người Tày thường làm nhà sàn bằng gỗ ở các vùng thấp thuận tiện
cho canh tác nông nghiệp, đánh bắt cá, dệt vải. Người H’Mông, Dao sinh sống trên các
sườn núi cao hay thung lũng chủ yếu canh tác nương rẫy, du canh và săn bắt chim thú
rừng.
Với phương thức canh tác chủ yếu là trồng lúa nước, và canh tác nương rẫy,
người dân ở đây chỉ có thu nhập bình quân mỗi năm khoảng 298kg lương thực quy
thóc, mức thiếu lương thực ở các hộ nghèo là từ 2 đến 4 tháng trong năm. Các khoản
chi tiêu hàng ngày của mỗi hộ gia đình đều lấy từ sản phẩm nông nghiệp và bán các sản
phẩm khai thác từ rừng. Khi không còn dựa vào nghề rừng như hiện nay thì các khoản
tiền đó lấy từ thu nhập sản xuất nông nghiệp (lúa, hoa màu và sản phẩm phụ) và các thu
nhập khác do Nhà nước trợ cấp (nếu có).
Bảng 2.1 Thu nhập của dân cư vùng Hồ Ba Bể
TT Xã Dân số Đất NN bình quân (ha) Thu nhập bình quân năm
2000 (đồng)
1 Nam Mẫu 2802 0.06 450.000
2 Cao Thượng 3189 0,06 350.000
3 Cao Trĩ 2234 0,1 320.000
4 Khang Ninh 3451 0,09 480.000
sông suối tạo nên những cảnh quan độc nhất vô nhị mang lại một tiềm năng rất to lớn
để phát triển du lịch sinh thái. Một số địa điểm du lịch danh lam thắng cảnh và di tích
lịch sử văn hoá đáng chú ý gồm:
• Hồ Ba Bể: Đã từ lâu nổi tiếng là danh thắng bậc nhất Việt Nam. Hồ có diện tích khoảng
500 ha, là hồ kiến tạo lớn nhất miền Bắc Việt Nam giữa vùng đá phiến và đá vôi, dài
hơn 8 km, rộng hơn 3 km và sâu khoảng 20 - 30m. Hồ được bao bọc bởi những cánh
rừng nguyên sinh trên núi hùng vĩ và những vách núi đã thẳng đứng với thảm thực vật
đặc trưng tạo nên một thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp.
Xung quanh lịch sử hình thành Hồ có nhiều huyền thoại khác nhau. Truyền
thuyết về sự hình thành Ba Bể nói rằng “Ngày xưa cả khu vực Hồ Ba bể thuộc xã Mẫu
Ninh. Rồi một hôm trời nổi cơn thịnh nộ, mưa đổ ầm ầm, nước sông dâng lên, mặt đất
nứt nẻ và sụp xuống làm cả vùng dân cư đều cuốn theo dòng nước. Duy chỉ có một
người đàn bà độc thân hiền lành chân thật là thoát nạn vì Bà đã được bà Tiên báo trước
trận hồng thuỷ sẽ xảy ra. Theo lời dặn, Bà Goá đã lấy tro rắc quanh nhà và lấy hạt thóc
bà tiên để lại cắn đôi thả xuống hồ biến thành những chiếc thuyền cứu người gặp nạn.
Cả vùng thung lũng trù phú đã biến thành biển nước mênh mông, chỉ còn lại một mảnh
đất nhỏ nhoi là nhà của người đàn bà hiền lành đức độ, người ta gọi đó là Pò Giả Mải
hay Đảo Bà Goá ngày nay.
Không biết trận hồng thuỷ có xảy ra hay không nhưng sự thật một vùng đất sụp để
biến thành mọt hồ nước thì đã được các nhà khoa học chứng minh. Người ta tự hỏi tại sao
giữa vùng núi đá vôi lại có một cái hồ khổng lồ treo lơ lửng (thông thường ở các vùng đá
vôi khác có những khe nứt, nước bị "tuột" xuống thành các dòng sông ngầm). Lý do là đáy
hồ có một lớp đất sét dày tới 200m bịt kín, chính địa tầng đất sét này đã ngăn không cho
nước thoát xuống, và hồ được hình thành như thế.
Gần đây VQG và Uỷ ban di sản Việt Nam đã đệ trình hồ sơ lên Uỷ ban di sản
Thế giới để xét công nhận Hồ Ba Bể là di sản thiên nhiên Thế giới. Trong hồ sơ đệ trình
lên Uỷ ban Di sản thế giới có hai giá trị lớn nhất của Hồ Ba Bể, một là cảnh quan độc
đáo, hai là giá trị nổi bật về địa chất địa mạo. Về giá trị cảnh quan, đây là khu vực thể
hiện rõ rệt dấu ấn lịch sử của các thời kỳ hình thành vỏ trái đất. Về địa chất địa mạo,
đây là một vùng đá vôi cổ rộng lớn, có đặc điểm kiến tạo rất đặc biệt. Ngoài ra có bổ
cuối cùng còn sót lại nằm giữa hồ 2 là nơi an nghỉ của những người xấu số năm xưa.
Nhân dân trong vùng đã lập một đền thờ ở hòn đảo này để tưởng nhớ những người đã
mất. Vì vậy hòn đảo có tên là đảo An Mạ (nơi an nghỉ của dân làng).
• Đảo Bà Goá: nằm cách bến phà chính khoảng 300m, trên đảo có một bia đá lớn khắc
chữ nho mang niên hiệu Khải Định, dưới chân đảo là một bãi tắm lý tưởng với làn nước
được che mát bởi bóng râm của các cây cổ thụ mọc trên đảo vươn thân và cành ra mặt
hồ.
Như vậy, có thể khẳng định giá trị cảnh quan của VQG Ba Bể là rất lớn, cần phải
có sự tính toán để đưa các điểm tham quan vào khai thác thông qua hình thành các
tuyến tham quan. Làm được điều này vừa nâng giá trị của VQG vừa tạo ra nguồn thu
cho ngân sách và hoạt động bảo tồn.
2.3.2. Giá trị đa dạng sinh học
2.3.2.1 Thực vật
Là VQG nằm trong vùng địa lý sinh học Đông Bắc và nhờ có địa hình đa dạng,
núi đất xen núi đá nên thảm thực vật và thực vật rừng có nhiều kiểu đặc trưng riêng.
Theo nghiên cứu của các nhà thực vật thì VQG Ba Bể có ít nhất 5 kiểu rừng:
- Rừng kín lá rộng nhiệt đới thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi phân
bố ở độ cao từ 400 – 1000m, kiểu rừng này còn không nhiều và đặc trưng bởi các ưu
hợp thực vật là Nghiến, Đinh thối, lát hoa và một số loài họ Dẻ.
- Rừng trên núi đá vôi: Kiểu này tuy còn diện tích lớn nhưng là rừng thứ sinh sau
khai thác chọn nên cấu trúc cũng như tổ thành thực vật rừng đã bị thay đổi, chủ yếu
gồm Thung, Đinh thối. Ven hồ có các loài Trám trắng, Mùng quân, Trâm vối.
- Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới trên núi đất cao trung bình đã
bị tác động phân bố chủ yếu ở độ cao từ 700 đến 1500m. Loại rừng này đã bị khai thác
nhiều lần, cấu trúc rừng bị phá vỡ. Các đỉnh núi cao có Dẻ, Thích, Côm, Lòng mang;
vùng sườn núi có Đinh, Lát, Sấu; vùng phục hồi sau nương rẫy có Hu, Trám, Sòi, Chẹo.
- Trảng cây bụi, cây gỗ mọc rải rác: Loại rừng này chủ yếu ở vùng thấp nơi đất đã
bị thoái hoá do làm nương rẫy. Cây gỗ ở đây có Thôi ba, Thôi chanh, Hồng bì và các
loại cây bụi như Tổ kén, Cò ke.
- Rừng tre nứa: Kiểu rừng nay gặp ở ven hồ gồm Vầu, Trúc sáo. Trên các vách đá