Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
MỤC LỤC
BẢNG NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
i
i
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
BẢNG NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NH Ngân hàng
TCKT Tổ chức kinh tế
PGD Phòng giao dịch
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
ii
ii
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
DANH MỤC CÁC BẢNG , BIỂU
BẢNG
BIỂU
Biểu đồ 2.1 : Dư nợ Tín dụng Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.2 : Số lượng khách hàng vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP
Phương Tây - PGD Cầu Giấy. Error: Reference source not
found
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về tín dụng tiêu
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
1
1
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
dùng, đánh giá thực trạng tín dụng tiêu dùng và đề xuất những giải pháp mở rộng
và nâng cao chất lượng tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP PhươngMiền
Tây - PGD Cầu giấy.
3.
Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tín dụng tiêu dùng đối với các
cá nhân và hộ gia đình tại Ngân hàng TMCP Miền Phương Tây - PGD Cầu giấy.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp chủ yếu được sử dụng
bao gồm: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp điều tra -thống kê -phân
tích - tổng hợp và thực tiễn.Trên cơ sở đó đưa ra những số liệu thực tế để luận
giải các vấn đề.
phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp so
sánh, phân tích, tổng hợp và thống kê.
5. Kết cấu của Khóa luận.của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
được bố cục làmgồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng
tiêu dùng của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng tiêu
dùng tại Ngân hàng TMCP Miền Phương Tây - PGD Cầu giấy.
Chương 3: Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng tiêu
dùng tại Ngân hàng TMCP PhươngMiền Tây - PGD Cầu giấy.
-
Mục đích:
Đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Các nhu cầu
đó là: mua nhà, sửa chữa nhà, mua sắm đồ dùng vật dụng gia đình, mua xe ôtô,
du học
- Nguồn trả nợ:
N Nguồn trả nợ của các khoản vay tiêu dùng không phải từ kết quả sử
dụng các khoản tiền đó mà là từ thu nhập của người vay - nguồn trả nợ độc lập so
với việc sử dụng tiền vay: đó có thể là lương, thu nhập từ hoạt động kinh doanh,
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
4
4
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
tiền cho thuê nhà
Hầu hết các khoản vay tiêu dùng đều có giá trị không lớn, ngoại trừ các
khoản vay mua bất động sản. Tuy nhiên số lượng các khoản vay có thể không
nhỏ.
- Thời hạn vay:
Ngắn, trung và dài hạn nhưng chủ yếu là trung và dài hạn.
-
Rủi ro:
Các khoản vay tiêu dùng có rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của
ngân hàng vì tình hình tài chính của cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi theo
tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Các cá nhân thì dễ dàng giữ kín các
thông tin triển vọng công việc hay sức khỏe hơn là các doanh nghiệp vì doanh
nghiệp phải cung cấp các báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Hơn nữa cho vay
tiêu dùng thường nhạy cảm theo chu kỳ, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và
tiền đồng thời việc quản lý các khoản vay có giá trị nhỏ nhưng số các khoản
vay lớn cũng làm cho chi phí của các khoản mục vay tiêu dùng cao hơn so với
các loại hình cho vay khác.
- Lãi suất:
Chính Xxuất phát điểm từ đặc điểm các khoản vay tiêu dùng có chi phí
và rủi ro cao nên lãi suất mà các Nngân hàng mong muốn có được từ các khoản
vay này phải cao hơn các khoản vay khác để bù đắp được các chi phí và tổn thất
dự kiến. Lãi suất cho vay tiêu dùng thường khá cứng nhắc, nghĩa là nó được định
giá trên cơ sở chi phí huy động vốn của ngân hàng, lợi nhuận kì vọng và phần bù
rủi ro lãi suất. Nó không như hầu hết các khoản vay kinh doanh là lãi suất thay
đổi theo điều kiện của thị trường.
Mặt khác, cho vay tiêu dùng là có tính nhảy cảm theo chu kỳ, nó tăng lên
khi nền kinh tế mở rộng, mọi người lạc quan về tương lai. Ngược lại, khi nền
kinh tế rơi vào suy thoái, các cá nhân và hộ gia đình sẽ hạn chế vay mượn từ
Nngân hàng.
Hơn nữa khi vay tiền người tiêu dùng thường kém nhạyảy cảm với lãi
suất, họ thường quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất
ghi trong hợp đồng mặc dù lãi suất ảnh hưởng đến khoản tiền phải trả của họ.
- Tài sản đảm bảo:
Cho vay tiêu dùng thường yêu cầu có tài sản đảm bảo để hạn chế bớt rủi
ro cho ngân hàng vì nguồn trả nợ độc lập với việc sử dụng tiền vay nên việc kiểm
soát các nguồn thu nhập khác của khách hàng là khó khăn đối với ngân hàng.
Lợi nhuận mang lại cho ngân hàng:
Tín dụng tiêu dùng là một trong những hoạt động mang lại lợi nhuận cao
nhất cho ngân hàng bởi mức lãi suất cố định đã phân tích ở trên. Mặc dù chịu rủi
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
6
6
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
mua sắm, xây dựng hay cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hộ gia đình. Đây
là khoản cho vay có giá trị lớn, thời gian cho vay dài hạn và tài sản hình thành từ
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
7
7
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
nguồn vốn vay thường là tài sản đảm bảo.
Tín dụng tiêu dùng phi cư trú là khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu
trang trải các khoản chi phí như mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, du học, du
lịch, y tế Đây là khoản tín dụng nhỏ và thời hạn ngắn.
1.1.3.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả thì có 2 loại là tín dụng tiêu dùng trả
góp và tín dụng tiêu dùng trả một lần. Trong đó tín dụng tiêu dùng trả góp chiếm
tỷ lệ lớn do người ta nhận thấy định kỳ trả một lần khoản gốc và lãi sẽ có lợi hơn
là trả một lần.
- Tín dụng tiêu dùng trả góp:
Đây là hình thức tín dụng tiêu dùng mà người đi vay trả nợ cho ngân hàng gồm
số tiền gốc và lãi làm hai lần hoặc nhiều lần theo những kì hạn nhất định trong thời hạn
cho vay. Phương thức này áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn có thu nhập định
kì của người đi vay không trả đủ hết một lần số nợ này.
Thông thường, Ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước
một phần giá trị cần mua sắm, số tiền này được gọi là số tiền trả trước, phần còn
lại ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước ( khoảng 20-30% giá trị tài sản cần
mua sắm ) để một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu
của tài sản, mặt khác lại có tác dụng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Khi không
cảm nhận được rằng mình là chủ sở hữu của tài sản hình thành từ tiền vay thì
người đi vay có thể sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ. Ngoài ra, khi
khách hàng không trả nợ, trong nhiều trường hợp, Ngân hàng đành phải tiếp nhận
+ Ba là: lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân.
1.1.3.3 Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay.
* Cho vay cầm đồ: là hình thức Ngân hàng cho khách hàng vay tiền và
giữ tài sản của khách hàng để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ của khách hàng
trong hợp đồng cầm đồ.
* Cho vay đảm bảo tiền lương hay thu nhập: Ngân hàng cho khách hàng
vay tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên cơ sở thế chấp bằng lương hay thu
nhập. Nó chủ yếu áp dụng cho các khách hàng có việc làm ổn định thu nhập
ngoài việc đủ trang trải cho các chi tiêu thường xuyên còn có đủ tích lũy để trả
nợ vay.
* Cho vay có đảm bảo hình thành bằng tiền vay: hình thức này chủ yếu
áp dụng với những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài như: cho vay sửa
chữa, mua nhà, mua quyền sử dụng đất. Mức cho vay của ngân hàng trong hình
thức này phụ thuộc vào tình hình tài chính khả năng trả nợ của khách hàng, giá
trị tài sản mua sắm, mức tối đa thường là 50-60% giá trị tài sản mua sắm.
11.1.3.4 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản tín dụng tiêu dùng.
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
9
9
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
* Tín dụng tiêu dùng gián tiếp.
Tín dụng tiêu dùng gián tiếp là hình thức tín dụng trong đó Ngân hàng
mua các khoản nợ phát sinh cho những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay
dịch vụ cho người tiều dùng.
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
10
Ngân hàng Công ty bán lẻ
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, mà chỉ được biết
thông qua công ty bán lẻ. Bên cạnh đó ta nhận thấy rằng, các công ty bán lẻ không
có chuyên môn sâu để thẩm định khách hàng một cách chi tiết và chính xác.
- Thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc
bán chịu hàng hóa cho người tiêu dùng.
- Các công ty bán lẻ thực hiện phương thức này không nhằm cấp tín
dụng cho khách hàng mà chỉ nhằm tăng doanh số bán hàng.
- Kỹ thuật nghiệp vụ trong tín dụng tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp
cao. Do những nhược điểm kể trên nên có rất nhiều Ngân hàng không mặn mà
với tín dụng tiêu dùng gián tiếp. Còn những Ngân hàng nào tham gia các hoạt
động này thì đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ.
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
11
11
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
Tín dụng tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua các
phương thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ: Theo phương thức này khi bán cho Ngân
hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết
thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ các khoảnỏan nợ nếu khi đến hạn, người tiêu
dùng không thanh toán cho Ngân hàng.
- Tài trợ đòi hạn chế: Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty
bán lẻ với các khoản mà người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn
trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thỏa
thuận giữa Ngân hàng với công ty bán lẻ. Dưới đây là các thỏa thuận thường gặp
trong trường hợp truy đòi hạn chế:
Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ nần trong
trường hợp nếu người mua không đủ tiền để trả trước một số tiền nhất định khi
nợ từ người này.
(1): Ngân hàng ký kết hợp đồng tín dụng cho người tiêu dùng và cung
cấp thẻ tín dụng cho họ.
(2): Khách hàng dùng thẻ tín dụng để mua hàng hóa.
(3): Ngân hàng trả tiền cho công ty bán lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao hàng hóa cho khách hàng.
(5): Khách hàng trả nợ cho Ngân hàng.
So với tín dụng tiêu dùng gián tiếp, tín dụng tiêu dùng trực tiếp có một
số ưu điểm sau:
- Trong tín dụng tiêu dùng trực tiếp Ngân hàng có thế tận dụng được
sở trường của cán bộ tín dụng. Những người này thường được đào tạo chuyên
môn và có kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên các quyết định tín dụng
trực tiếp của Ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng
được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc những cán bộ tín dụng của những
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
13
Ngân hàng
Người tiêu dùng
(1)
(4)
Công ty bán lẻ
(3)
(2)
(5)
13
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
công ty bán lẻ. Ngoài ra, trong hoạt động của mình, cán bộ tín dụng Ngân hàng
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
14
14
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các phương tiện như xe
máy, ôtô, chuẩn bị hôn lễ, ma chay, du lịch, học hành Nhưng những nhu cầu
cần thiết yếu thì nhiều mà để đáp ứng được thì cần thời gian dài do khả năng tài
chính thường bị giới hạn. Vì vậy mà người ta thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi
sinh hoạt Khi đó lợi ích thu đựoc từ sự hưởng thụ đều có xu hướng giảm
xuống. Do đó người tiêu dùng sẽ tìm cách để phối hợp khéo léo giữa việc thỏa
mãn các nhu cầu với yếu tố thời gian và khả năng thanh toán của hiện tại và
tương lai. Điều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ tìm cách để hưởng thụ trước
số tiền sẽ có trong tương tai. Nếu phân tích theo khía cạnh tài chính, việc mượn
tiền trước của Ngân hàng để tiêu dùng phải trả lãi thực chất cũng chỉ là cách quy
đổi luồng tiền mà ta sẽ có tại một thời điểm nào đó trong tương lai về thời điểm
hiện tại.
1.1.4.2 Vai trò của tín dụng tiêu dùng đối với NHTM
Với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi và sử dụng tiền đó để cho vay
kiếm lời, các NHTM cần nỗ lực huy động vốn, bên cạnh đó phải khai thác thị
trường tín dụng một cách triệt để, nghĩa là tìm cách để đảm bảo khả năng đáp
ứng thỏa mãn tốt nhất, nhiều nhất các nhu cầu tín dụng tiêu dùng mà tại đó quy
mô của một số nhu cầu nhỏ nhưng số lượng nhu cầu về tín dụng xét theo lượng
khách hàng tiềm năng và theo sự đa dạng của nhu cầu tiêu dùng lại vô cùng lớn.
Bên cạnh đó, nguồn thu của Ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng tiêu
dùng này là đáng kể do lãi suất tín dụng tiêu dùng là cứng nhắc, không giống với
các khoản cho vay kinh doanh khi mà lãi suất là thả nổi theo điều kiện của thị
trường, đặc biệt là lãi suất thực cho vay trả góp rất cao, điều này khiến cho thu nhập
từ hoạt động tín dụng tiêu dùng chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu lợi nhuận
lao động, giảm thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội.
1.2 MởNội dung cơ bản của mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng tiêu
dùng của NHTM.
1.2.1 Các khái niệm:
1.2.1.1 Mở rộng tín dụng tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là quy luật tất yếu, bất cứ một
doanh nghiệp nào muốn đứng vững và phát triển trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, đòi hỏi phải không ngừng mở rộng và cải thiện chất lượng các sản phẩm
dịch vụ của mình nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu đặt ra của nền kinh tế. Ta có thể
hiểu, mở rộng tín dụng tiêu dùng là sự đáp ứng các yêu cầu càng ngày tăng của
khách hàng về quy mô tín dụng tiêu dùng hay nói cách khác đó là việc làm tăng
tỷ trọng tín dụng trong tài sản có của các NHTM.
Mở rộng tín dụng tiêu dùng được thể hiện:
- Đối với khách hàng: Tín dụng tiêu dùng phải thỏa mãn được tối đa yêu
cầu hợp lý của khách hàng về khối lượng tín dụng tiêu dùng cung cấp, đa dạng hóa
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
16
16
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
các hình thức và loại hình tín dụng tiêu dùng cũng như các loại dịch vụ bảo lãnh.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng tiêu dùng phải đáp ứng
được các yêu cầu bức xúc về vốn kinh tế, là kênh dẫn vốn gián tiếp đóng vai trò
hết sức quan trọng trong việc chuyển dịch chuyển một khối lượng lớn các nguồn
lực tài chính, trợ giúp Ngân sách Nhà nước thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
- Đối với NHTM: Tín dụng tiêu dùng phải được coi là loại hình tín
dụng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động tín dụng của các NHTM.
Qua đó có thể rút ra:
qua đó Ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, còn doanh nghiệp có thể trả được nợ,
bù đắp chi phí và thu được lợi nhuận. Điều này có nghĩa là Ngân hàng vừa tạo ra
hiệu quả kinh tế lại tạo được hiệu quả xã hội.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng và chất lượng tín dụng tiêu dùng.
1.2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng tín dụng tiêu dùng.
* Chỉ tiêu phản ánh về số lượng khách hàng: nhu cầu đời sống con người
càng cao, vì thế hoạt động tiêu dùng ngày càng phát triển, người dân đến với
Ngân hàng nhằm phục vụ cho mục đích của mình như cải thiện cuộc sống về mặt
vật chất tinh thần, mua sắm sửa chữa nhà cửa. Càng nhiều khách hàng đến với
Ngân hàng đồng nghĩa với việc uy tín, quy mô của Ngân hàng ngày càng được
tăng lên. Chính điều này đã thúc đẩy Ngân hàng cần mở rộng về quy mô, cơ cấu
tổ chức, chất lượng phục vụ. Một Ngân hàng không thể thực hiện mở rộng tín
dụng tiêu dùng nếu số lượng khách hàng đến với Ngân hàng luôn là một số cố
định. Vì vậy có thể nói trong tín dụng tiêu dùng số lượng khách hàng tăng lên
đồng nghĩa với việc tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng được mở rộng.
Có thể phản ánh sự tăng lên của số lượng khách hàng qua công thức:
- Về sự tăng trường tuyệt đối (1)
Giá trị tăng trưởng
tuyệt đóiđối
=
Số lượng khách
hàng năm (N)
-
Số lượng khách
hàng năm (N-1)
Giá trị tăng trưởng
tương đối
=
tuyệt đối
=
Doanh số cho
vay n năm (N)
-
Doanh số cho vay n
năm (N-1)
Giá trị tăng trưởng
tương đối
=
Giá trị tăng trưởng tuyệt đối (2)
Số lượng khách hàng năm (N-12)
Tỷ trọng
=
Doanh số từ hoạt động TDTD
Doanh số từ hoạt động tín dụng
Giá trị tăng trưởng
tuyệt đối
=
Tổng dư nợ
TDTD năm (N)
-
Doanh số cho vay
TDTD năm (N-1)
Giá trị tăng trưởng
tuyệt đối
Chất lượng tín dụng tiêu dùng xét dưới giác độ khách hàng được thể hiện
ở sự thỏa mãn nhu cầu vốn từ phía Ngân hàng. Sự thỏa mãn ấy thể hiện ở khối
lượng tín dụng được Ngân hàng cung cấp, thời gian chi phí để có được khoản tín
dụng Ngân hàng, hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng từ nguồn vốn tín
dụng Ngân hàng. Đối với khách hàng, chất lượng tín dụng là cao khi thời gian và
chi phí vốn vay là thấp, thủ tục nhanh gọn, hiệu quả sử dụng vốn cao.
+ Đối với nền kinh tế:
Chất lượng tín dụng xét dưới góc độ của nền kinh tế thể hiện ở sự đóng góp của
Hồ Đoàn Vân Dung Lớp K34ALưu Văn Tiến -
TC12ALưu Văn Tiến – Lớp TC12A
20
20
Khóa luậnChuyên đề tốt nghiệpChuyên đề tốt nghiệpp
tín dụng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Sự phát triển của nền kinh tế thể hiện ở tốc
độ tăng trưởng kinh tế. Hoạt động tín dụng tiêu dùng trong những năm gần đây đã đóng
góp phần to lớn vào sự chuyển mình của kinh tế nước nhà, phục vụ cho nhu cầu sinh
hoạt của người dân, tạo việc làm cho người lao động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội,
góp phần tăng trưởng kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ
những nguồn tài trợ từ bên ngoài để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
* Chỉ tiêu định tính:
Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trên cơ sở pháp lý, việc tuân
thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ, việc thực hiện theo đúng cam kết trong hợp
đồng cho vay.
- Văn bản pháp lý liên quan đến quy chế cho vay:
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng được coi là có chất lượng khi chấp hành
đúng các quy định của pháp luật, cụ thể là luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho
vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ cũng như của Ngân hàng Nhà nước.
- Quy chế cho vay của Ngân hàng Thương Mại:
tín dụng =
Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quân
22
22