Câu hỏi ôn tập lịch sử hành chính
Câu 1: Trình bày những cơ sở của sự hình thành nền hành chính đầu tiên ở nớc
ta thời đại Hùng Vơng - An Dơng Vơng?
Trả lời:
Nhà nớc là một phạm trù lịch sử của xã hội có giai cấp. Điều kiện quan trọng số một
để nhà nớc có thể ra đời đợc là trên cơ sở sản xuất phát triển dẫn đến tình trạng phân
hoá xã hội. Nhà nớc ra đời là sản phẩm tất yếu của một xã hội mà mâu thuẫn không
thể điều hoà đợc. Đây là một quy luật chung của tất cả các nhà nớc trên thế giới,
không loại trừ bất cứ một quy luật nào cả. Và nhà nớc Văn Lang ra đời cũng không
nằm ngoài quy luật đó.
Công xã nông thôn là một hình thái kinh tế xã hội xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tan
rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và quá độ sang xã hội có giai cấp, là một trong
những tiền đề cho sự hình thành nhà nớc.
-Thời Hùng Vơng sức sản xuất phát triển đã gây ra nhiều biến động xã hội và đa đến
tình trạng phân hoá xã hội rõ nét vào giai đoạn văn hoá Đông Sơn. Lúc này đã có kẻ
giàu, ngời nghèo và tình trạng bất bình đẳng đã in đậm trong khu mộ táng hay truyền
thuyết dân gian và th tịch cổ. Tuy nhiên, nó vẫn cha thật cao, cha thật sâu sắc nhng nó
đã tạo ra một cơ sở xã hội cần thiết cho quá trình hình thành nhà nớc Văn Lang.
-Nhân tố thuỷ lợi và tự vệ cũng đã đóng vai trò rất quan trọng đa đến sự hình thành
lãnh thổ chung và tổ chức nhà nớc đầu tiên vào thời Đông Sơn. Khi con ngời tiến
xuống khai phá vùng đồng bằng Sông Hồng và chọn thì uy tín và vai trò của Thục
Phán - ngời thủ lĩnh kiệt xuất của liên minh ngày càng đợc nâng cao. Kháng chiến
thắng lợi, Thục Phán đã thay Hùng Vơng tự xng là An Dơng Vơng lập ra nớc Âu Lạc.
Tên nớc Âu Lạc bao gồm hai thành tố Tây Âu (Âu Việt) và Lạc Việt, phản ánh sự liên
kết của hai nhóm ngời Lạc Việt và Tây Âu. Nớc Âu Lạc là bớc kế tục và phát triển cao
hơn của nớc Văn Lang và tên một phạm vi rộng lớn hơn. Tổ chức bộ máy nhà nớc và
các đơn vị hành chính thời Âu Lạc vẫn không có gì thay đổi so với thơì Văn Lang.
Đứng đầu nhà nớc là Thục Phán An Dơng Vơng. Dới đó, trong triều vẫn có lạc hầu
giúp vua cai quản đất nớc. ở các địa phơng (bộ) vẫn do các lạc tớng đứng đầu quản lý.
Đơn vị hành chính cấp cơ sở vẫn là công xã nông thôn (kẻ, chiềng, chạ).
Trong thời đại dựng nớc, ta có nhiều thành tựu lớn, trong đó có 2 thành tựu cơ bản nhất
thành 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc). Đứng đầu mỗi bộ lạc là lạc tớng hay còn gọi là Phụ
đạo, bộ tớng. Nh vậy bộ một mặt thể hiện sự phân chia c dân theo sự áp đặt của nhà
nớc, mặt khác thể hiện đó là đơn vị tu c tự phát nguyên thuỷ, hay nói cách khác, đơn
vị bộ mang tính nửa vời: vùng - bộ lạc hoặc thị tộc, bộ lạc - đơn vị hành chính.
Dới bộ lạc là các công xã nông thôn, bấy giờ có tên là kẻ, chiềng, chạ. Đứng đầu kẻ,
chiềng, chạ là các bồ chính (già làng) bên cạnh bồ chính có lẽ còn có một nhóm ngời
hình thành một tổ chức có chức năng nh một hội đồng công xã để tham gia điều hành
công việc của kẻ, chiềng, chạ.
Có thể sơ đồ hoá cơ cấu hành chính thời Hùng Vơng nh sau:
*Vua Hùng:
+Lạc Hầu.
+Lạc Tớng.
*Vua Hùng:
+15 bộ.
+Bộ.
2
+Bộ: kỉ, kẻ.
+Bộ: Chiềng, chạ, đứng đầu là bố chính.
#15 bộ nh sau:
-Văn Lang (Bạch Hạc - Việt Trì)
-Châu Diên (Sơn Tây - Hà Tây)
-Phúc Lộc (Sơn Tây - Hà Tây)
-Tần Hng (Hng Hoá -
-Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
-Vũ Ninh (Bắc Ninh)
-Lục Hải (Lạng Sơn)
-Ninh Hải (Hng Yên - Hải Dơng - Quảng Ninh)
-Dơng Tuyền (Hải Dơng)
-Giao Chỉ (Hà Nội - Hng Yên - Nam Định - Ninh Bình - Hà Nam)
-Cửu Chân (Thanh Hoá)
-Hành chính triều Lý nổi bật là công việc xây dựng kinh đô Thăng Long. Thành Thăng
Long có vòng luỹ đất La Thành bao bọc, nơng vào thế tự nhiên (hệ thống sông Tô
Lịch). Thành mở ra 4 cửa: Tờng Phù (Đông), Quảng Phúc (Tây), Đại Hng (Nam) và
Diệu Đức (Bắc), có hào bao quanh. Bên trong có hệ thống cung điện: càn Nguyên, Tập
Hiền, Giảng Võ, Long Trì (có đặt lầu chuông ở thềm điện này để xét xử nỗi oan ức của
dân), cùng các cung Thuý Hoa, Long Thụy. Sát với hoàng thành về phía đông là khu
chợ phố dân gian, gồm 61 phờng, quang cảnh nhộn nhịp ngày đêm, hệ thống sông
kênh (Nhị Hà, Tô Lịch) giao thông thuận tiện.
-Xây dựng bộ máy chính quyền quân chủ tập trung.
Để khẳng định vơng quyền và đề cao lòng tự tôn dân tộc, các vua Lý đã tiến hành xây
dựng một bộ máy chính quyền tập trung theo đúng mô hình nhà Tống (Trung Quốc).
Tuy nhiên, đó mới chỉ là trên danh nghãi, còn trên thực tế, chức năng của nó đơn giản
hơn nhiều.
+Chính quyền triều đình: Trong triều đình, đại thần đứng đầu 2 ban văn võ là tể tờng
và các á tớng.
Tể tớng giữ chức Phụ quốc thái phó với danh hiệu Bình chơng quân quốc trọng sự.
Có ngời lại mang thêm chức danh trong tam thái (thái s, phó, bảo), trong tam thiếu (s,
phó, bảo).
Các á tớng thì giữ chức tả, hứu tham tri chính sự. Dới tể tớng và á tớng là các hành
khiển đợc gia thêm danh hiệu Nhập nội hành khiển đồng trung th môn hạ bình chơng
sự. Tể tớng, á tớng, hành khiển là các quan chức nằm trong cơ quan gọi là mật viện
(bao gồm trung th sảnh và môn hạ sảnh).
Dới bộ phận trung khu là 6 bộ, các sảnh viện. Sách lịch sử triều hiến chơng loại chí
(quyển II - tr.7) có ghi: Bên văn thì có thợng th, tả hữu tham tri, tả hữu gián nghị và
trung th thị lang. Thuộc quan thì có trung th thừa, trung th xã nhân (lại có) bộ thị lang,
tả hữu ty lang trung, thợng th sảnh viện ngoại lang, đông tây áp môn sứ, tả hữu phúc
4
tâm, nội thờng thị, phủ sĩ s, điện học sĩ, hàn lâm học sĩ, vệ đại phu, th gia các hoả, thức
trực lang, thừa tín lang, Võ ban thì có đô thống, nguyên soái, tổng quản, khu mật sứ,
khu mật tả hữu sứ, tả hữu kim ngô, thợng tớng mật tả hữu sứ, tả hữu kim ngô, thợng t-
Quân đội nhà Lý có quân bộ, quân thuỷ, kỷ luật nghiêm minh, huấn luyện chu đáo.
Thi hành chính sách ngu binh nông cho quân sĩ luân phiên cày ruộng dẫn đến vừa
đảm bảo sản xuất, vừa đảm bảo động viên quân đội khi cần thiết.
5
Đối với các châu: Tù trởng, châu, phủ có quân đội riêng khi cần thiết đều huy động
hết. Ngoài vũ khí truyền thống nh giáo, mác còn chế tạo ra máy bắn đá dẫn đến
chính sách xây dựng quân đội mạnh mẽ có khả năng bảo vệ nhà nớc trung ơng tập
quyền, bảo vệ đất nớc.
Nhà Lý là vơng triều Việt Nam đầu tiên ban hành luật thành văn. Năm 1024, Lý Thái
Tông sai quan san định luật lệ, biên thành điều khoản, soạn ra Hình th gồm 3 quyển
(sau đó đã thất truyền) xuống chiếu ban hành trong dân gian. Qua các pháp lệnh, ta
biết đợc pháp luật nhà Lý đã mang tính chất đẳng cấp phong kiến, bảo vệ hoàng cung,
trừng trị năng tôi mu phản, cho tầng lớp quý tộc đợc chuộc tội bằng tiền. Mặt khác
pháp luật đời Lý cũng bảo vệ trật tự xã hội, chống hà làm thuế má ruộng đất, bảo đảm
sức kéo bằng cách trừng phạt nặng tội trộm trâu, giết trâu.
-Xác lập chủ quyền quốc gia dân tộc: Có thể nói rằng đến thời Lý, Việt Nam dã là một
quốc gia dân tộc dựa trên một ý thức cộng đồng chung về nguồn gốc dòng giống, lịch
sử và văn hoá. Năm 1054 Lý Thánh Tông đặt quốc hiệu là Đại Việt - nó tồn tại mãi
cho đến đầu thế kỷ 19. Năm 1175, nhà Tống chính thức công nhận chủ quyền quốc gia
của Đại Việt khi đổi danh hiệu sắc phong từ Giao Chỉ quận vơng thành Sơn Nam quốc
vơng.
Quốc gia Đại Việt đã đợc bảo vệ củng cố qua các cuộc kháng chiến chống Tống (1075
- 1077) và mở rộng lãnh thổ về phía Nam qua scác cuộc chiến tranh với Chămpa
(1069) sáp nhập các châu Địa Lý, Ma Linh, Bồ Chính (Quảng Bình, bắc Quảng Trị
ngày nay). Các vua Lý thể hiện chính sách , đa nhiều công chúa gả cho các thổ tù
miền núi để vừa ràng buộc họ vừa tạo sự ủng hộ hậu thuẫn.
-Chế độ thi cử, đào tạo quan chức:
Chế độ tuyển và cử vào ngạch quan chức đợc quy định rất chặt chẽ: lấy con cháu trong
hoàng tộc họ Lý con các quan lại, rồi mới đến dân chúng.
Đặc trng của chế độ quan chức nhà Lý là có thể mau đợc chức tớc Vậy cơ sở tạo ra hệ
định đời sống. Ra chiếu thả tù nhân không phải mắc tội lớn, cấp cho quần áo, lơng
thảo cần thiết cho họ có điều kiện quay trở vè cộng đồng sản xuất của cải bảo đảm đời
sống. Lý Công Uẩn đặc biệt coi trọng chính sách tiết kiệm, bỏ các trò chơi ở ngày
khánh tiết, bỏ yến tiệc, lễ hội tốn kém.
Nhờ những chính sách đúng đắn mà xã hội ngày càng ổn định, đời sống nhân dân
ngày càng đợc cải thiện.
Câu 4 + 8:
4.Phân tích những biến chuyển cơ bản của các chính sách hành chính thời Lý?
8.Những yếu tố cải cách của nền hành chính nớc ta thời Lý?
Trả lời:
Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua, 1010 Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa L về
thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long với mục đích đóng nơi trung tâm, mu
toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau. phản ánh yêu cầu phát triển
mới của quốc gia độc lập, chúng tỏ khả năng lòng tin và quyết tâm giữ vững nền độc
lập của cả dân tộc.
Năm 1054 nhà Lý đổi tên nớc là Đại Việt - lúc đó đất còn hẹp, dân còn tha nhng là
một nớc độc lập hoàn toàn và có đủ nsức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Tên nớc
cũng thể hiện một niềm tự tôn và ý thức bình đẳng dân tộc sâu sắc.
7
Nhà Lý đã tiến hành hàng loạt các biện pháp nhằm phát triển kinh tế, văn hoá của đất
nớc, thi hành nhiều chính sách nhằm củng cố quyền lực của nhà nớc tập quyền, đảm
bảo quyền lợi của giai cấp thống trị, nhng cũng chăm lo đến sự phát triển kinh tế.
-Tổ chức bộ máy nhà nớc:
Bộ máy nhà nớc thời Lý đợc thiết lập từ trung ơng đến địa phuơng và tập trung quyền
hành vào tay quan chức: phẩm trật các hàng quan văn võ đều có 9 bậc. Những chức
quan cao cấp trong triều đình đợc chia làm 2 ngạch: ngạch văn, nghạch võ. Các đại
thần đứng đầu nghạch văn thì có chức tham thái (s, phó, bảo) và tham thiếu, nghạch võ
có chức thái uý, thiếu uý và một số chứuc vị khác. Dới hàng quan văn thì có chức Th-
ợng th đứng đầu các bộ, ngoài ra còn có các chức khác: tả và hữu tham tri, tả và hữu
giám nghị, trung thu thị lang, bộ nhị lang tả và hữu ty lang trung, tả và hữu phúc tâm.
này không nhiều lắm và khi cần thiết chính quyền trung ơng có thể điều động và đặt d-
ới sự kiểm soát của mình.
Quân đội gồm bộ binh, thuỷ binh, kỵ binh, tợng binh. Ngoài các vũ khí truyền thống
đợc trang bị cho quân đội: giáo, mác, cung, nỏ, khiên, còn có máy bắn đá.
-Chính sách quản lý kinh tế:
Vua nhà Lý ban chiếu miễn thuế nặng nề 3 năm liên tục để dân có sức tăng gia sản
xuất, ổn định đời sống. Ra chiếu thả tù nhân không phải mắc tội lớn, cấp cho quần áo,
lơng thảo cần thiết cho họ có điều kiện quay trở về cộng đồng. Giai đoạn đầu nhà Lý
đặc biệt coi trọng chính sách tiết kiệm, bỏ các trò chơi ở ngày khánh tiết, bỏ yến tiệc,
lễ hội tốn kém. Bắt đầu sử dụng thởng công bằng ruộng đất, mở đầu là chính sách
Các vua Lý đều coi trọng chính sách phát triển nông nghiệp, năm nào cũng làm lễ cày
tịch điền để dân chúng hăng hái thi đua sản xuất, khuyến khích việc khai khẩn đất
hoang, đắp đê, làm thuỷ lợi, phát triển nông nghiệp .
Năm 1069 Lý Thánh Tông đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành đế trấn an bbờ cõi,
bắt vua Chiêm Thành cống nộp. Triều đình - ỷ Lan phu nhân thay vua thực hiện cứu
đói cho dân, mở quốc khố phát chẩn cho dân. Thay vua thực hiện nhiều chính sách táo
bạo đúng đắn do đó đẩy lùi đói kém, giặc giã, đợc lòng dân. Khi vua trở vể ỷ Lan luôn
nhắc nhở vua coi trọng chính sách phát triển nông nghiệp, trừng phạt kẻ giết hại trâu
bò để bảo tồn sức sản xuất.
Câu 5:
Đặc trng của nền hành chính nớc ta thế kỷ X? Đánh giá vai trò của Lê Đại Hành
hoàng đế?
Trả lời:
Thế kỷ X là một cái mốc quan trọng trong lịch sử Việt nam, nó khép lại hơn 10 thế kỷ
Bắc thuộc và mở đầu kỷ nguyên độc lập dân tộc. Nhà nớc dân tộc và độc lập Việt Nam
đã trở thành nền tảng ban đầu của nhà nớc quan liêu Lý Trần, Lê sơ sau này và các nhà
nớc sau bổ sung hoàn thiện mô hình của nó để củng cố nền hành chính để nhà nớc
phong kiến quản lý xã hội.
Năm 905, cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ hoàn toàn thắng lợi, chính quyền thống
trị của nhà Đờng bị lật đổ. Nhà Đờng buộc phải phong Khúc Thừa Dụ làm Tĩnh hải
tiếp tục công cuộc tự chủ của họ Khúc, lo củng cố chính quyền vừa mới giành lại đợc,
phát triển dân tộc.
-Đầu năm 937, Dơng Đình Nghệ bị viên thuộc tớng phản bội là Kiều Công Tiễn ám
hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Ngô Quyền - con rể đã từ chấu ái đem quân ra trừng phạt
Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn cầu cứu Nam Hán vua Nam hán tiến công xâm l-
ợc Âu Lạc. Đợc sự ủng hộ của nhân dân Ngô Quyền đã giết chết Kiều Công Tiễn và
chuẩn bị lực lợng để chiến đấu chống quân xâm lợc.
Chiến thắng Bạch Đằng 938 là cái mốc quan trọng chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn
1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập lâu dài của đất n-
ớc.
Năm 939 Ngô Quyền xng vơng đóng đô ở Cổ Loa và xây dựng một chính quyền trung
ơng tập quyền, bãi bỏ chế độ tiết độ sứ. ở địa phuơng các châu, huyện đợc giữ nguyên.
Các thứ sử nh Đinh Công Trứ tiếp tục cai quản châu của mình. Giáp, làng vẫn là những
đơn vị hành chính cơ sở. Bên cạnh các xóm cổ truyền có một số làng mới hình thành
và một vài trang trại.
10
Tuy đã trải qua hơn 30 năm độc lập với 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhng
tàn d của chế độ đô hộ cũ vẫn còn nhiều, tình hình xã hội còn phức tạp. Sự thành lập
của nhà Ngô với ngời đứng đầu là Ngô Quyền cha đủ điều kiện đề giữ vững sự ổn định
lâu dài.
-Năm 944 Ngô Quyền chết. Dơng Tam Khoa - em vợ cớp ngôi. Lợi dụng sự suy yếu
của chính quyền trung ơng, các thế lực địa phơng nổi dậy cát cứ gây ra loạn 12 sứ
quân. Trớc tình hình đó, năn 968 Đinh Bộ Lĩnh đã đánh bại các sứ quân, thống nhất
đất nớc lập ra nhà Đinh.
-Đinh Bộ Lĩnh xng hoàng đế, đặt tên nớc là Đại Cồ Việt, dựng đô mới ở Hoa L.
+Về tổ chức nhà nớc: Đinh Tiên Hoàng đã bắt đầu định giai phẩm cho các quan văn võ
và tăng đạo. Trong triều đình, có một số quan văn, võ nh: sĩ s, tớng quân, nha hiệu,
phó mã đô uý, và các chức tăng quan: đại sứ, lục đạo sĩ, sùng chân uý nghi Các
hoàng tử đợc phong vơng. Nhà nớc lấy đạo Phật làm quốc giáo nên nghạch tăng quan
có vai trò lớn trong việc tham dự triều chính. Đại s Ngô Chân Lu - ngời đứng đầu tăng
là tài thơ phú.
+Chính sách đối ngoại: Dùng chính sách mềm dẻo, khôn khéo nhng kiên quyết để bảo
vệ độc lập đất nớc. Về phía Nam, chỉ huy quân chinh phạt Chiêm Thanh, bắt vua
Chiêm quy phục, triều cống để giữ yên bề cõi phơng Nam.
*Thời thuộc Đờng An Nam đô hộ phủ
-châu
-huyện
-hơng
-xã
*Thời độc lập
+khúc
-lộ
-phủ
-châu
-giáp
-xã
+Đỉnh
-đạo
-giáp
-xã
+Tiền lê
-lộ
-phủ
-châu
-hơng
-xã
12
#Các vua đều xuất thân là những tớng lĩnh quen trận mạc, là tổng chỉ huy tối cao quân
đội, nắm giữ mọi quyền hành. Hệ thống quan lại phần lớn là quan võ. Quân đội thời kỳ
này đông và mạnh. Thời đinh có tới 1 triệu ngời, thời Lê Hoàn có tới 3000 cấm quân,
bị đánh xuống nớc ta. Dơng Thái hậu giao cho phụ chính Lê Hoàn tổ chức cuộc kháng
chiến. Lê Hoàn xng là phó vơng để chỉ đạo quân chống quân xâm lợc. Cử Phạm Cự L-
ợng làm đại tớng kéo quân trấn giữa vùng phía Bắc. Tiếp đó đợc quân sĩ và tớng quân
ủng hội lên làm vua. Thái hậu Dơng Vân Nga đã tự tay trao áo long bào cho Lê Hoàn.
Lê Hoàn lên ngôi xng là Lê Đại Hành hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiên Phúc, cùng các
tớng huy động quân sĩ cùng nhân dân khẩn trơng chuẩn bị chống giặc. Theo kế của
13
Ngô Quyền trớc đây, ông sai quân đóng cọc nhọn ở vùng cửa sông Bạch Đằng để ngăn
thuỷ quân của giặc. Khi thuỷ quân của giặc đến vùng vne biển gần cửa sông Bạch
Đằng thì Lê Hoàn cử quân tiến ra chống cự kịch liệt. Không đánh nổi quân ta, thuỷ
quân của giặc buộc phải rút lui. Quân Hầu Nhân Bảo đánh xuống theo đờng sông Chi
Lăng cũng bị phục binh đánh tơi bời, giết chết Hầu Nhân Bảo, Trần Khâm Tộ đợc tin
Bảo chết hoảng sợ, ra lệnh rút quân chạy về nớc nhng không kịp. Quân giặc đã bị thua
Cuộc kháng chiến chống Tống thắng lới, một lần nữa nhân dân ta đã bằng sức chiến
đấu anh dũng của mình, khẳng định quyền làm chủ đất nớc bảo vệ vững chắc thành
quả đấu tranh và xây dựng tổ tiên mình. Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã giáng một
đòn nặng nề vào t tởng bành trớng của vua tôi nhà Tống. Tên tuổi của Lê Hoàn và
quân tớng cũng nh Dơng Thái hậu mãi khắc sâu vào lịch sử kháng chiến chống ngoại
xâm bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta.
-Sau khi đánh bại quân giặc, Lê Hoàn bắt tay vào việc ổn định tình hình trong nớc. Tổ
chức lại chính quyền, mở mang đờng sá, khuyến khích nhân dân sản xuất, lo chống lại
các cuộc nổi dậy của nhân dân ở các vùng xa, đặc biệt là các châu phía Nam.
-Năm 989 quản giáp Dơng Tiến Lộc đợc cử đi thu thuế ở 2 châu ái, Hoan đã nhân tố
liên kết với một số thủ lĩnh địa phơng giữ châu chống lại triều đình. Lê Hoàn phải cầm
quân đi đánh dẹp.
-Năm 999, 1001 Lê Hoàn lại phải đem quân đánh dẹp các cuộc nổi dậy của ngời Hà
Đông, Cử Long. Tình hình tạm yên trong một thời gian.
-Năm 980 sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã cử Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chăm pa đặt
quan hệ hoà hiếu, nhằm yên mặt Nam để chống giặc Tống. Vua Chăm pa cậy thế
thùng mạnh bắt giữ sứ thần.
nhất, tại đất Mê Linh. Đứng đầu châu là một viên thứ sử phụ trách công việc của các
quận. Mỗi quận có 1 viên thái thú và 1 viên đô uý (cai quản hành chính - dân sự, quân
sự). Dới quận là huyện từ các bộ phận chuyển thành. Các lạc tớng vẫn nắm quyền cai
trị và vẫn đợc thế tập nhng đổi gọi là huyện lệnh.
Tuy nhà Hán đã áp đặt đợc bộ máy ở cấp châu, quận nhng ở cấp huyện và cấp cơ sở,
bộ máy quản lý hành chính cổ truyền của ngời Việt hầu nh vẫn đợc giữ nguyên.
Từ 23 - 220 nhà Đông Hán thay thế nhà Tây Hán cai trị Âu Lạc và tổ chức bộ máy đô
hộ hoàn thiện hơn. Đứng đầu châu Giao Chỉ là chức châu mục, đến năm 42 đổi lại
thành thứ sử. Thứ sử phải luôn trụ tại sử làm việc và cử ngời thay mặt mình về triều
đình báo cáo. Giúp việc châu mục có các lại viên gọi là tòng sự sử gồm 7 ngời: công
tào tòng phụ trách việc tuyển bổ quan lại, tào tòng sự ở cấp quận, ngoài viên thái thú
còn đặt thêm chức quận thừa giúp việc và thay thế khi thái thú vắng mặt. ở nhiều quận
biên giới đặt 1 viên thừa (ngạch quan văn) làm trởng sử giúp thái thú. Đến 38, các
quận biên giới bỏ chức thái thú và quận thừa, tất cả quyền hành tập trung vào thừa tr-
ởng sử. Thái thú nắm cả quyền quản lý hành chính xét xử và chỉ huy quân sự. Bộ máy
hành chính cấp quận chia thành các tào, đứng đầu là các duyên sử, tuỳ từng quận mà
có thế đặt thêm chức quan diêm quan, thiết quan (đúc chế sắt), công quan (thu thuế
thủ công nghiệp)
Các huyện thuộc quận, đứng đầu là huyện lệnh, huyện trởng do các lạc tớng nắm giữ,
ăn lơng nhà nớc. Dới huyện lệnh là 1 viên thừa (quan văn) và 2 viên uý (quan võ) giúp
việc. Bộ máy hành chính cấp huyện cũng chia thành các tào chuyên trách.
Địa bàn nớc ta khi ấy nằm trên 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
+Quận Giao Chỉ chia ra 10 huyện: Liên Lâu, An Định, Câu Lâu, Mê Linh, Khúc D-
ơng, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Chu Diên. Theo Đào Duy Anh: Quận Giao
15
Chỉ ở đời Hán là đất Bắc Bộ ngày nay, trừ miền Tây Bắc còn ở ngoài phạm vi thống trị
của nhà Hán, 1 góc tây nam tỉnh Ninh Bình bây giờ là địa đầu của quận Cửu Chân và
một dải bờ biển từ Thái Bình Kim Sơn (Ninh Bình) bấy giờ cha đợc bồi đắp, lại phải
thêm, vào đấy một vùng về phía tây nam Quảng Tây.
+Quận Cửu Chân chia làm 7 huyện: T Phố, C Long, Đô Lung, D Phát, Hàm Hoan, Vô
song 264 nhà Ngô lại đặt tên nh cũ là Châu Giao, lấy thành Long Biên làm châu lị.
271 nhà Ngô đặt thêm quận Cửu Đức (đợc tách từ 1 bộ phận ở nam quận Cửu Chân t-
ơng ứng với huyện Hàm Hoan cũ). Quận Cửu Đức gồm 6 huyện: (thuộc hầu hết 2 tỉnh
16
Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay), huyện Hàm Hoan mới (Diễn Châu, Yên Thành,
Quỳnh Lu, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu ngày nay), Cửu Đức (Hng Nguyên, Nam Đàn,
Thanh Chơng và 1 phần Đức Thọ), huyện Dơng Thành (Nghi Lộc, Nghi Xuân, Việt
Thờng), Phù Lĩnh (Can Lộc), Khúc T (phần phía nam Hà Tĩnh).
5)Từ 280 - 420
Năm 280 nhà Tần diệt đợc nhà Ngô, thống nhất Trung Quốc đã mở rộng địa giới quận
Cửu Đức cho đến Hoành Sơn, đặt thêm huyện Nam Lăng và Đô Giao (tơng đơng với
Nghi Xuân, Hơng Sơn, Hơng Khê, Thạch Hà - Hà Tĩnh).
6)Từ 420 - 588
Nhà Tần suy sụp, ở Trung Quốc diễn ra cục diện Nam - Bắc triều. Đất nớc ta bị đặt d-
ới ách đô hộ của Nam triều (các triều Tống, Tề, Lơng, Trần).
Năm 470 nhà Tống tách Hợp Phố sáp nhập vào nội địa Trung Quốc. Bản đồ Giao Châu
còn lại trong phạm vi vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay. Vùng Nghệ An, Hà
Tĩnh vẫn gọi là Cửu Đức. 523, nhà Lơng đặt thêm ái Châu ở Thanh Hoá, đổi Cửu Đức
thành Đức Châu, đặt thêm 2 châu mới là Lợi Châu và Minh Châu.
535 đặt thêm châu mới là Hoàng Châu (ven biển Giao Chỉ - Quảng Ninh). Cùng với
thay đổi các đơn vị hành chính là việc tổ chức chặt chẽ hơn bộ máy thống trị của
chính quyền đô hộ. Đứng đầu vẫn là chức thứ sử (châu mục). ở quận vẫn có chức thái
thú và bộ máy quan lại gồm trởng lại, lục sự, công tào cai quản. Đứng đầu huyện là
các chức huyện lệnh do ngời Trung Quốc đảm nhiệm.
-Giao Châu đợc chia làm 8 quân.
+Giao Chỉ: 14 huyện, 12000 hộ.
Long Biên, Câu Lâu, Vọng Hải, Liên Lâu, Tây Vu, Vũ Nunh, Chu Diện, Khúc Dơng,
Ngô Hng, Bắc Đái, Kê Từ, An Định, Vũ An, Quân Bình.
+Tân Xơng: 6 huyện, 3000 hộ
Mê Linh, Gia Hng, Ngô Định, Phong Sơn, Lâm Tây, Tây Đạo.
Giao. Năm 607 nhà Tuỳ bỏ đơn vị hành chính châu, chia Châu Giao thành 6 quận trực
thuộc triều đình trung ơng (Lịch sử nhà nớc và pháp luật).
Quận Giao Chỉ (gồm 9 huyện), Cửu Chân (7 huyện), Nhật Nam (Nghệ Tĩnh 8 huyện),
Tỷ Cảnh (Tỷ ảnh - Chiêm Thành - 4 huyện). Lâm ấp (Thừa Thiên Huế 4 huyện).
6 quận: 36 huyện thị sở đặt ở Tống Bình - Hà Nội.
9)Từ 618 - 907
Năm 618 nhà Tuỳ đổ, nhà Đờng thành lập ở Trung Quốc, thái thú Khâu Hoà (của nhà
Tuỳ) giữ Giao Châu xin thần phục nhà Đờng. Từ đó 904 Giao Châu đã bị nhà Đờng
đô hộ. Nhà Đờng đổi các quận thành châu nh cũ. 622 nhà Đờng đổi Giao Châu thành
An Nam tổng quản phủ. 679 đặt An Nam đô hộ phủ để cai quản nớc ta.
Bấy giờ An Nam đô hội phủ cai quản 12 châu:
+Giao Châu nay ở đất Hà Nội, Nam Định có 8 huyện: Tống Bình, Nam Định, Thái
Bình, Giao Chỉ, Chu Diên, Long Biên, Bình Đạo, Vũ Bình.
+Lục Châu: sau là Quảng Yên, Lạng Sơn gồm 3 huyện: Ô Lôi, Hoa Thanh, Ninh Hải.
18
+Phúc Lộc Châu gồm 3 huyện có lẽ ở miền nam Hà Tĩnh và miền Quy Hợp, Ngọc
Ma ở phía tây Hoành Sơn.
+Phong Châu: Gia Ninh, Thừa Hoá, Tân Xơng.
+Thanh Châu: Thanh Tuyền, Lục Thuỷ, la Thiều.
+Trờng Châu có 4 huyện nay thuộc Ninh Bình.
+Chi Châu (7 huyên): Hàn Thành, Phú Xuyên, Bình Tây, Lạc Quang, Lạc Diêm, Đa
Vân, Tu Long.
+Võ Nga Châu (7 huyện): Võ Nga, Nh Mã, Võ Nghĩa, Võ Di, Võ Duyên, Võ Lao, L-
ơng Sơn.
+Võ An Châu: Võ An, Lâm Giang.
+ái Châu (6 huyện): Cửu Chân, An Thuận, Sùng Bình, Quân Ninh, Nhật Nam, Trờng
Lâm.
+Hoan Châu (4 huyện): Cửu Đức, Phố Dơng, Việt Thờng, Hoài Nam.
+Diễn Châu (7 huyện)
Năm 757 đổi làm Trấn Nam đô hộ phủ.
đạo quốc gia. Các chức vụ chủ chốt trong triều đình (nhất là về võ quan, nh các tớng
lĩnh trong cuộc kháng chiến chống Nguyên) đều do các ngời họ hàng thân cận với nhà
vua nắm giữ. Để đề phòng nạn ngoại thích, nhà Trần thực hiện chế độ hôn nhân đồng
tộc. Nhiều nhà vua và vơng hầu tôn thất nhà Trần đã lấy những ngời trong họ hàng đôi
khi khá gần gũi (Trần Thái Tông lấy chị dâu, Trần Thủ độ lấy chị họ ). Mặt khác, các
vua Trần cũng hết lòng thơng yêu đùm bọc các vơng hầu tôn thất.
Nền quân chủ quý tộc dòng họ.
2) Biến đổi và phát triển nền hành chính
Họ Trần tuy đã nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong triều đình và một số lộ phủ quan
trọng, nhng số lợng ngời và năng lực có hạn, vẫn phải xây dựng bộ máy hành chính từ
trung ơng địa phơng, thu nhận nhiều ngời thuộc các tầng lớp. Nhà nớc này là khối
liên kết của dòng họ Trần với bộ phận quan liêu ở các cấp chính quyền khác nhau và
ngày càng mở rộng về phơng thức tổ chức và cơ chế vận hành của nhà nớc này có mặt
phỏng theo mô hình nhà Tống.
a)Triều đình
-Bộ phận trung khu: gồm tể tớng, á tớng, tri mật viên sứ và hành khiển ở môn hạ sảnh
có nhiệm vụ chỉ đạo các quan văn võ. Đứng đầu trung khu là quan chức mang danh
hiệu tam thái (s, phó, bảo) và tam thiếu (s, phó, bảo) và tâm t (t đồ, t mã, t không).
Chức vụ tể tớng phải là thân vơng với chức danh là tả hữu tớng quốc hay nhập nôi
kiểm hiệu đắc tiến khai phủ nghi đồng tam ti bình chơng sự. Chức vụ á tớng thờng là
tham tri chính sự hay là tri mật viên sự và nhiều khi mang chức danh là tả, hữu bộc xạ
kèm thêm 2 chữc nhập nội.
Chức vụ hành khiển gần ngang với á tớng chia làm 2 ban tả và hữu ở kinh đô Thăng
Long và hoàng cung Tức Mặc, nhng chung 1 viện, về sau đổi là môn hạ sảnh. Danh
hiệu cao nhất của quan chức hành khiển là nhập nội hành khiển đồng trung thu môn hạ
sảnh bình chơng sự. Cơ quan này lúc đầu chỉ dùng hoạn quan, sau dùng các nho thần
nh Nguyễn Trung Ngạn, Lê C Nhân.
20
Việc phân chia bộ phận trung khu gồm tể tớng, á tớng, các quan chức ở khu mật viện,
hành khiển môn hạ sảnh tách khỏi và đứng trên các cơ quan chức năng là bớc phát
Khoái (phần Hng Yên), Thanh Hoá (Thanh Hoá), Hoàng Giang (phần đất Hà Nam),
Diễn Châu (bắc Nghệ An). Thế kỷ XIV, nhà Trần còn đặt các phủ: Lâm Bình (Quảng
Bình và Quảng Trị), Thái Nguyên (Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng), Lạng Giang
(Bắc Giang, Lạng Sơn).
1307 đổi 2 châu Ô, Lý, thu nạp Chăm p thành châu Thuận và châu Hoá.
21
Chính quyền cấp lộ (phủ, trấn) có chức an phú chánh sứ và phó sứ, thông phán, trấn
phủ (tri phủ). Ngoài ra, ở lộ còn có các cơ quan phụ trách một số công việc nh:
-Hà đê: trong coi đê điều, có hà đê chánh sứ và phó sứ.
-Thuỷ lộ đề hình: trông coi công việc giao thông thuỷ và bộ. 1344 nhà Trần tăng cờng
thêm cơ quan chính quyền địa phơng, đặt đồn điền sứ và phó sứ ở ty khuyến nông.
Nhà Trần rất coi trọng chính quyền cấp lộ phủ. Dới phủ lộ là các châu, huyện và vào
cuối thế kỷ XIV có thêm cấp xã. Châu ở vùng miền núi, có các chức chuyển vận sứ,
thông phán. Huyện có các chức tri huyện (còn gọi là lệnh uý) và chủ bạ. Một vài tài
liệu cho biết dới phủ lộ là hơng rồi đến xã.
1297 Nhân Tông đổi giáp làm hơng, pử trung du và miền núi thì gọi là sách, động.
Chính quyền hơng, sách là cấp cuối cùng trong hệ thống đơn vị hành chính ở địa ph-
ơng, trong đó có xã quan. Xã quan gồm đại t xã (hoặc tiểu t xã) xã trởng, xã giám có
nhiệm vụ quản lý hơng xã, làm hộ tịch. Chức đại t xã hay gọi là đại toát có hàm từ
ngũ phẩm trở lên, tiểu t xã hay gọi là tiểu toát có hàm từ lục phẩm xuống.
Chia kinh đô Thăng Long thành 61 phờng. ở phủ, lộ có hơng. Hơnbg có đại toát hoặc
tiểu toát cai qiản, sách thì do phụ đạo hay quan lang quản lý. Hơng sách gồm nhiều
thôn. Dới hơng có nhiều làng (trang hay thôn) nhng làng không phải là cấp chính
quyền.
Triều đình đã nhiều lần kiểm soát nhân đinh hộ khẩu, nhng hình nh chia lần nào có
biện pháp lập điền bạ hay điều tra ruộng đất. Có thể cho rằng: thôn, trang với các mối
quan hệ dân c, họ hàng, nghề nghiệp cũng cha chặt chẽ nh những thời kỳ sau khi
chính quyền xã chuyển xuống là thôn, làng.
Dân đinh ở các hơng đợc ghi vào sổ hộ tịch, phân làm 3 hạng theo tuổi: 17 tuổi là tiểu
hoàng nam; 20 tuổi trở lên là đại hoàng nam; 60 tuổi trở lên là lão hạng. Hàng năm
-Lực lợng vũ trang của các quý tộc: cấm quân là chủ lực bảo vệ Thăng Long, Tức Mặc
nòng cốt trong chiến tranh chống ngoại xâm. Cấm quân có thể đợc điều động đi các
địa phơng hoặc phối hợp với các lộ quan tổ chức tác chiến. Lộ quân có nhiệm vụ
phòng giữ địa phơng trong lộ. Ngoài cấm quân và lộ quân là bộ phận do nhà nớc tổ
chức và chỉ huy, các vơng hầu đợc phép chiêu mộ quân riêng khi có lệnh vua. Lực l-
ợng vũ trang của các quý tộc này thờng đợc gọi là "vơng hầu gia đồng"chủ yếu là gia
nhân, gia nô. Bộ phận này cũng đợc phiên chế thành đô. Trong chiến tranh, nhà Trần
có thể tập hợp đợc lực lợng quân đội mạnh đông đảo chhủ yếu, còn do thực hiện chính
sách "ngụ binh nông" sự kết hợp giữa xây dựng kinh tế và quốc phòng, kết hợp giữa
sản xuất nông nghiệp và tổ chức vũ trang của thời đại đó.
Nâng cao chất lợng binh lính bằng các biện pháp tuyển quân; tuyển tớng; huấn luyện
binh pháp và rèn luyện t tởng; tuyển quân từ các làng xã, kén chọn các ngời có sức
khoẻ. Quân lính đợc trang bị các loại chiến bào, áo da, sử dụng các loại pháo (máy bắn
đá) và súng phun lửa gọi là "hoả khí". Có nhiều loại thuyền chhiến các cỡ từ 30 100
tay chèo, thiện chiến trên sông nớc, nhiều ngời giỏi tài bơi lặn (Yết Kiêu).
Cho lập Giảng Võ đờng ở phía tây thành Thăng Long để huấn luyện quân sĩ trờng
cao cấp quân sự đào tạo võ quan.
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên đã thể hiện tổ chức quân đội và
chính sách xây dựng lực lợng vũ trang là đúng đắn, sáng tạo. Đó là quân đội có số l-
ợng đông khi cần thiết, có chất lợng tinh thần vào loại mạnh trên thế giới đơng thời.
Hàng loạt các chiến thắng Đông Bộ Đầu (1288) Hàm Tử, Tây Kết (1285) đặc biệt là
Bạch Đằng (1288) là hình ảnh tiêu biểu của quân đội Đại Việt thời Trần trong thời kỳ
hng thịnh.
e)Chính sách kinh tế:
23
Thi hành chính sách trọng nông, khuyến khích nông nghiệp. Cùng với chính sách "ngụ
binh nông"kết hợp kinh tế với quốc phòng, triều đình đã lập ra ty khuyến nông đặt các
chức quan Hà đê chánh, phó sứ. 1248 cho đắp đê dọc sông Nhị Hà. Hàng năm mọi
ngời đều phải có nghiệp vụ tu sửa đê diều, không ai đợc miễn trừ phải chịu những
nghiệp vụ tô thuế và lao dịch. 1378, bắt dầu đánh thuế thân, đồng lạot thu mỗi hộ đinh
Trả lời:
1)Khủng hoảng cuối thời Trần và yêu cầu cấp thiết cái cách duy tân đất nớc.
24
Từ nửa cuối thể kỷ XIV, nhà Trần đã không chăm lo đến thuỷ lợi đê điều và ác chính
sách khuyến nông tích cực khác, lại còn vơ vét tiền của, thóc gạo của nhân dân. Xã hội
lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Các điền trang ngày một t phát triển, nhng sản xuất
lại trở nên trì trệ, đời sống các nông nô, nô tỳ trong đó bị bần cùng hóa. Mất mùa, đói
kém liên tiếp xảy ra, nông dân nổi dậy bạo động, điển hình là cuộc khởi nghĩa của
Ngô bệ ở núi Yên Phụ (Hải Dơng) 1344 - 1360.
Triều đình ngày càng sa đoạ nhiều đại thần mắc tệ nạn tham nhũng, rợu chè, cờ bác,
tham ăn, hiếu sắc. Nhà vua (Trần Dụ Tông) cũng ăn chơi xa xỉ truỵ lạc. Chu Văn An
đã từng dâng sớ thất trảm, xin chém 7 gian thần, nhng bị từ chối. Dơng Nhật Lễ (con
ngời phờng chèo, cháu Dụ Tông) nối ngôi Dụ Tông, gây sự biến mu đổi họ, bị các
triều thần lật đổi, gây nên khủng hoảng cung đình.
Bên ngoài, Champa nhiều lần gây xung đột Champa với Đại Việt đem quân vào đánh
phá Thăng Long. Du Tông đi đánh Champa, lân nạn tại thành Đồ Bàn. Chỉ đến khi c
Chế Bồng Nga tử trận (1396) chiến tranh mới tạm yên. Tiếp đó; nhà Minh ở phơng
Bắc lại gây sức ép, hạch sách, đòi cống nạp, mợn đờng, đe doạ xâm lợc, càng làm
cuộc khủng hỏng thêm sâu sắc, đe doạ sự tồn tại trong vơng triều.
Nh vậy, vào nửa cuối thế ký XIV, đất nớc đứng trớc cuộc khủng hoảng kinh tế - xác
hội, trớc xu hớng phân tán và ly tâm đang phát triển và lan rộng. Đất nớc đứng trớc
nguy cơ bị xâm lợc Nhà nớc TRần đã suy yếu, bất lực, không còn khả năng điều
hành đất nớc, nhng lại muốn giữ nguyên cơ chế cũ. Đất nớc muốn vợt qua cuộc khủng
hoảng đòi hỏi phải cải cách. Muốn vậy phải có khu vực TW tập quyền vững mạnh đủ
khả năng thực hiện cuộc cải cách, lãnh đạo dân tộc đánh thắng giặc ngoại xâm.
Để thực hiện yêu cầu đó, điều cần thiết đầu tiên là phải gạt bỏ những quý tộc Trần bảo
thủ ra khỏi bộ máy điều hành đất nớc, xóa bỏ kinh tế điền trang, góp sức lãnh đạo
trong nông nô, nô tỳ, xóa bỏ nền quân chủ quý tộc không còn phù hợp với xu thế phát
triển trong đất nớc, xây dựng 1 nhà nớc quân chủ liên quan với quan hệ sản xuất địa
chủ tá điền chiếm u thế và đị vị xã hội chủ đạo.