đề tài Đa dạng sinh học Vườn quốc gia Pù Mát - Pdf 25

MỤC LỤC

Trang
I .Mở đầu 1
II .Tổng quan về tình hình nghiên cứu và phát triển 2
III .Phương pháp tiếp cận 3
IV .Kết quả 4
1.Lịch sử hình thành Vườn quốc gia Pù Mát 4
2.Địa hình và thủy văn của Vườn quốc gia Pù Mát 5
3.Đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Pù Mát 5
4.Tình hình suy thoái ở Vườn quốc gia Pù Mát 17
5.Giải pháp phát triển bền vững 18
V .Kết luận và đề nghị 20
VI .Tài liệu tham khảo 21
1
MỞ ĐẦU
Trong những thập niên gần đây hoạt động của con người đã làm suy giảm
nghiêm trọng đa dạng sinh học trên Trái Đất. Ngày 11-1 vừa qua, Liên hiệp quốc
phát động 2010 là năm Quốc tế đa dạng sinh học. Viêt Nam tuy đứng thứ 16 trên
thế giới về đa dạng sinh học nhưng đồng thời lại là quốc gia thứ 10 về mức độ suy
thoái.
Trong số 30 Vườn quốc gia hiện đã được công nhận [8], Pù Mát- trung tâm
của khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An với diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, được
các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là một trong những khu rừng đặc
dụng có giá trị đa dạng sinh học cao của vùng Bắc Trung Bộ cũng như của Việt
Nam. Không chỉ vậy, Pù Mát còn là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn với những
cảnh đẹp vừa hùng vĩ, vừa nên thơ mà thiên nhiên ban tặng cho Nghệ An.
Vườn quốc gia Pù Mát là một kho tàng về các nguồn gen hoang dã, quý hiếm.
Nơi đây hội tụ đủ tính chất và hệ sinh thái của một khu rừng nhiệt đới năm tầng với
đồi, rừng, sông, suối, các trảng cỏ rộng lớn và những dãy núi đá vôi khổng lồ chạy
dài dọc theo sông Giăng. Pù Mát có thảm thực vật phong phú với 2.494 loài thực

được thực hiện cho quần thể thuộc khu vực núi đá vôi, do các chuyên gia của Đại
học quốc gia Hà Nội thực hiện.
Cứu hộ động vật hoang dã và thả vào rừng: Từ khi thành lập trung tâm cứu hộ
động vật hoang dã đến nay đã nhận cứu hộ và thả vào rừng hàng ngàn cá thể của
các loài thú, chim, bò sát. Các động vật này được tịch thu từ các hạt kiểm lâm trong
tỉnh và các trạm Quản lý bảo vệ rừng của vườn. Một số loài động vật quý hiếm đã
được trung tâm cứu hộ đảm bảo sức khoẻ và thả về môi trường hoang dã đó là Chó
sói lửa, Gấu chó, Gấu ngựa, Báo gấm, Yúng, Trăn.
Lưu giữ bảo quản tiêu bản nhà bảo tàng: Vườn quốc gia Pù Mát là một trong số
ít các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn của Việt Nam có hệ thống nhà bảo tàng có thể
tham quan nghiên cứu và học tập được. Hiện nay số tiêu bản đang được lưu giữ tại
bảo tàng gồm:
- Thực vật: Có 36 tủ bảo quản với 10.064 mẫu của 1.311 loài thuộc 144 họ
- Thú và bò sát: 21 mẫu tiêu bản nhồi bông.
- Bướm lưu giữ: 304 mẫu (198 mẫu bướm ngày; 106 mẫu bướm đêm)
- Cá: 71 tiêu bản của 71 loài thuộc 17 họ 6 bộ (cá nước ngọt).
3
Các mẫu tiêu bản động thực vật là tư liệu quý phục công tác nghiên cứu, tham
quan được du khách và các nhà khoa học yêu thích.
Bên cạnh đó việc tiếp tục sưu tập bổ sung tiêu bản vẫn được tiến hành thường
xuyên. Trong 6 tháng đầu năm 2006, đã tiến hành điều tra hai đợt về thực vật tại
khu vực Khe Kèm, số tiêu bản thực vật được sưu tập bổ sung là 200 mẫu.
Ngoài việc điều tra bổ sung tiêu bản thực vật, Phòng Khoa học cũng đã phối hợp
với Chuyên gia của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Chuyên gia phân loại
Kiến của Trường Đại học Kagoshima Nhật Bản điều tra khu hệ kiến của Vườn quốc
gia. Kết quả đã thu thập được hơn 140 tiêu bản của 78 loài thuộc 40 chi, 9 phân họ
Kiến có mặt tại Vườn quốc gia Pù Mát.
Chương trình bẫy ảnh tự động: Thực hiện từ năm 1998-2002 thu được 556 bức
ảnh của 50 loài thú, chim, bò sát trong đó có những loài thú quý hiếm lần đầu tiên
chụp ảnh trên thực địa tại Việt Nam đó là Sao la, Thỏ vằn Trường Sơn, Hổ, Voi,

định thành lập hai khu rừng đặc dụng độc lập ở phía tây nam tỉnh Nghệ An: Khu
Bảo tồn Thiên nhiên Anh Sơn, huyện Anh Sơn với diện tích 1.500 ha và Khu Bảo
tồn Thiên nhiên Thanh Thủy, huyện Thanh Chương với diện tích 7.000 ha. Hai khu
bảo tồn trên sau này được kết hợp làm một để thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên
Pù Mát tại các huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương (Bộ NN&PTNT,
1997).
Năm 1993, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây dựng dự án đầu tư Khu Bảo
tồn Thiên nhiên Pù Mát. Bản kế hoạch đầu tư này đã được Bộ Lâm nghiệp thẩm
định theo văn bản số 343/LN-KH ngày 20/02/1995 và được UBND tỉnh Nghệ An
phê duyệt theo Quyết định số 3355/QĐ-UB ngày 28/12/1995.
Ngày 21/11/1996, Quyết định số 876/QĐ-TTg của Thủ tuớng Chính phủ về việc
phê duyệt Dự án Lâm nghiệp xã hội và Bảo tồn thiên nhiên khu Pù Mát, tỉnh Nghệ
An, do EU tài trợ.
Ngày 21/5/1997, Quyết định số 2150/QĐ-UB của UBND tỉnh Nghệ An về việc
thành lập Khu BTTN Pù Mát và thuộc sự quản lý của Chi cục kiểm lâm tỉnh Nghệ
An.
5
Kế hoạch đầu tư mới cho Pù Mát được Viện Điều tra Quy hoạch Rừng xây dựng
năm 2000, đề xuất chuyển hạng mục quản lý rừng đặc dụng từ khu bảo tồn thiên
nhiên thành Vườn quốc gia. Bản kế hoạch đầu tư được UBND tỉnh Nghệ An phê
duyệt ngày 20/06/2000 theo Quyết định số 2113/QĐ-UB và được Bộ NN&PTNT
phê duyệt ngày 26/06/2000 theo Công văn số 2495/QĐ/BNN-KH. Ngày 8/11/2001,
Quyết định số 174/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển hạng
khu BTTN Pù Mát, tỉnh Nghệ An thành Vườn quốc gia. Theo Quyết định này, tổng
diện tích Vườn quốc gia là 91.113 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là
89.517 ha, phân khu phục hồi sinh thái là 1.569 ha, vùng đệm có diện tích 86.000
ha[7] . Pù Mát hiện thuộc sự quản lý tài chính của UBND tỉnh Nghệ An, trong khi
kế hoạch quản lý được giao cho Chi cục kiểm lâm tỉnh.
Pù Mát có trong danh lục các khu rừng đặc dụng Việt Nam đến năm 2010 được
xây dựng bởi Cục Kiểm lâm - Bộ NN&PTNT với diện tích 91.113 ha (Cục Kiểm

Nghệ An, cùng với sự cộng tác của 55 nhà khoa học trong và ngoài nước, 17 cán bộ
Vườn quốc gia Pù Mát đã tổ chức nhiều đợt điều tra, nghiên cứu thực địa ở vùng
núi thấp và vùng núi cao trong thời gian từ năm 1998 đến năm 2004. Kết quả đa
dạng sinh học tổng hợp như sau:
Đến nay, đã có 2.494 loài thực vật bậc cao có mạch được khẳng định có phân
bố tại Pù Mát (Nguyễn Nghĩa Thìn, in press), trong số đó có một số loài mới cho
khoa học.
Thảm thực vật phân bố rộng nhất trong Vườn quốc gia là rừng thường xanh đất
thấp. Kiểu rừng này ưu thế vởi các loài cây họ Dầu Dipterocarpaceae (Hopea spp.
và Dipterocarpus spp.), Dẻ Fagaceae (Quercus spp., Lithocarpus spp. và
Castanopsis spp.) và Long não Lauraceae (Cinnamomum spp. và Litsea spp.)
(Grieser Johns, 2000).
Tại các đai cao hơn, rừng thường xanh trên núi thấp bắt đầu xuất hiện. Dưới
1.500 m, kiểu rừng này ưu thế bởi các loài họ Dẻ Fagaceae, Long não Lauraceae
và Sim Myrtaceae, tuy vậy vẫn thấy một vài loài thuộc họ Dầu Dipterocarpaceae
xuất hiện. Ở độ cao trên 1500 m, các loài cây họ Dầu Dipterocarpaceae hoàn toàn
không thấy xuất hiện, thảm thực vật đặc trưng bởi các loài hạt trần Sa-mu
Cunninghamia konishii, Pơ-mu Fokienia hodginsii và Kim giao Decussocarpus
wallichianus. Những vùng rừng chưa bị tác động của kiểu rừng này phân bố dọc
theo các núi cao ở phía tây bắc của Vườn quốc gia (Grieser Johns, 2000).
Pù Mát là một trong những vùng quan trọng nhất đối với công tác bảo tồn thú ở
Việt Nam. Các đợt điều tra của SFNC đã khẳng định sự tồn tại của 5 loài thú đặc
hữu Đông Dương là Sao La Pseudoryx nghetinhensis, Thỏ vằn Nesolagus timminsi,
7
Vượn đen má trắng/hung Hylobates leucogenys, Chà vá chân nâu Pygathrix
nemaeus và Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis. Ngoài ra, còn có những
ghi nhận chưa chắc chắn về một số loài đặc hữu Đông Dương khác là Mang lớn
Muntiacus vuquangensis, Lợn rừng Đông Dương Sus bucculentus. Các đợt điều tra
trong khuôn khổ SFNC cũng khẳng định sự phân bố của hàng loạt các loài bị đe doạ
tuyệt chủng trên toàn cầu ở Pù Mát như Khỉ mốc Macaca assamensis, Sói đỏ Cuon

- 4 loài ở mức CR (Rất nguy cấp),
- 8 loài ở mức NT (Sắp bị đe doạ),
- 3 loài ở mức DD (Thiếu dẫn liệu),
- 19 loài ở mức LC (ít lo ngại) .
Các kiểu thảm thực vật của Vườn quốc gia Pù Mát:
- Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim á ẩm nhiệt đới chiếm
29%.
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 46,5%
- Kiểu phụ rừng lùn đỉnh núi 1,7%
- Rừng phục hồi sau khai thác và sau nương rẫy 21%
- Trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác 1,4%
- Đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy 0,4%
Qua các dẫn liệu cho thấy, Pù Mát có đủ sự đa dạng, phong phú về giá trị nguồn
gen thực vật của một Vườn quốc gia ở Việt Nam.
Bước đầu ghi nhận được Vườn quốc gia Pù Mát có 1.297 loài thuộc 607 chi và 160
họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch. Kết quả trong bảng 1 cho ta thấy khu hệ
thực vật Vườn quốc gia Pù Mát phong phú về thành phần loài, nhất là ngành Ngọc
lan (Magnoliophyta) chiếm 92,91%. Sự phong phú này ngoài yếu tố bản địa, vị trí
địa lý thuận lợi đã tạo nên sự du nhập dễ dàng của nhiều luồng thực vật từ các vùng
khác nhau. Đó là luồng thực vật Hymalaya - Vân Nam - Quý Châu di cư xuống với
các loài đại diện trong ngành Thông (Pinophyta) và các loài lá rộng rụng lá. Luồng
thực vật Malaysia - Indonesia từ phía Nam đi lên với các đại diện thuộc họ Dầu
(Dipterocarpaceae). Luồng thực vật India - Myanmar từ phía Tây di cư sang với
các đại diện thuộc họ Tử vi (Lythraceae), Bàng (Combretaceae). Đặc biệt, ở Vườn
quốc gia Pù Mát, khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa chiếm
một tỷ trọng lớn nhất.[4]
9
Trong số 160 họ thực vật tìm thấy có tới 40 họ có trên 10 loài. Họ Cà phê
Rubiaceae phong phú hơn cả (92 loài), tiếp đến họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) 67
loài, họ Re (Lauraceae 58 loài), họ Dẻ (Fagaceae), họ Dâu Tằm (Moraceae) 42

mật (Madhuca pasquieri) dùng làm ván sàn, bệ máy, tàu thuyền. Nhiều loài cây
10
cung cấp gỗ xây dựng, làm đồ gia dụng rất tốt như các loài trong họ Ngọc Lan, họ
Xoan, họ Dẻ và đặc biệt là họ Dầu. Các nhóm công dụng khác như cung cấp vật
liệu điêu khắc, làm đệm, sản xuất các văn phòng phẩm cũng có nhiều loại.
(+) Nhóm cây thuốc (M): Đã thống kê được 197 loài thực vật dùng làm thuốc
(chiếm 15,2% tổng số loài) thuộc 83 họ thực vật khác. Các họ có nhiều loài cây
thuốc là: Họ Cà phê (Rubiaceae): 17 loài; họ Cúc (Asteraceae): 13, họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae): 10 loài, họ Cam (Rutaceae): 9 loài; họ Đơn Nem (Myrsinaceae):
7 loài.
Tuy số lượng họ có nhiều loài lớn nhưng trữ lượng của các loài lại không cao.
Một số loài có triển vọng là chân chim (Scheffera octophylla), hà thủ ô trắng
(Streptocaulon griffithii), thường sơn (Dichroa febrifuga), củ mài (Dioscorea
persimilis), thổ phục linh (Smilax glabra), thiên niên kiện (Homamena occulta).
Một số loài câu thuốc rất quý nhưng tiếc rằng hiện rất hiếm như hoàng nàn
(Strychnos wallichii), hoàng đằng (Fibraurea recsa), ba kích (Morinda officinalis),
bình vôi (Stephania rottunda),…
(+) Nhóm cây ảnh (O); Có 74 loài chiếm 5,4% tổng số loài trong vùng, phần lớn
các loài thuộc dạng thân thảo hoặc cây bụi. Cùng với sự phát triển kinh tế là nhu
cầu về cây cảnh để trang trí nội thất, đường sá, công viên ngày càng cao. Vì vậy,
việc quản lý bảo vệ nguồn cây cảnh này, nhất là các loài phong lan (Orchdaceae),
cau dừa (Areacaceae), tuế (Cycadaceae) càng cần được quan tâm.
(+) Nhóm cây làm thực phẩm (F): Kết quả thống kê cho thấy, nhóm cây thực
phẩm có khoảng 118 loài thuộc 57 họ, chiếm 9,1% trong tổng số loài, trong đó có
nhiều loài cho quả, hạt, rau ăn rất ngon như Cà ổi Bắc Giang (Castanopsis boisii),
Đại hái (Hodgsonia macrocarpa), Bứa (Garcinia spp.), Vả (Ficus auricularia), Củ
mài (Dioscorea spp.), Rau sắng (Melientha suavis), Rau bò khai (Erythropalum
scandens), các loài măng tre nứa. Tuy thành phần loài cây thực phẩm khá phong
phú nhưng hiện chúng đang phải đối mặt với áp lực khai thác quá mức của cộng
đồng dân địa phương. Ngoài ra, thực vật Vườn quốc gia Pù Mát còn cung cấp nhiều

93 loài= 12VU+ 4EN+ 1CR+ 3LC+ 2NT+ 5LR/nt+ 61LR/lc + 5DD (bảng 4)
Tiêu biểu là các loài Voi, Hổ, Sao la, Vượn đen má trắng, Chà vá chân nâu, Khỉ
đuôi lợn, Mang trường sơn, Chó sói lửa
42 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (RBD 2007),(bảng 3)
12
- Chim: 361 loài thuộc 49 họ và 14 bộ bao gồm cả chim bản địa và chim di cư.
Trong số này có 287 loài nằm trong danh lục IUCN (2007) (bảng 4)
287 loài = 7NT+ 3VU+ 277LC
15 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (RBD 2007). (bảng 3)
Tiêu biểu có các loài Trĩ sao, Công, Gà lôi trắng, Gà tiền Hai quần thể Trĩ sao
và Hồng hoàng, Niệc cổ hung được xem có tầm quan trong cao mang tính quốc tế,
và các quần thể của các loài khác như Diều cá bé cũng có thể có tầm quan trong bảo
tồn quốc gia.
- Lưỡng cư và bò sát:
Tổng cộng có 86 loài. Cụ thể có: 33 loài Lưỡng cư và 53 loài Bò sát (trong đó có
16 loài Rùa, 12 loài Tắc kè, Kỳ đà, 25 loài rắn).
Trong đó:
+ Lưỡng cư có 23 loài nằm trong danh lục IUCN 2007 (bảng 4)
3 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (RBD 2007)(bảng 3)
+ Bò sát có 17 loài nằm trong danh lục IUCN 2007 (xem bảng 4)
20 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (RBD 2007) (bảng 3)
Tiêu biểu có các loài như Rùa Ba vạch, Rùa Núi viền, Rùa hộp trán vàng, rắn lục
xanh, Rắn hổ chúa
- Cá: Có 83 loài thuộc 56 chi, 19 họ.
5 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (RBD 2007) (xem bảng 3)
Tiêu biểu có các loài: Cá chình, Cá lăng, Cá mát, cá lấu
- Bướm: Tổng cộng có 459 loài bướm bao gồm: 365 loài bườm ngày, 94 loài
bướm đêm (83 loài bướm sừng và 11 loài bướm Hoàng đế). Trong đó có 7 loài
bướm ngày và 4 loài bướm đêm (bườm sừng) là những loài mới ở Việt Nam. Ngoài
ra còn có 3 loài bướm ngày nằm trong sách đỏ Việt Nam (RBD 2007) được xếp

vàng, Thỏ vằn, Cầy vằn, Trĩ sao, Khướu mỏ dài.
Về lĩnh vực bảo tồn loài, Pù Mát chẳng những là một khu tầm cỡ quốc gia mà
còn có giá trị cho cả Lào và Đông dương. Điều đặc biệt quan trọng là quần thể một
số loài chim và thú thực sự có nguy cơ bị tiêu diệt ở Việt Nam và trên thế giới vẫn
còn khả năng bảo tồn phát triển nếu Vườn quốc gia được quản lý và bảo vệ tốt đó là
các loài Voi, Hổ, Sao La, Bò tót, Mang Trường Sơn, Thỏ vằn, Cầy Vằn, Gấu chó,
Gấu ngựa, Trĩ sao.
Nhóm động vật quý hiếm. Thành phần và số lượng loài động vật quý hiếm Pù
Mát khá cao, ít nhất đến nay có 85 loài đã ghi vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 và 425
loài ở mức độ toàn cầu có trong danh lục đỏ của IUCN 2006 (xem bảng 3).
14
Đặc biệt quan trọng là quần thể của một số loài chim, thú lớn thực sự có nguy cơ
bị tiêu diệt ở Việt Nam và trên thế giới vẫn còn khả năng bảo tồn phát triển trong
quá trình quản lý và bảo vệ Vườn quốc gia Pù Mát. Đó là Voi (Elephas maximus),
Hổ (Panthera tigris), Sao la (Pseudoyx nghetinhensis), Bò tót (Bos gaurus),
Bảng 4 : nhóm động vật quý hiếm tại Pù Mát (theo danh lục IUCN 2007)[5]
Lớp IUCN 2007 Cộng
CR EN VU NT LC DD
Thú 1 4 12 7 64 5 93
Chim - - 3 7 277 - 287
Bò sát 2 9 4 2 - - 17
Lưỡng cư 2 20 1 23
Cộng 3 13 19 18 361 6 420
Ghi chú:
CR: Rất nguy cấp(Critically Endangered)
EN: Nguy cấp(Endangered)
VU: Sẽ nguy cấp(Vulnerable)
NT: Sắp bị đe dọa (Near Threatened)
LC: Ít quan tâm (Least Concern)
DD: Thiếu dẫn liệu (Data deficient)

mặt với nhiều thách thức.
Thứ nhất đó là việc săn bắt, buôn bán các loại động vật hoang dã trái phép đã
làm giảm số lượng của nhiều loài động vật ở nơi đây,đặc biệt là Sao la (Pseudoryx
nghetinhensis) - loài thú bí ẩn trên thế giới đã phát hiện lần đầu tiên ở Vườn quốc
gia Vũ Quang, Hà Tĩnh (1992) và được chụp ảnh lần đầu tiên trong tự nhiên tại Pù
Mát vào tháng 10/1998[6].
Từ năm 1999-2004, dù đã thực hiện rất nhiều cuộc khảo sát hiện trường, kể cả
đặt bẫy ảnh, nhưng càng về sau thông tin của Sao la càng ít dần. Loài Sao la có
nguy cơ tuyệt chủng bất chấp cả khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
đã ký hiệp định chia sẻ thông tin chống lại nạn săn bắn và buôn bán bất hợp pháp
động vật hoang dã từ tháng 12/2005.
Tháng 8/2009, Các nhà bảo tồn sinh học của VN và quốc tế dự một cuộc họp
khẩn cấp tổ chức tại Vientiane (Lào) để tìm biện pháp giải quyết mối đe dọa tuyệt
chủng đối với một trong những loài thú bí ẩn nhất của thế giới - Sao la. “Từ kế
hoạch đến hành động” - chủ đề của cuộc họp - như là nỗ lực cuối cùng để cứu loài
Sao la khỏi nguy cơ tuyệt chủng thời gian tới. Các nhà khoa học cũng thảo luận
những phương pháp tiếp cận mới trong nghiên cứu sao la như dùng các thiết bị dò
tìm kỹ thuật bằng vô tuyến điện, thậm chí thu nhận các mẫu phân để phân tích cũng
20
như nâng cao nhận thức cho cộng đồng các địa phương có Sao la và thúc đẩy thực
hiện cam kết của các chính quyền cấp trung ương và địa phương ở Lào và Việt Nam
Thứ hai việc khai thác gỗ trái phép tuy diễn ra với quy mô nhỏ nhưng rất tinh
vi vẫn đang diễn ra dọc theo các thung lũng bờ sông trong Vườn quốc gia. Tại mộ
số khu vực hoạt động khai thác gỗ lậu đang làm thay đổi cấu trúc rừng và đe dọa
nghiêm trọng quần thể của một số loài cây gỗ quan trọng, kể cả các loài bị đe dọa
tuyệt chủng trên toàn cầu như Pơ-mu Fokienia hodginsii và các loài cây gỗ họ Dầu
Dipterocarpaceae. Việc khai thác Song mây và Phong lan cũng đe dọa xóa sổ các
loài này trong Vườn quốc gia.
Một mối đe dọa khác đến đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Pù Mát là hoạt
động phá rừng làm nương rẫy của người dân địa phương. Phá rừng làm nương rẫy

- Hỗ trợ phát triển kinh tế cho người dân sống quanh khu vực Vườn quốc gia.
- Bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng ở các trạm, đặc biệt là các trạm Khe
Thơi, Tam Đình, Tam Hợp nơi mà người dân dễ dàng tiếp cận được với các hệ sinh
thái núi cao.
- Tăng cường công tác tuần tra để kịp thời nắm bắt các hoạt động khai thác trái
phép . Phối hợp với chính quyền địa phương, công an, bộ đội biên phòng để truy
quét các hoạt động khai thác, buôn bán vận chuyển gỗ và động vật hoang dã trái
phép trên địa bàn.
- Xây dựng chiến lược bảo tồn và xác định các loài quý hiếm ưu tiên bảo tồn.
Bảo tồn nguyên vị (insitu) là giải pháp bảo tồn có tính khả thi lớn ở Vườn quốc gia
Pù Mát. Tính đa dạng của hệ thực vật núi cao có quan hệ mật thiết với sinh cảnh và
hệ sinh thái. Để bảo đa dạng hệ thực vật núi cao, cần quan tâm bảo vệ sinh cảnh và
hệ sinh thái của khu vực này. Bảo tồn chuyển vị (exsitu) là giải pháp mang tính định
hướng, bằng việc nhân giống vô tính (hom) hoặc gieo ươm hạt một số loài cây quý
hiếm có giá trị kinh tế cao để trồng trong vườn thực vật ngoại vi.
- Duy trì chương trình cứu hộ động vật.
22
Phần V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Qua tìm hiểu, tổng hợp thông tin, chúng tôi rút ra một số kết luận sau
1. Vườn quốc gia Pù Mát trải rộng trên các huyện Anh Sơn, Con Cuông và
Tương Dương, tỉnh Nghệ An với diện tích 91.113 ha, độ cao từ 200-1841 m.
2. Kiểu rừng đặc trưng nhất là rừng thường xanh trên đất thấp.
3. Đã xác định được có 2.494 loài thực vật, thuộc 931 chi, 202 họ; 1.121 loài
động vật thuộc 132 họ, 36 bộ.
4. Có 70 loài thực vật, 85 loài động vật nằm trong sách đỏ Việt Nam.
5. Tình trạng săn bắt, khai thác tài nguyên Vườn quốc gia còn tiếp diễn.
Kiến nghị
Cần được chính quyền Nhà nước quan tâm hơn trong việc
1. Đầu tư nghiên cứu, bảo tồn các loài quý hiếm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status