1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Trong bối cảnh cạnh tranh khu vực và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt,
có thể khẳng đònh rằng chất lượng đang đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc hình thành ưu thế cạnh tranh của các nhà sản xuất kinh doanh.
Sự hội nhập kinh tế của Việt Nam vào khu vực và thế giới đang đặt ra những
thách thức to lớn cho chúng ta khi hàng rào thuế quan dần dần được bãi bỏ và thay
vào đó là hàng rào phi thuế quan ngày càng khắt khe hơn. Các doanh nghiệp Việt
Nam không thể tiếp tục trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước mà phải chủ động tạo
thế cạnh tranh cho doanh nghiệp mình. Nếu không đặt vấn đề chất lượng một cách
nghiêm túc ngay từ bây giờ thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó có thể cạnh tranh
và tồn tại chứ chưa nói đến sự phát triển bền vững.
Tình hình mới đã và đang đặt ra nhiều khó khăn, thử thách cho hầu hết các
ngành sản xuất kinh doanh trong nước, trong đó có ngành thép Việt Nam nói chung
và ngành thép khu vực miền Nam nói riêng – một trong những ngành công nghiệp
đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Cùng với ngành thép, các doanh nghiệp nhà nước sản xuất thép trên đòa bàn
thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã có nhiều nỗ lực và đóng góp nhất đònh
cho sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh hiện
tại của các doanh nghiệp này nói riêng và của ngành thép nói chung vẫn còn rất thấp.
Một trong những điểm yếu cơ bản làm hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp này là chất lượng sản phẩm thấp, không ổn đònh, giá thành cao. Vậy thì, liệu
có giải pháp nào để quản lý chất lượng tốt hơn sao cho đảm bảo liên tục cải tiến,
nâng cao chất lượng sản phẩm với hiệu quả kinh tế cao, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp nhà nước sản xuất thép tại thành phố Hồ Chí Minh có đủ sức cạnh tranh để
tồn tại và phát triển bền vững.
2
đòa, phương pháp thu thập và xử lý thông tin, phương pháp chuyên gia, phương pháp
mô tả, phân tích và tổng hợp… Cụ thể là, các phương pháp diễn giải, hệ thống hóa
được sử dụng để tập hợp và hệ thống những vấn đề cơ bản về quản lý chất lượng
trong chương 1. Các phương pháp khảo sát thực đòa, mô tả, điều tra, phân tích số liệu
thống kê được dùng để mô tả và phân tích thực trạng quản lý chất lượng tại các
doanh nghiệp nhà nước sản xuất thép trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong
chương 2. Các phương pháp dự báo, phương pháp chuyên gia và suy luận logic được
sử dụng để xác đònh mục tiêu phát triển và đề xuất các giải pháp trong chương 3.
Thông tin và số liệu được sử dụng trong luận án bao gồm:
− Thông tin, số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn như: sách, báo,
mạng Internet, các hội thảo chuyên đề về quản lý chất lượng, các báo cáo
liên quan đến ngành thép được công bố chính thức.
− Thông tin, số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách tự điều tra và phỏng vấn
trực tiếp các nhà quản lý có nhiều kinh nghiệm trong ngành thép.
Các số liệu phân tích được sử dụng trong luận án được thu thập chủ yếu trong
giai đoạn 1995 – 2003.
5. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án.
Luận án đã khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động quản lý chất lượng tại
các doanh nghiệp nhà nước sản xuất thép trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh qua
các thời kỳ trước năm 1998 và từ năm 1998 đến năm 2003. Từ đó, đề xuất bốn nhóm
giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp này là:
- Giải pháp huy động nguồn nhân lực vào hoạt động quản lý chất lượng.
- Giải pháp về phương pháp quản lý.
4
- Giải pháp đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu.
- Giải pháp đổi mới và cải tiến công nghệ, thiết bò.
Ngoài ra, luận án cũng đề đạt một số kiến nghò đối với các cấp quản lý có liên
quan nhằm tăng tính khả thi cho các giải pháp đã đề xuất.
Qua quá trình nghiên cứu, luận án có một số đóng góp mới như:
điều kiện tiếp nhận được vốn và công nghệ hiện đại để phát triển sản xuất, tạo công
ăn việc làm và góp phần nâng cao đời sống của người dân. Thách thức là, doanh
nghiệp phải đối đầu với những quy tắc, trật tự mới của thương mại quốc tế. Cùng với
sự giảm dần những rào cản thuế quan trong khu vực và thế giới, những rào cản phi
thuế quan như rào cản về kỹ thuật trong thương mại (TBT – Technical Barriers to
Trade), rào cản luật pháp, rào cản tập quán, văn hóa, xã hội lại ngày càng khắt khe
hơn. Hàng hóa, dòch vụ và doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với
hàng hóa, dòch vụ và doanh nghiệp nước ngoài, không chỉ trên thò trường nước đó mà
ngay cả trên thò trường nước mình. Nếu tận dụng được cơ hội, doanh nghiệp sẽ tạo ra
thế và lực mới để đẩy lùi và vượt qua thách thức. Nếu không, thách thức sẽ tích tụ,
chèn ép và làm triệt tiêu khả năng tận dụng cơ hội. Thế và lực sẽ yếu dần, dẫn đến
phá sản doanh nghiệp, nền kinh tế phụ thuộc vào doanh nghiệp nước ngoài.
Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là công việc của cả các cơ quan quản lý
nhà nước và doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp là lực lượng quyết đònh trong tiến
trình hội nhập. Để vượt qua các rào cản phi thuế quan, vấn đề đặt ra cho các doanh
nghiệp Việt Nam là phải nỗ lực nâng cao vò thế cạnh tranh của mình, góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập vững chắc vào khu vực và quốc tế.
6
Theo kết quả xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF – World
Economic Forum) từ năm 1998 đến năm 2003 về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp dựa vào chỉ số cạnh tranh kinh tế vi mô (MICI), chúng ta có thể nhận diện
được năng lực cạnh tranh nói chung của các doanh nghiệp Việt Nam, trong mối tương
quan so sánh với các nước trong khu vực như sau (bảng 1.1):
Bảng 1.1: Vò thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam so với các nước
Năm Chỉ số xếp hạng MICI
(Microeconomic
Competitiveness Index
– Chỉ số cạnh tranh
kinh tế vi mô)
so với các nước trong khu vực.
Để nâng cao vò thế cạnh tranh, theo kinh nghiệm của nhiều công ty thành công
trên thế giới, các doanh nghiệp cần dành sự ưu tiên cho mục tiêu hàng đầu là chất
lượng, nhằm cung cấp những sản phẩm và dòch vụ có chất lượng cao, giá cả phù hợp
và thỏa mãn được các yêu cầu về an toàn cho con người và môi trường. Nâng cao
chất lượng là con đường kinh tế nhất, đồng thời cũng chính là một trong những chiến
7
lược quan trọng, đảm bảo sự phát triển và hội nhập vững chắc của doanh nghiệp
(hình 1.1).
Một số nghiên cứu đã chứng minh được rằng ở Nhật, những hãng công nghiệp
dành được giải thưởng chất lượng Deming đều có một tỷ lệ lợi nhuận tính trên vốn
đầu tư vào khoảng 10%, có nghóa là gấp đôi tỷ lệ trung bình của ngành công nghiệp
nói chung (khoảng 5%). Một nghiên cứu khác cũng cho thấy các công ty Bắc Mỹ sản
xuất cho thò trường những sản phẩm chất lượng cao và có thò phần lớn kiếm được lợi
nhuận nhiều hơn tới năm lần so với những công ty đưa ra những sản phẩm có chất
lượng kém hơn và chỉ nắm giữ một thò phần nhỏ. Một nghiên cứu của Strategic
Planning Institute cũng cho thấy có mối quan hệ giữa chất lượng, thò phần và tỷ lệ lợi
Thời gian tiến hành điều tra 11/2000 –
12/2000
11/2001 –
1/2002
8/2002 –
1/2003
7/2003 –
12/2003
Tổng số phiếu điều tra 16.000 15.600 16.000 16.115
Số lượng doanh nghiệp đạt danh hiệu
“Hàng Việt Nam chất lưọng cao”
372 422 447 498
Nguồn: Thông tin lễ công bố kết quả bình chọn Hàng Việt Nam chất lượng cao 2004
Ngoài ra, nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, việc đảm bảo và không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm để thỏa mãn một cách hợp lý nhất những nhu cầu của
xã hội trong từng thời kỳ nhất đònh sẽ đồng nghóa với việc sử dụng tiết kiệm, hợp lý
các nguồn lực, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thò trường, tạo tiền
đề để hội nhập vào thò trường khu vực và thế giới, từ đó phát triển kinh tế nước nhà.
Như vậy, việâc không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghóa kinh tế,
chính trò to lớn. Ở tầm vi mô, đây là một trong những biện pháp để nâng cao vò thế
cạnh tranh, đảm bảo sự sống còn và phát triển của các doanh nghiệp. Ở tầm vó mô,
9
đây là con đường quan trọng nhất để nâng cao năng lực sản xuất của xã hội, đẩy
mạnh công cuộc xây dựng phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập quốc dân, bảo vệ Tổ
quốc.
Để nâng cao vò thế cạnh tranh của doanh nghiệp bằng con đường đầu tư cho
chất lượng, song song với việc nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, công nghệ… doanh
nghiệp cần phải đổi mới tư duy về chất lượng và quản lý chất lượng, phù hợp với xu
thế toàn cầu hóa và sự phát triển của nền kinh tế tri thức.
đặc tính vốn có đáp ứng các
yêu cầu
Năng lực
Khả năng của một tổ chức, hệ thống hay quá
trình để tạo một sản phẩm đáp ứng các yệu
cầu đối với sản phẩm đó
Sự thỏa mãn của khách hàng
Sự cảm nhận của khách hàng về mức độ đáp
ứng yêu cầu của khách hàng
HÌNH 1.2: CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯNG [44, tr.47]
10
“Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu
cầu”. Trong đó, yêu cầu là nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu
chung hay bắt buộc. [44, tr.22]
• Yêu cầu đã được công bố là những yêu cầu về các chỉ tiêu kỹ thuật, chỉ tiêu
cảm quan hay các tiêu chuẩn… đã được khách hàng nêu ra và được quy đònh chi
tiết bằng văn bản trong các quy trình, quy phạm, các hướng dẫn được sử dụng
trong nội bộ doanh nghiệp hoặc trong hợp đồng giữa doanh nghiệp với khách
hàng.
• Yêu cầu ngầm hiểu chung là những nhu cầu tiềm ẩn, chưa được khách hàng
nêu ra nhưng đòi hỏi doanh nghiệp phải dự đoán trên cơ sở phân tích những
thông tin liên quan đến khách hàng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách
hàng, tạo vò thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thò trường.
• Yêu cầu bắt buộc là những yêu cầu có thể chưa nêu ra trong hợp đồng hay
trong đơn đặt hàng nhưng buộc doanh nghiệp phải đáp ứng. Đó là các đònh
chế, các sắc luật, các qui đònh của Nhà nước như luật bảo vệ người tiêu dùng,
luật kinh tế, luật thương mại, các qui đònh về bảo vệ môi trường, an toàn…
Có thể giải thích các yêu cầu trên bằng cách khác, dựa vào sơ đồ của Kano
như sau (hình 1.3):
cho khách hàng thỏa mãn nhiều hơn.
Với khái niệm chất lượng nêu trên, luận án sẽ làm rõ một số điểm chủ yếu
sau:
Một là, trong mọi trường hợp, khách hàng là người có quyết đònh cuối cùng về
việc chấp nhận sản phẩm. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không đáp ứng
được nhu cầu, không được thò trường chấp nhận thì sẽ bò coi là có chất lượng kém, dù
cho sản phẩm đó phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế. Ngoài ra, do yêu cầu của khách
hàng luôn thay đổi theo không gian, thời gian và điều kiện sử dụng với những
cấp/hạng khác nhau nên sẽ không có chất lượng giống nhau đối với mọi người, mọi
thò trường hay chất lượng giống nhau ở mọi thời điểm. Một sản phẩm được coi là có
chất lượng đối với người này hoặc ở thò trường này thì chưa chắc được coi là có chất
lượng đối với người khác hoặc thò trường khác. Tại một thò trường, sản phẩm có chất
lượng ngày hôm nay có thể không còn có chất lượng ở ngày mai. Chính vì vậy, đòi
hỏi doanh nghiệp phải liên tục cải tiến sản phẩm và các quá trình của họ. Bên cạnh
đó, khi đánh giá chất lượng sản phẩm, cần phải gắn sản phẩm đó với điều kiện cụ thể
của nhu cầu, của thò trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội, thò hiếu, thói quen sử
dụng…
12
Hai là, trong thực tiễn, những yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm
rất phong phú và đa dạng. Đó không chỉ là các yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của sản
phẩm mà còn bao gồm nhiều yêu cầu khác như: giá cả, phương thức thanh toán, phân
phối, an toàn… và cả sự quan tâm đặc biệt từ phía nhà cung cấp. Có thể mô tả, đánh
giá chất lượng sản phẩm căn cứ vào mức độ đáp ứng các yêu cầu cụ thể như:
Q – Quality: Các tính năng kỹ thuật của sản phẩm cũng như những dòch vụ kỹ
thuật đi kèm trước, trong và sau quá trình mua hàng có thể mang lại những lợi
ích cụ thể cho khách hàng. Ví dụ: các tính năng kỹ thuật của sản phẩm thép là
thành phần hóa học, đường kính, khối lượng, giới hạn chảy, giới hạn đứt, độ
giãn dài, góc uốn…; những dòch vụ kỹ thuật gắn với sản phẩm thép như ghi
nhãn sản phẩm, ký hiệu nhận biết sản phẩm…
việc, sự phục vụ, thông tin, một quá trình, công việc của các bộ phận, công việc của
công nhân viên (bao gồm công nhân, kỹ sư, người lãnh đạo và các cán bộ hành
chính), chất lượng hoạt động của một hệ thống, một công ty, của các nhiệm vụ…”
[29, tr.52, 53].
Mặt khác, chất lượng sản phẩm không phải chỉ được tạo ra trong khâu sản
xuất mà nó được hình thành trong suốt chu trình sản phẩm. Chu trình sản phẩm xuất
phát từ thò trường và trở về với thò trường trong một chu trình khép kín, chu trình sau
sẽ hoàn chỉnh hơn chu trình trước (hình 1.4).
Marketing
Marketing
Marketing
Nghiên cứu
Chuẩn bò
sản xuất
Thiết
Sản xuất
Kiểm tra
Bán
Dòch vụ
sau bán
Nghiên cứu
HÌNH 1.4: VÒNG XOẮN JURAN [57]
một tổ chức ở cấp cao nhất
Chính sách chất lượng
Ý đồ và đònh hướng chung của
một tổ chức có liên quan đến
chất lượng và được lãnh đạo cấp
cao công bố chính thức
Mục tiêu chất lượng
Điều được tìm kiếm hay nhằm
tới có liên quan đến chất lượng
Quản lý chất lượng
Các hoạt động có phối hợp
để đònh hướng và kiểm soát
một tổ chức về chất lượng
Cải tiến liên tục
Hoạt động lặp lại để nâng cao
khả năng thực hiện các yêu cầu
Kiểm soát chất
lượng
Một phần của
quản lý chất
lượng tập trung
vào thực hiện
các yêu cầu chất
lượng
Hoạch đònh chất lượng
Một phần của quản lý
chất lượng tập trung vào
việc lập mục tiêu chất
lượng và qui đònh các
quá trình tác nghiệp cần
Như vậy, có thể thấy rằng quản lý chất lượng không phải chỉ là các hoạt động
kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) thông thường như chúng ta từng thực hiện nhiều
năm nay, mà là một hệ thống các hoạt động đònh hướng và kiểm soát các quá trình
của một tổ chức, nhằm hướng vào các mục tiêu chất lượng, bao gồm việc thiết lập
các chính sách, mục tiêu chất lượng, lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát, đảm bảo và
không ngừng cải tiến chất lượng.
Trong hệ thống này, vai trò của lãnh đạo có tầm quan trọng, ảnh hưởng trực
tiếp đến tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượng. Trong hệ thống
quản lý chất lượng, nhằm đạt được các mục tiêu chất lượng các nhà quản lý thường
thực hiện 4 chức năng cơ bản của quản lý (P – Planning – Hoạch đònh; O –
Organizing –Tổ chức; L – Leading – Lãnh đạo; và C – Controlling – Kiểm tra) theo
mô hình của Deming P_D_C_A (hình 1.6).
P – Planning: Lập kế hoạch về sản phẩm, các quá trình và hệ thống.
D – Do: Tổ chức thực hiện và theo dõi việc thực hiện kế hoạch.
Các quá trình
Plan
Do
vậy, các hoạt động hoạch đònh chất lượng, kiểm soát chất lượng và cải tiến chất
lượng cần được thực hiện theo chu trình liên tục (hình 1.7), chu trình sau được thực
hiện trên cơ sở kinh nghiệm của chu trình trước đó nhằm đạt được các mục tiêu chất
lượng ngày càng cao hơn. 2. Quá trình cải tiến chất lượng liên tục không những cần có sự đầu tư thỏa đáng
về kỹ thuật, công nghệ mà còn phải cải tiến các phương pháp quản lý một cách hệ
Hoạch đònh
chất lượng
Cải tiến
chất lượng
Kiểm soát
chất lượng
HÌNH 1.7: HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT LƯNG
18
thống và đồng bộ, và đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của các thành viên trong doanh nghiệp.
Chính vì vậy, vai trò của lãnh đạo là rất quan trọng trong việc đònh hướng và huy
động tất cả các nguồn lực cần thiết nhằm thúc đẩy các hoạt động cải tiến chất lượng
liên tục trong doanh nghiệp.
3. Trong tất cả các nguồn lực cần thiết để quản lý chất lượng, con người là nguồn
lực quan trọng nhất, giữ vai trò then chốt trong việc thực hiện mục tiêu của quản lý
chất lượng. Vì vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch đào tạo, huấn luyện thích
các cơ hội thăng tiến cho họ, người lãnh đạo có vai trò củng cố giá trò và
khuyến khích sự sáng tạo, đi đầu ở mọi cấp trong toàn doanh nghiệp.
3. Sự tham gia của mọi người. Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một
doanh nghiệp và là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quá trình hình thành
chất lượng. Thành công trong cải tiến chất lượng công việc, chất lượng sản
phẩm phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng, kinh nghiệm, sự nhiệt tình hăng say
trong công việc của lực lượng lao động. Chính vì vậy, huy động sự tham gia
đầy đủ của họ thông qua các chính sách hỗ trợ, động viên sẽ giúp khai thác
được năng lực của họ vì lợi ích chung của doanh nghiệp.
4. Cách tiếp cận theo quá trình. Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu
quả khi các nguồn lực và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá
trình. Mọi hoạt động hay tập hợp các hoạt động sử dụng các nguồn lực để biến
đầu vào thành đầu ra có thể xem như một quá trình. Để quá trình có ý nghóa,
giá trò của đầu ra phải lớn hơn giá trò đầu vào. Trong một doanh nghiệp, đầu
vào của quá trình sau là kết quả của quá trình trước đó, và toàn bộ các quá
trình trong doanh nghiệp lập thành một mạng lưới quá trình. Quản lý các hoạt
động của một doanh nghiệp thực chất là quản lý các quá trình và các mối quan
hệ giữa chúng. Vì vậy, quản lý tốt mạng lưới quá trình này, cùng với đảm bảo
20
chất lượng của các yếu tố đầu vào nhận được từ người cung cấp bên ngoài, sẽ
đảm bảo chất lượng đầu ra thỏa mãn yêu cầu của khách hàng bên ngoài.
quan tâm)
Yêu cầu
Đầu vào Đầu ra
Quản lý
nguồn lực
Đo lường, phân
tích và cải tiến
Trách nhiệm
của lãnh đạo
Tạo sản
phẩm
Khách hàng
(và các bên
quan tâm)
Thỏa
mãn
Sản
phẩm
Ghi chú: Hoạt động gia tăng giá trò
Dòng thông tin
HÌNH 1.8: HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯNG DỰA TRÊN QUÁ TRÌNH [44]
21
trình này trong tầm kiểm soát. Việc xác đònh, hiểu và quản lý các hoạt động,
các quá trình có liên quan lẫn nhau như một hệ thống sẽ đem lại hiệu lực và
hiệu quả của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
6. Cải tiến liên tục. Cải tiến liên tục vừa là mục tiêu vừa là phương pháp của mọi
doanh nghiệp để tăng khả năng cạnh tranh. Quá trình cải tiến liên tục giúp tích
lũy những khoản giá trò gia tăng nhỏ, từ đó tạo ra những lợi thế trên quy mô
pháp thích hợp
3. Tìm kiếm các giải pháp có
thể
6. Đo lường, phân tích, đánh giá
kết
quả so với mục tiêu cải tiến
7. Chuẩn hóa kết quả đạt được
và du
y trì
HÌNH 1.9: CÁC BƯỚC THỰC HIỆN CẢI TIẾN LIÊN TỤC
22
phân tích các thông tin liên quan đến sự thỏa mãn khách hàng trong lónh vực
mà mình đảm trách hoặc có liên quan.
8. Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng. Mối quan hệ hợp tác là điều
kiện cơ bản mang đến thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào. Doanh nghiệp
cần tạo dựng mối quan hệ hợp tác cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để
đạt mục tiêu chung. Các mối quan hệ bên trong doanh nghiệp bao gồm các
quan hệ hợp tác giữa lãnh đạo và người lao động, giữa các bộ phận, các thành
viên trong doanh nghiệp. Các mối quan hệ bên ngoài là những mối quan hệ
với bạn hàng, người cung cấp, các tổ chức đào tạo, các đối thủ cạnh tranh…
Phát triển các mối quan hệ hợp tác với người cung ứng nhằm tạo ra giá trò thỏa
mãn khách hàng sẽ đảm bảo lợi ích và nâng cao năng lực của cả các bên.
Một khi lãnh đạo doanh nghiệp nhận biết và vận dụng một cách khoa học các
nguyên tắc trên trong quá trình quản lý chất lượng sẽ tạo điều kiện dẫn dắt doanh
nghiệp đạt được các mục tiêu chất lượng cũng như các kết quả hoạt động với hiệu
quả cao hơn.
1.2 Khái quát hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam.
Hoạt động quản lý chất lượng ở nước ta có thể được khái quát qua 2 giai đoạn
lớn như sau:
tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.
• Các xí nghiệp bước đầu thực hiện công tác đăng ký chất lượng, tạo điều kiện
đảm bảo tính công khai, tính hợp pháp của kinh doanh, tính tự chủ và tự chòu trách
nhiệm của các xí nghiệp về trình độ chất lượng hàng hóa của mình.
• Công tác chứng nhận chất lượng được triển khai từ năm 1980 đã có tác động
tích cực tới việc động viên, khuyến khích các xí nghiệp hăng hái đi vào con đường
chất lượng, đạt nhiều thành tích đáng kể.
24
Tuy nhiên, những kết quả đã đạt được trong thời kỳ tiến hành cơ chế kế hoạch
hóa tập trung chỉ là những kết quả hạn hẹp ở từng nơi, từng lúc, chưa tạo được sự
chuyển biến đáng kể về chất lượng trong phạm vi cả nước, do đó tình hình chất lượng
nói chung vẫn ở trạng thái yếu kém, không ổn đònh kéo dài trong nhiều năm.
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1987 đến nay.
Từ năm 1987, khi nước ta chuyển sang giai đoạn xây dựng nền kinh tế thò
trường có sự quản lý của Nhà nước theo đònh hướng xã hội chủ nghóa, hoạt động quản
lý chất lượng của nước ta nói chung và của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng đã
có những bước tiến nhất đònh.
Việc ban hành hàng loạt văn bản pháp quy về cơ chế quản lý mới là tiền đề
quan trọng đònh hướng cho sự phát triển nền kinh tế theo tinh thần đổi mới mà Đại
hội Đảng làn thứ VI đã đề ra. Đặc biệt, Pháp lệnh đo lường do Hội đồng Nhà nước
công bố ngày 16/7/1990, Pháp lệnh chất lượng hàng hóa do Hội đồng Nhà nước công
bố ngày 2/1/1991 và Pháp lệnh chất lượng hàng hóa do Chủ tòch nước công bố ngày
4/1/2000 là những văn bản quan trọng tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới các hoạt
động tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, trong đó có hoạt động quản lý chất lượng ở
nước ta trong giai đoạn phát triển mới. Nhờ vậy, tình hình chất lượng sản phẩm ngày
càng ổn đònh hơn và từng bước được nâng cao. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, đặêc biệt là ở
các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn bộc lộ sự yếu kém trong công tác quản lý chất
lượng với nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trong đó, sự ảnh hưởng nặng
nề từ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp; sự yếu kém về quản lý nói chung
lượng, các nguồn lực (đặc biệt là nguồn nhân lực) chưa được huy động một cách triệt
để và hiệu quả vào hoạt động quản lý chất lượng, những nỗ lực cải tiến chưa được
chú trọng… Do đó, chất lượng sản phẩm vẫn còn ở trình độ thấp, sự tiến bộ chưa vững
chắc, chưa đồng đều, một số mặt hàng tuy có chất lượng cao song giá cũng cao.