Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
Trường: Đại học Quang Trung
Lớp : K5.407
Khoa : KT - TCNH
BÀI TIỂU LUẬN:
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2000 - 2010
1
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
PHẦN 1:
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, thương mại quốc tế đóng vai
trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ,
tham gia có hiệu quả vào sự phân công lao động và trao đổi mậu dịch
quốc tế, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân cũng như các
lĩnh vực liên quan đến thương mại quốc tế.
Để đẩy nhanh quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam đã và đang thực hiện
những giải pháp tích cực để thực hiện đường lối phát triển và mở rộng
thương mại quốc tế, tiếp thu những kinh nghiệm thương mại, kinh tế
và khoa học, công nghệ tiên tiến của các nước, tạo điều kiện nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần đẩy mạnh công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đảng và nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách, chủ trương
nhằm thúc đẩy quá trình thương mại quốc tế diễn ra nhanh chóng và
có hiệu quả, bên cạnh đó vẫn còn nhiều sai sót cần được khắc phục và
thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.
Xuất phát từ những yêu cầu của hội nhập, chúng tôi nghiên cứu
đề tài “Đánh giá hoạt động thương mại quốc tế Việt Nam giai đoạn
- Sự đa dạng hóa về giá cả, sở thích và nguồn cung cấp đầu vào giữa các
quốc gia.
3. Một số lý thuyết thương mại quốc tế điển hình:
- Chủ nghĩa trọng thương.
- Lý thuyết lợi thế tuyệt đối.
- Lý thuyết về lợi thế so sánh (David Ricardo).
- Lý thuyết thương mại tân cổ điển (Hecksher - Ohlin).
4. Đặc điểm của thương mại quốc tế:
- TMQT có xu hướng tăng nhanh, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền sản
xuất.
- Tốc độ tăng trưởng của TM “vô hình” tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng
của TM “hữu hình”.
- Cơ cấu hàng hóa trong TMQT có sự thay đổi sâu sắc theo hướng:
+ Giảm đáng kể tỉ trọng nhóm hàng lương thực, thực phẩm và đồ uống.
+ Giảm mạnh tỉ trọng của nhóm hàng nguyên liệu, tăng nhanh tỉ trọng của
nhóm hàng dầu mỏ và khí đốt.
+ Giảm tỉ trọng hàng thô, tăng nhanh tỉ trọng sản phẩm công nghiệp chế
tạo.
3
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
+ Giảm tỉ trọng những mặt hàng có hàm lượng lao động giản đơn, tăng
nhanh những mặt hàng có hàm lượng lao động thành thạo, phức tạp, vốn
lớn, công nghệ cao.
- Nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi và phương thức
cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau.
- Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi
mới thiết bị, công nghệ, mẫu mã hàng hóa diễn ra liên tục.
- Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hóa
thương mại, mặt khác các hàng rào bảo hộ ngày càng tinh vi hơn.
5.Chức năng của thương mại quốc tế:
đi qua khu vực hải quan của một nước. Nhưng hiện nay, khi hội nhập kinh
tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì các quốc gia tìm cách giảm dần và tiến tới
xóa bỏ hàng rào thuế quan.
b) Hàng rào phi thuế quan:
Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở
đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình
đẳng. Hàng rào phi thuế quan thường được áp dụng đối với hàng nhập
khẩu, hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, bao gồm:
- Các biện pháp hạn chế định lượng.
- Các biện pháp quản lý giá.
- Các rào cản kỹ thuật.
- Các biện pháp liên quan đến hình thức doanh nghiệp.
- Các biện pháp quản liên quan đến đầu tư.
- Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời.
- Các biện pháp hành chính khác.
8. Các rủi ro trong thương mại quốc tế:
a) Rủi ro kinh tế:
- Rủi ro liên quan đến việc không có khả năng thanh toán của người mua.
- Rủi ro liên quan đến việc nợ quá hạn - người mua không thể thanh toán
tiền hàng 6 tháng kể từ ngày tới hạn.
- Rủi ro không chấp nhận hàng.
- Rủi ro từ bỏ chủ quyền kinh tế.
a) Rủi ro chính trị:
- Rủi ro liên quan đến việc hủy bỏ hoặc không gia hạn giấy phép xuất khẩu,
nhập khẩu.
- Rủi ro chiến tranh.
- Rủi ro liên quan đến tài sản của người nhập khẩu bị quốc hữu hóa hoặc
sung công.
- Rủi ro liên quan đến việc áp đặt lệnh cấm nhập khẩu sau khi hàng đang
trên đường vận chuyển.
hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.
b) Quan điểm phát triển:
- Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
- Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ
nền tảng cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết.
- Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát
huy mọi nguồn lực.
- Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế.
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế- xã hội với quốc phòng- an ninh.
6
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
2. Chiến lược phát triển thương mại quốc tế Việt Nam thời kì 2000-2010:
- Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình
phù hợp với điều kiện của nước ta và đảm bảo thực hiện những cam kết
trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA, APEC…
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh xuất
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Nâng cao năng lực canh tranh, phát triển
mạnh những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị
trường quốc tế; giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế, tăng nhanh
tỷ trọng sản phẩm chế biến và tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm; nâng dần tỷ
trọng sản phẩm có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng công nghiệp cao.
- Xây dựng các quỹ hỗ trợ xuất khẩu, nhất là đối với hàng nông sản.
- Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tiến tới cân bằng xuất nhập.
- Khuyến khích tiêu dùng hàng hóa trong nước.
- Thực hiện các chính sách bảo hộ đối với sản phẩm sản xuất trong nước.
- Đẩy mạnh các lĩnh vực dịch vụ thu ngoại tệ: du lịch, xuất khẩu
lao động, vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính tiền tệ, dịch vụ
nước. Chính sách ngoại thương đang áp dụng là chính sách hướng về xuất
khẩu. Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu hiện nay của Việt Nam được điều
hành chủ yếu bởi Luật Thương mại được Quốc hội thông qua ngày
14/6/2005, Nghị định 12/2006/NĐ-CP, ban hành ngày 23/1/2006 : “ Quy
định chi tiết thi hành luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,
gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài “. Ngoài ra hoạt động
xuất nhập khẩu (XNK) còn chịu sự điều tiết bởi các luật khác như luật thuế
XNK, luật về thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập doanh nghiệp, luật
đầu tư nước ngoài và các luật khác.
b) Quản lý bằng công cụ kế hoạch hóa:
- Nhà nước quản lý ngoại thương bằng các kế hoạch định hướng, ví dụ như
các chỉ tiêu về kim ngạch xuất nhập khẩu, các mặt hàng xuất nhập khẩu
trong năm
- Thông qua việc sử dụng các công cụ kinh tế để điều tiết hoạt động ngoại
thương sao cho góp phần cân đối tổng cung tổng cầu nền kinh tế quốc dân.
c) Quản lý bằng công cụ tài chính:
- Đối với các doanh nghiệp nhà nước tham gia hoạt động ngoại thương,
như các doanh nghiệp khác, nhà nước sẽ định hướng sử dụng vốn thông
qua các hoạt động phân tích “dự báo vĩ mô, các công cụ kinh tế tài chính,
hướng dẫn công tác kế toán, thống kê và kiểm tra việc thi hành pháp luật
trong tạo lập, quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp”.
- Thuế là công cụ tài chính quan trọng mà thông qua đó nhà nước có thể
điều tiết vĩ mô nền kinh tế nói chung và đối với hoạt động ngoại thương nói
riêng. Trong thời kỳ này, nhà nước sẽ áp dụng bên cạnh thuế quan các loại
thuế khác như thuế chống phá giá, chống trợ cấp
d) Quản lý bằng các công cụ khác:
Nhà nước còn sử dụng hệ thống kho đệm và dự trữ quốc gia để can thiệp
vào thị trường. Đối với hoạt động ngoại thương có thể thấy rõ ràng nhất là
8
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
12-2006/NĐ-CP: “ Thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” mà không phải xin phép XNK trừ
những mặt hàng cấm xuất khẩu, nhập khẩu và những hàng hóa xuất nhập
khẩu có điều kiện. Đối với xuất khẩu thì khuyến khích thương nhân Việt
Nam thuộc mọi thành phần kinh tế xuất khẩu tất cả các loại hàng hóa mà
pháp luật không cấm, không phụ thuộc vào ngành nghề đã đăng ký kinh
doanh.
9
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
c) Định hướng phát triển XK giai đoạn 2000 – 2010:
- Theo tinh thần chỉ thị số 22/2000/CT-TTg ngày 27/10/2000 của Thủ
tướng chính phủ về Chiến lược phát triển xuất - nhập khẩu hàng hóa và
dịch vụ thời kỳ 2001-2010 thì: “Mục tiêu hành động của thời kỳ này là tiếp
tục chủ trương dành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu; tạo nguồn hàng có
chất lượng, có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao để xuất khẩu, góp
phần giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ thời kỳ 2001-2010 phải đạt mức tăng trưởng bình quân từ 15%
năm trở lên”
- Vì cơ cấu hàng xuất khẩu của chúng ta mặt hàng thô vẫn còn chiếm tỷ
trọng cao nên chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2001 -2010 định ra rằng “Cơ
cấu xuất khẩu phải được chuyển dịch mạnh theo hướng tăng các sản phẩm
chế biến, chế tạo, chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất
xám cao; bên cạnh đó phải quan tâm khai thác các mặt hàng chủ yếu sử
dụng nguyên, vật liệu tại chỗ, sử dụng nhiều lao động mà thị trường trong,
cũng như ngoài nước có nhu cầu; đồng thời phải khai thác mọi nguồn
hàng có khả năng xuất khẩu”.
- Chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2001 - 2010 còn nêu lên các vấn đề về cơ
sở hạ tầng, về qui hoạch sản xuất và thị trường xuất khẩu như sau:
+ Chú trọng nâng cao giá trị gia công và chất lượng từng sản phẩm xuất
vực hóa và quốc tế hóa kinh tế toàn cầu. Do đó việc NK phải được thực
hiện theo các nguyên tắc sau đây:
- Sử dụng ngoại tệ với tinh thần tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Dành ưu tiên cho việc nhập khẩu tư liệu sản xuất đồng thời có chú ý thích
đáng nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu cho đời sống nhân dân.
- Bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tăng nhanh xuất khẩu
- Kết hợp giữa nhập khẩu và xuất khẩu
- Xây dựng thị trường nhập khẩu ổn định vững chắc và lâu dài
* Chính sách NK của Việt Nam:
Chính sách NK của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 được đề ra cụ thể như
sau:
- Nhập khẩu phải được định hướng chặt chẽ; tăng trưởng bình quân của
nhập khẩu cả thời kỳ 2001-2010 được duy trì ở mức 14% năm.
- Chú trọng nhập khẩu công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu của các
ngành chế biến nông, lâm, thủy hải sản và sản xuất hàng công nghiệp nhẹ;
đồng thời phải gắn với việc phát triển, sử dụng các công nghệ, giống cây
con và vật liệu mới được sản xuất trong nước.
- Về cơ cấu hàng NK:
+ Thiết bị máy móc: gồm máy móc, nguyên vật liệu, công nghệ được nhập
khẩu bảo đảm sự hoạt động hoàn chỉnh của một công trình. Nhập khẩu thiết
bị toàn bộ cần chú ý cả việc nhập khẩu bí quyết công nghệ, chuyên gia lắp
đặt và hướng dẫn sử dụng. Khi nhập khẩu thiết bị, phải cố gắng đạt được
yêu cầu theo thứ tự ưu tiên sau:
. Kỹ thuật tiên tiến, chất lượng tốt.
. Cho phép sản xuất sản phẩm xuất khẩu với khả năng cạnh tranh cao.
. Giá cả phải chăng, có điều kiện thanh toán thuận lợi.
. Phù hợp với điều kiện sản xuất và trình độ tay nghề của công nhân.
. Mang lại hiệu quả kinh tế cao.
11
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
2005 32447,1
2006 39826,2
+ Như vậy trong 10 năm, kể từ năm 1997 thì xuất khẩu của Việt Nam đã có
những bước tiến vượt bậc. Nếu từ năm 1997 đến 2003, phải mất đến 6 năm
thì kim ngạch xuất khẩu mới tăng gấp đôi thì chỉ cần 3 năm từ 2003
đến 2006, kim ngạch xuất khẩu của chúng ta lại tăng gấp đôi từ 20 tỷ
12
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
USD lên 40 tỷ USD. Đặc biệt, năm 2006 được xem là cột mốc đánh dấu
bước phát triển mới củaViệt Nam về kinh tế. Đây cũng là năm đầu
tiên chúng ta có 09 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, đó
là: Dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, gạo, điện tử, đồ gỗ, cao su, cà phê.
+ Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hữu hình giai đoạn 2001-
2005 đạt bình quân 17.4% /năm và ngày càng chiếm tỷ trọng cao
trong GDP. Trong khi đó thì xuất khẩu về dịch vụ trong giai đoạn
này cũng tăng bình quân là 15,7% /năm.
+ Về thị trường xuất khẩu : giai đoạn này, chúng ta đã xuất đi trên
230 nuớc trên thế giới. Trong đó thị trường tiêu thụ chủ yếu là
châu Á với kim ngạch: 56,067 triệu USD chiếm 50.6% tổng lượng xuất
khẩu trong giai đoạn này, kế đến là thị trường châu Âu và châu Mỹ
với kim ngạch lần lượt là 22,765 triệu USD và 20,995 triệu USD.
+ Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng tham gia mạnh
vào hoạt động xuất khẩu: các doanh nghiệp có vốn FDI năm
2004 xuất khẩu 14,486 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 54.6%), năm
2005 xuất khẩu 18,553 tỷ USD (chiếm57.6% kim ngạch xuất
khẩu). Hiện có trên 35.700 doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia
xuất khẩu, có doanh nghiệp tư nhân có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu
USD/năm.
- Về tổng hàng hóa nhập khẩu:
+ Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu không ổn
2. Giai đoạn 2007 – 2010 (sau khi gia nhập WTO 4 năm):
- Gia nhập WTO là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế và có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế của Việt
Nam. Đây là thời cơ lớn cho nước ta trong hoạt động ngoại thương,
đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá đã có bước phát triển
mạnh mẽ. Bởi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt
động ngoại thương ở các nước nói chung và Việt Nam nói riêng.
- Sự phát triển của ngoại thương đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới; góp phần tăng tích luỹ nội bộ nền
kinh tế nhờ sử dụng hiệu quả lợi thế so sánh trong trao đổi quốc tế; là động
lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nâng cao trình độ công nghệ và chuyển
dịch cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện
đời sống cho người lao động…
- Sau 4 năm gia nhập WTO, hoạt động ngoại thương của Việt Nam có
nhiều thuận lợi để phát triển. Các nhà xuất khẩu Việt Nam có điều kiện tiếp
cận thị trường thế giới dễ dàng hơn, những hạn chế và rào cản thuế đối với
hàng hoá Việt Nam được cắt giảm theo qui định khi gia nhập của các thành
viên mà không bị phân biệt đối xử; tăng cơ hội thâm nhập thị trường nước
ngoài cho các sản phẩm của nước ta.
+ Về xuất khẩu hàng hoá:
. Năm 2007, xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng
trưởng với tốc độ cao. Kim ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỷ USD, tăng 21% so
với năm 2006 (7,9 tỷ USD) và vượt 15,5% so với kế hoạch. Trong đó, khu
vực kinh tế trong nước chiếm 42% và tăng 22,3%; khu vực FDI chiếm 58%
và tăng 18,4%. Có 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD.
14
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
. Năm 2008, giá trị xuất khẩu hàng hoá ước đạt 65 tỷ USD, tương
đương 73% GDP, tăng 33,9% so với năm 2007. Tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng hoá của năm 2008 đạt mức cao gấp nhiều lần so với những năm trước
Châu Phi có mức tăng trưởng dương, ước khoảng 17,5% do tăng xuất khẩu
gạo sang thị trường Bờ biển Ngà và tái xuất khẩu vàng sang Nam Phi, còn
các thị trường khác đều giảm, giảm mạnh nhất là thị trường châu Đại
dương (khoảng 44,8%) do lượng dầu thô xuất khẩu sang Ôxtrâylia giảm, cụ
thể như sau:
15
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
Thị trường Châu Á đạt kim ngạch 25,27 tỷ USD, giảm 13,1% so với
năm 2008, trong đó: Thị trường Nhật Bản đạt 6,2 tỷ USD, giảm 27,4%, thị
trường ASEAN đạt 8,6 tỷ USD, giảm 16,2% so với năm 2008. Thị trường
Trung Quốc, Hàn Quốc và Hồng Kông tăng tương ứng 5,4%; 15,7% và
17%.
Thị trường châu Âu đạt 12,28 tỷ USD, giảm 0,9 % so với năm 2008,
trong đó: Khối EU đạt kim ngạch 9,2 tỷ USD, giảm 14,9%; khối các nước
Tây Âu, Bắc Âu và Đông Âu, tăng 98% do tái xuất khẩu vàng sang Thuỵ
sỹ trong những tháng đầu năm.
Thị trường châu Mỹ đạt 12,94 tỷ USD, giảm 7,2% so với năm 2008,
trong đó: Thị trường Hoa Kỳ đạt kim ngạch 11,2 tỷ USD, giảm 5,5%;
Canada đạt 634 triệu USD, giảm 3,4%.
Thị trường Châu Phi đạt 986 triệu USD, tăng 17,5% so với năm
2008.
Thị trường Châu Đại dương đạt 2,27 tỷ USD, giảm 47,2% so với
năm 2008, chủ yếu do xuất khẩu dầu thô xuất khẩu sang Ôxtrâylia giảm
48%.
. Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 71,6 tỷ
USD tăng 25,5% so với năm 2009, về giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng
14,5 tỷ USD. Năm 2010 là năm thành công của các doanh nghiệp xuất
khẩu có vốn đầu tư nước ngoài đạt 38,8 tỷ USD (tính cả dầu thô) tăng
27,8% so với năm 2009 và chiếm 54,2% tổng kim ngạch của cả nước, xuất
khẩu của các doanh nghiệp trong nước đạt 32,8 tỷ USD tăng 22,7% so với
tùng, xăng dầu, thép… Thị trường nhập khẩu năm 2008 tập trung chủ yếu
vào Châu Á, trong đó nổi bật là các thị trường Trung Quốc, Singapore, Đài
Loan, Hàn Quốc, Thái Lan…
.Thời gian này, chúng ta cũng đã thực hiện tích cực các biện pháp
kiềm chế nhập khẩu như tăng thuế nhập khẩu với một số mặt hàng như ôtô
và linh kiện ôtô, vàng; kiểm soát nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu; tiết giảm
tiêu dùng và cắt giảm đầu tư…đã góp phần kiềm chế nhập khẩu và giảm
nhập siêu một cách hiệu quả. Tuy việc nhập khẩu và tỷ lệ nhập siêu đang
được kiềm chế, nhưng vẫn ở mức cao. Cụ thể mức nhập siêu năm 2007:
14,3 tỷ USD, tăng 2,8 lần năm 2006; năm 2008: nhập siêu là 17,5 tỷ USD.
. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá năm 2009 khoảng 68,8 tỷ
USD, giảm 14,7% so với năm 2008 (năm 2008 so với 2007 tăng 28,7%),
trong đó khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24,87 tỷ USD,
chiếm tỷ trọng 36,1% tổng KNNK cả nước, giảm 10,8%; Kim ngạch nhập
khẩu của khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 43,96 tỷ USD,
chiếm tỷ trọng 63,9%, giảm 16,8% so với năm 2008.
. Nhập khẩu hàng hoá năm 2009 giảm chủ yếu do sản xuất trong
nước giảm và giá hàng hóa nhập khẩu cũng giảm hơn năm 2008, nhất là
trong những tháng đầu năm. Tuy nhiên, nhập khẩu đã tăng dần trong những
tháng cuối năm, do sự phục hồi của nền kinh tế và chính sách kích cầu của
Chính phủ có tác dụng, bên cạnh đó có tâm lý tranh thủ nhập khẩu để dự
trữ khi giá nhập khẩu thấp. Tính chung cả năm 2009 giá trị nhập khẩu của
hầu hết các nhóm mặt hàng là nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước và
xuất khẩu và một số mặt hàng tiêu dùng giảm so với năm 2008, như:
nguyên phụ liệu dệt may da giầy giảm 17,8%, gỗ và sản phẩm gỗ giảm
17
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
19,1%, chất dẻo nguyên liệu giảm 4,4%, dây điện và cáp điện giảm 20,8%,
thuỷ sản giảm 10,1%, dầu mỡ động thực vật giảm 27,4%, phôi thép giảm
37,4% Tuy nhiên, vẫn có một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng
WTO, thương mại Việt Nam phát triển mạnh mẽ trên cả 2 hướng xuất nhập
khẩu và thương mại nội địa. Số liệu từ Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
đưa ra đầu tháng 4/2011 cho thấy, năm 2007 xuất khẩu của Việt Nam đạt
48,6 tỷ USD, tăng 21,9% so với năm 2006; tiếp đó năm 2008 xuất khẩu đạt
62,7 tỷ USD, tăng 29,1% so với năm 2007. Năm 2009, chịu tác động từ
khủng hoảng tài chính thế giới, xuất khẩu của Việt Nam đạt 57,1 tỷ USD,
18
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
giảm 8,9% so với năm 2008 nhưng vẫn cao hơn năm 2006 khi Việt Nam
chưa vào WTO là 45,8% và năm 2010 nhờ giá nhiều nhóm mặt hàng và
nhu cầu thế giới tăng trở lại nên xuất khẩu của Việt Nam lại tiếp tục tăng
trưởng 26,4%. Tuy nhiên, kết quả này chưa được như những mong muốn
và kỳ vọng trước đó, vì nhập siêu vẫn là vấn đề "nóng" cần được quan tâm.
Cụ thể, cũng theo số liệu từ Viện Quản lý Kinh tế Trung ương đưa cho
thấy, nếu như năm 2006 Việt Nam chỉ nhập siêu 5,5 tỷ USD thì đến năm
2007 (sau hơn 1 năm gia nhập WTO) nhập siêu của Việt Nam là 14,2 tỷ
USD và năm 2008 con số này đã là 18 tỷ USD, năm 2009 và 2010 mặc dù
đã có nhiều biện pháp kiềm chế nhập siêu nhưng kết quả nhập siêu vẫn lần
lượt là 12,8 và 12,6 tỷ USD.
+ Tích cực hơn so với xuất nhập khẩu là sự phát triển nhanh của thị trường
nội địa. Theo Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương: Kể từ
sau khi gia nhập WTO, dịch vụ phân phối tại Việt Nam đã đạt được mức
tăng trưởng đáng kể. Phân phối- bán lẻ đóng góp khoảng 14% GDP, sử
dụng hơn 5 triệu lao động, cao nhất trong các ngành dịch vụ. Mức lưu
chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ của Việt Nam từ năm 2006-2008 đã
tăng 25%/ năm, cao hơn mức 18,3%/ năm của giai đoạn 2001-2005. Năm
2009 và 2010 là 2 năm có nhiều khó khăn do tác động khủng hoảng tài
chính toàn cầu, nhưng theo số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê (Bộ Kế
hoạch và Đầu tư) doanh số bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
của Việt Nam vẫn tăng lần lượt là 18,6% và 24,5% (nếu loại trừ yếu tố giá
hoạt động xuất khẩu. Năng lực cạnh tranh phần lớn sản phẩm của ta là
thấp. Hiện nay các mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu hàng đầu của Việt
nam vẫn là các mặt hàng sử dụng tài nguyên thiên nhiên và công nghiệp
nhẹ, sử dụng lao động rẻ. Nhập siêu của Việt Nam hiện còn ở mức cao tác
động xấu đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế. Mức thuế
quan của Việt Nam còn tương đối cao so với các nước trong khu vực cũng
như thế giới. Theo nguyên tắc của WTO là chỉ sử dụng thuế quan để bảo
hộ sản xuất trong nước, do vậy Việt Nam phải xây dựng lộ trình cắt giảm
các hàng rào phi thuế quan một cách hợp lý, đây cũng là thách thức đối với
các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam…
3. Nhận định chung về kết quả đạt được của thương mại quốc tế Việt
Nam giai đoạn 2000 – 2010:
a) Những thành tựu đạt được:
- Trong vòng 10 năm giai đoạn 2000 đến nay, hoạt động ngoại thương của
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Việt Nam chính thức
trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại Thế Giới vào năm
2007.
+ Tỷ trọng xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 10 năm qua tăng cao. Năm
2000, tổng giá trị xuất nhập khẩu mới chỉ là 30 tỷ USD (Xuất khẩu: 14,5 tỷ
USD) thì đến hết năm 2009, con số này đã lên tới 125 tỷ USD (trong đó
xuất khẩu là 56 tỷ USD).
+ Có rất nhiều mặt hàng đã đạt được con số trên 1 tỷ USD như: gạo, quần
áo, giày dép, dầu thô, than đá, thủy sản, cà phê, cao su, đồ gỗ…
+ Những thị trường mà Việt Nam có giao dịch ngày càng mở rộng, thể
hiện rõ xu hướng tìm kiếm thị trường mới của các doanh nghiệp Việt Nam.
+ Hệ thống các cửa khẩu quốc tế ngày cảng được mở rộng và hoàn thiện.
Tạo điều kiện tích cực trong quá trình xuất nhập khẩu. Hệ thống cơ sở hạ
tầng dần được hoàn thiện.
20
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
quyết định chứ không phải xuất khẩu theo quan điểm cho rằng: “tăng
trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tăng trưởng xuất khẩu”, và để đạt tăng
trưởng cao thì cần thúc đẩy xuất khẩu nhiều hơn nữa.
• Bằng chứng thứ nhất nằm ở cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của ta. Xuất khẩu
đã tăng trưởng rất nhanh trong thời kỳ sau đổi mới, trung bình là 19%/năm.
Nhưng cơ cấu xuất khẩu lại hầu như không có thay đổi quan trọng trong
suốt thời gian đó, và chỉ thiên về sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến (như
lúa gạo, cà phê, thủy sản) và khoáng sản (chủ yếu là dầu thô). Những mặt
hàng nông nghiệp và khoáng sản thô này luôn có mặt trong nhóm mười
21
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta, và chiếm đến trên 50% tổng giá trị xuất
khẩu hơn 20 năm qua. Hàng công nghiệp chế biến lọt vào trong danh sách
này là ba sản phẩm may, dệt và giày dép, chiếm hơn 20% tổng giá trị xuất
khẩu. Cần lưu ý là các mặt hàng công nghiệp chế biến này có hàm lượng
giá trị gia tăng rất thấp. Các mặt hàng chủ yếu khác nằm ngoài tốp 10 này
cũng lại là các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến (như hạt điều, chè, cao
su) và than.
• Lý do thứ hai là các mối liên hệ ngược trở lại (backward linkages) giữa
khu vực xuất khẩu với phần còn lại của nền kinh tế còn rất yếu ở nước ta.
Trước tiên, cần thấy rằng ta đã thất bại trong việc xây dựng mạng lưới các
ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động sản xuất để
xuất khẩu. Một ví dụ dễ thấy về tình trạng này là trong ngành lúa gạo. Do
sự yếu kém của công nghiệp xay xát, chế biến, một tỷ trọng lớn gạo Việt
Nam xuất đi không được xử lý thích hợp nên giá gạo Việt Nam bao giờ
cũng thấp hơn giá gạo Thái Lan từ 15-20%. Trong các ngành khác như cà
phê, rau quả, thủy sản tình hình cũng tương tự. Giá xuất khẩu thấp hơn có
nghĩa là ta phải chịu thiệt thòi nhiều hơn cho cùng một lượng các nguồn lực
khan hiếm dùng trong quá trình sản xuất so với đối thủ.
• Lý do thứ ba nằm ở mối quan hệ lỏng lẻo giữa chủ trương khuyến khích
lực đã bị sử dụng không hiệu quả.
• Hơn nữa cần phải tỉnh táo nhìn nhận lại con số tăng trưởng ngoạn mục
của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong thời gian qua. Hầu như các
nhà làm chính sách đều bỏ qua hoặc xem nhẹ thực tế là những mặt hàng
xuất khẩu này, như da giày, may mặc, đều có giá trị gia tăng rất thấp, chủ
yếu nằm ở tiền công gia công, vốn đã ở mức rẻ nhất trong khu vực. Có một
phân tích cho thấy, Việt Nam chỉ được hưởng tổng cộng khoảng 5% lợi
nhuận của một cái áo sơ mi xuất khẩu. Như vậy, nếu xét đến giá trị gia tăng
thì đóng góp từ tăng trưởng xuất khẩu lên tăng trưởng kinh tế trên thực tế
sẽ nhỏ hơn nhiều so với những gì vẫn tưởng nếu chỉ dựa vào doanh số xuất
khẩu danh nghĩa. Và điều quan trọng hơn ở đây là, vì tỷ lệ giá trị gia tăng
thấp nên Việt Nam buộc phải duy trì tăng trưởng xuất khẩu mạnh các mặt
hàng này nhằm tăng tỷ trọng giá trị gia tăng của chúng góp vào GDP. Mà
điều này có nghĩa là ta phải xuất khẩu ồ ạt (bằng các biện pháp trợ cấp xuất
khẩu chẳng hạn) các mặt hàng giày dép, quần áo vào các thị trường chính
quốc tế như Mỹ và EU, tức là sẽ luôn đối mặt với hàng rào tự vệ thương
mại do các nước này dựng lên.
* Nói tóm lại, việc đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương đúng đắn. Tuy
nhiên, Nhà nước cần có các biện pháp đi kèm để đảm bảo việc xuất khẩu
tận dụng tối đa và không gây lãng phí nguồn lực của xã hội, đồng thời hỗ
trợ các ngành nghề trực tiếp, gián tiếp liên quan đến quá trình xuất khẩu
được phát triển. Có như vậy, tăng trưởng xuất khẩu mới có đầy đủ ý nghĩa
nhất.
+ Về chính sách tiền tệ và tỷ giá của nước ta:
Mục tiêu của chính sách tiền tệ là nhằm trợ giúp vốn đồng thời hỗ trợ
rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Sự hỗ trợ trong việc đảm bảo tài
chính tín dụng được thể hiện qua các hình thức:
• Thực hiện biện pháp cấp tín dụng xuất khẩu:
Vốn bỏ ra cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu thường rất lớn. Người
xuất khẩu phải có vốn trước và sau khi giao hàng để thực hiện hợp đồng
lần điều chỉnh kể từ 1996, nhưng hiện vẫn còn cao và đã tác động tiêu cực
đến hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường thế giới.
• Đồng tiền Việt Nam cho đến nay, chưa có thể chuyển đổi tự do trong khi
tổng giá trị xuất nhập khẩu của nước ta đã bằng 160% GDP (số liệu 2008)
thì đây là một vấn đề rất bất lợi vì các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu của
ta phải chịu các chi phí chuyển đổi tiền với thủ tục phiền hà và tốn kém
thời gian. Đã thế họ còn phải chịu thiệt do quy định về kết hối ngoại tệ, tiền
của họ thu được do xuất khẩu, khi nhập khẩu cần ngoại tệ lại phải xin phép
ngân hàng cấp…
+ Về cơ sở hạ tầng và thủ tục hải quan:
Cơ sở hạ tầng: Các cơ sở hạ tầng cần cho hoạt động kinh tế đối ngoại
là các cảng biển, đặc biệt là cảng trung chuyển quốc tế, sân bay quốc tế,
24
Thương mại Quốc tế Việt Nam GV: Giáp Thị Thùy Dung
các đường cao tốc nối từ các trung tâm kinh tế đến sân bay và cảng biển, hệ
thống liên lạc, viễn thông, cung cấp điện
• Về cảng biển, theo các chuyên gia nước ngoài, hiệu suất cảng biển Việt
Nam được xếp thứ bảy trong số 9 nước Đông Á mà họ đánh giá, Việt Nam
xếp sau Singapo, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, chỉ xếp trên
Trung Quốc và Indonexia. Phải nói thêm là phần lớn hàng xuất khẩu của
Trung Quốc đều qua cảng Hông Kông, nên Việt Nam chỉ hơn Indonexia.
Các hãng vận tải biển nước ngoài xếp cảng Việt Nam vào nhóm độc quyền
vì tất cả các cảng do nhà nước sở hữu và vận hành. Nước ta chưa có cảng
trung chuyển quốc tế, nên hàng xuất khẩu của ta phải trung chuyển qua các
cảng Hồng Kông, Singapo, làm tăng thêm chi phí khoảng 20-30%. Phí
cảng của ta do Ban vật giá chính phủ định hiện là rất cao, trong khi công
nghệ bốc dỡ kém, quản lý lạc hậu, thời gian giải phóng tàu lâu, càng làm
tăng thêm chi phí cho người xuất khẩu.
• Về hàng không, ta có 2 sân bay quốc tế ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh, nhưng đều kém các sân bay quốc tế trong khu vực. Giá vé máy bay