tiểu luận những tác động của xuất khẩu đến sự phát triển của kinh tế việt nam từ năm 2008 đến nay - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN
KINH TẾ PHÁT TRIỂN
NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT KHẨU
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ VIỆT NAM
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
Hà Nội, 2011
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triền mạnh mẽ kéo theo sự đi lên tất
yếu của các hoạt động trao đổi buôn bán thương mại giữa các nhóm, các khu vực
kinh tế hay giữa các quốc gia trên Thế giới. Ngày nay, trong mạch chảy không
ngừng nghỉ đó, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Từ những thập niên gần
đây và đặc biệt là từ năm 2008 đến nay, các hoạt động xuất nhập khẩu ở nước ta đã
diễn ra sôi nổi trên tất cả các quy mô lớn, vừa và nhỏ với tốc độ phát triển nhanh
chóng. Điều này góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy nền kinh tế, tận dụng được
những lợi thế so sánh của nước ta, đồng thời nâng cao vị thí của Việt Nam trên
trường quốc tế.
Chính vì tầm quan trọng như vậy của Xuất nhập khẩu đến sự phát triển kinh
tế, bài tiểu luận đã đi sâu vào nghiên cứu nhằm rút ra mối quan hệ biện chứng của
hoạt động này và nền kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, bài tiểu luận này tập trung tìm
hiểu về một mặt của vấn đề trên: đó chính là Những tác động của xuất khẩu đến
sự phát triền kinh tế ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay.
Nội dung đầu tiên mà bài tiểu luận đề cập đến là đưa ra một bức tranh toàn
cành về thực trạng xuất khẩu ở Việt Nam những năm từ 2008 đến nay, kết hợp vận
dụng với những lý thuyết kinh tế vĩ mô để nêu lên mối quan hệ giữa chúng. Nội
dung tiếp theo là nghiên cứu cụ thể hơn những tác động của xuất khẩu đến phát
triển kinh tế Việt Nam, trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Điều quan
trọng cuối cùng chính là từ tất cả những con số, dữ liệu thu thập được từ lý thuyết
và thực tế nền kinh tế, bài tiểu luận xin đưa ra một số đề xuất nhằm khắc phục

(dự đoán)
2011
(8 tháng đầu năm)
Giá trị(tỷ
USD)
62,69 57,1 72,19 84,7 60,8
Nguồn: Tổng cục thống kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx?
tabid=393&idmid=3&ItemID=10376
Tổng cục hải quan
http://www.customs.gov.vn/Lists/HoTroTrucTuyen/ThongKeHaiQuan.aspx
a. Đánh giá tình hình xuất khẩu của Việt Nam dựa theo giá trị xuất
khẩu
Biểu đồ giá trị xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2008-2011
Trong 3 năm 2008-2011 giá trị xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng
lên.Theo dự đoán đến hết năm 2011 xuất khẩu Việt Nam có thể đạt 84,7 tỷ USD
tăng 22,01 tỷ USD tương đương 35,1 % so với năm 2008.
Tuy nhiên, năm 2009 do ảnh hưởng của khủng cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới đã làm gía trị xuất khẩu của Việt Nam giảm xuống 5,59 tỷ USD tương đương
8,9% so với năm 2008.
Năm 2010, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng rất nhanh,tăng 15.09 tỷ
USD tương đương 26,4% so với năm 2009, đứng thứ 39 trên thế giới tăng 2 bậc so
với năm 2009 tuy nhiên theo thống kê mức độ tăng trưởng này của Việt Nam cao
hơn so với Campuchia, ngang bằng với mức tăng của Malaysia và thấp hơn tốc độ
tăng của tất cả các nước ASEAN khác.
Dựa theo tình hình xuất khẩu năm 2010 và tình hình kinh tế thế giới một số
nhà kinh tế đã dự đoán vào cuối năm 2011 giá trị xuất khẩu của Viêt Nam có thể
đạt tới 84,7 triệu USD,tăng 12,51 tỷ USD tương đương 17,3% so với năm 2010.
Theo số liệu thống kê mới nhất trong 8 tháng đầu năm 2011 giá trị xuất khẩu
của Việt Nam đặt 60,8 tỷ USD tăng 33% so với cùng kỳ năm ngoái.
Từ số liệu giá trị xuất khẩu các năm 2008-2010 cho thấy mặc dù giá trị xuất

qua các năm 2008-2010,trong vòng 3 năm tỷ trọng nhóm nghành này tăng 6,2%,tuy
nhiên trong 8 tháng đầu năm 2011 tỷ trọng nhóm ngành này có biểu hiện sụt giảm
khi chỉ còn 43,4% giảm 2,6% so với năm 2010.Năm 2010 là năm chứng kiến sự
phát triển vượt bậc của xuất khẩu ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
khi ngành hàng dệt may vươn lên đứng thứ 10 trên thế giới với giá trị xuất khẩu đạt
11 tỷ USD.
So với năm 2008 tỷ trọng nhóm ngành nông lâm thuỷ sản cũng có sự tăng
nhẹ khi tăng 0,2% trong năm 2010, nhưng nếu so với năm 2009 thì tỷ trọng của
nhóm ngành này giảm 0,4%, đây là nhóm ngành sự tăng giảm tỷ trọng không đáng
kể trong 3 năm từ 2008-2010, tuy nhiên, tính đến 8 tháng đầu năm 2011, ta thấy
nhóm ngành nông lâm thuỷ sản có sự tăng trưởng vượt bậc, khi chiếm tỷ trọng
28,05% trong kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2011 tăng 5,25% so với năm
2010. Đây cũng là nhóm ngành mà Việt Nam đang giữ vị trí khá cao trên bản đồ
xuất khẩu trên thế giới với các mặt hàng truyền thống như gạo, cà phê, cao su hạt
điều.
Trong tất cả các mặt hàng thì mặt hàng vàng phi tiền tệ có sự thay đổi rõ rệt
nhất khi tăng lên gấp 6,67 lần trong vòng 3 năm, tỷ trọng xuất khẩu ngành này có
sự tăng giảm không đồng đều qua các năm
Từ năm 2008-2009 ta thấy sự nhảy vọt của xuất khẩu trong lĩnh vực vàng phi
tiền tệ khi tăng từ 0,6% năm 2008 lên 4,6% trong năm 2009, tăng gấp 7,6 lần tuy
nhiên đến năm 2010 mặt hàng này có sự giảm nhẹ về tỷ trọng khi giảm xuống còn
4%, tính đến 8 tháng đầu năm 2011 ta lại thấy sự giảm sút tỷ trọng của mặt hàng
này xuống chỉ còn 1,95% chỉ còn bằng 0,49 lần so với năm 2010
3. Nhận xét chung
Trong vòng 3 năm từ 2008 đến 2010 giá trị xuất khẩu Việt Nam có sự tăng
trưởng rõ ràng,tỷ trọng xuất khẩu trên thị trường thế giới cũng tăng,trong đó có sự
thay đổi về cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu,tăng tỷ trọng mặt hàng công nghiệp nhẹ
và thủ công nghiệp giảm tỷ trọng mặt hàng công nghiệp nặng và khoáng sản,mặt
hàng nông lâm thuỷ sản cũng có sự biến đổi nhưng không đáng kể,các mặt hàng
công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp cũng đã đạt được những thành tích đáng

(tỉ USD)
XK bình quân
đầu người (USD)
Tỉ trọng xuất
khẩu trong GDP
(%)
2008 62,69 727,60 67,99
2009 57,10 665,58 58,81
2010 72,19 830,53 69,68
2011 84,70 935,39 77,14
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong giai đoạn vừa qua, xuất khẩu đã góp phần quan trọng cho tăng trưởng
kinh tế Việt Nam.Từ năm 2008 đến nay, tỉ trọng của xuất khẩu trong GDP cao và
có xu hướng tăng. Trong giai đoạn 2008 – 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm nhưng vẫn chiếm tỉ
trọng cao trong GDP: năm 2008 chiếm 67,99%; năm 2009 chiếm 58,81% và góp
phần không nhỏ duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta trong cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu.
Những năm gần đây, tỉ trọng xuất khẩu trong GDP luôn được duy trì ở mức
cao và có xu hướng tăng càng thể hiện vai trò của xuất khẩu tới tăng trưởng kinh tế.
Năm 2008, con số này ở khoảng 67,99%, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
thế giới năm 2009 giảm xuống 58,81% và hồi phục trở lại vào năm 2010 với
69,68%. Đến năm 2011, trong 8 tháng đầu năm, mức đóng góp của xuất khẩu vào
GDP đạt 77,14%, cao nhất từ trước đến nay.
Điều này cho thấy xuất khẩu là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm qua.
• Mối quan hệ chặt chẽ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu.
Rõ ràng xuất khẩu là một bộ phận của GDP, mỗi sự thay đổi của xuất khẩu sẽ
kéo theo sự thay đổi của GDP. Theo tính toán của một nhà nghiên cứu hiện nay,

kiện nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ cùng với các cuộc cách mạng khoa
học kĩ thuật, Việt Nam cũng có thuận lợi đó là cơ hội rút ngắn quá trình CNH –
HĐH của mình bằng cách nhập khẩu các thiết bị máy móc kĩ thuật, công nghệ tiên
tiến và kinh nghiệm quản lí từ các nước phát triển mà không cần phải bắt đầu từ
đầu.
Quá trình CNH – HĐH ở nước ta những năm gần đây đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ trong đó xuất khẩu đóng một vai trò không nhỏ.Mục tiêu quan
trọng nhất của xuất khẩu chính là có được ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của nền
kinh tế trong đó có một nhiệm vụ rất quan trọng đó là phục vụ cho công nghiệp hóa
đất nước.
Đối với một nước có nền kinh tế phát triển vẫn còn lạc hậu như Việt Nam thì
nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lí là một điều
rất quan trọng phục vụ quá trình CNH – HĐH. Muốn vậy, chúng ta phải có một
lượng vốn ngoại tệ đủ lớn. Nguồn ngoại tệ này có thể xuất phát từ các nguồn như:
xuất khẩu hàng hóa, đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch
dịch vụ, xuất khẩu sức lao động… Trong số này, xuất khẩu trong thời gian qua đã
tỏ ra là nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu phục vụ cho công nghiệp hóa đất
nước.Xuất khẩu quyết định qui mô và tốc độ của nhập khẩu.
Bảng: Kim ngạch xuất – nhập khẩu và tỉ lệ nhập khẩu/ xuất khẩu 2008 – 2011
Năm 2008 2009 2010 2011
Xuất khẩu (tỉ USD) 62,69 57,10 72,19 84,70
Nhập khẩu (tỉ USD) 75,50 65,40 79,30 92,10
Nhập khẩu/ Xuất khẩu (%) 120,43 114,54 109,85 108,74
Nguồn: Tính toán dựa trên nguồn của Tổng cục Thống kê.
Tỉ trọng nhập khẩu/ xuất khẩu ngày càng giảm, từ 120,43% năm 2008 xuống
108,74% năm 2011 chứng tỏ trong những năm gần đây, ngoại tệ thu được từ xuất
khẩu đã đáp ứng được một phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu.
Có thể thấy xuất khẩu luôn là một nguồn ngoại tệ lớn nhất và rất quan trọng,
bên cạnh những nguồn ngoại tệ khác. Mặt khác, các nguồn vốn như đầu tư nước
ngoài hay viện trợ, vay nợ tuy cũng rất quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng

động. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp cũng được triển khai tích cực,
đang đi vào cuộc sống, góp phần tích cực vào việc giữ gìn an sinh xã hội.
- Mục tiêu được đề ra trong năm 2011 là: tạo việc làm cho 1,6 triệu lao
động, trong đó tạo việc làm trong nước cho 1,513 triệu người, xuất khẩu
lao động 87 ngàn người; giải quyết việc làm cho 200 nghìn lao động
thông qua dự án vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm; đầu tư nâng cao
năng lực cho 32 trung tâm giới thiệu việc làm; hỗ trợ tổ chức sàn giao
dịch việc làm cho 30 tỉnh, thành phố; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm
thất nghiệp cho người lao động bị thất nghiệp…
Tích cực đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, mở rộng quy mô sản xuất, từ đó giải
quyết việc làm cho người lao động là một trong những nguyên nhân quan trọng
nhất đẫn tới hững thành tựu đã đạt được trong công tác giải quyết nạn thất nghiệp,
ổn định thu nhập và cuộc sống cho người lao động như trên.
• Sự chuyển đổi cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam
Số liệu được đưa ra trong Báo cáo “Xu hướng việc làm Việt Nam 2010” cho
thấy đang có sự chuyển đổi cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam từ những việc
làm trong ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp, đòi hỏi nhiều lao động
sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn, được đầu tư
công nghệ và tài chính nhiều hơn.
Cũng theo báo cáo trên do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội công bố
ngày 24/1, ngành chiếm nhiều lao động nhất ở Việt Nam là ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp và thủy sản với gần 23 triệu lao động (năm 2008).
Nhưng trong hầu hết các dự báo, việc làm trong ngành nông nghệp, lâm
nghiệp và thủy sản có chiều hướng giảm và sẽ ở mức 21,1 triệu lao động vào năm
2020. Người lao động có trình độ và kỹ năng cao hơn sẽ là chất xúc tác cho quá
trình chuyển đổi này, cũng như sự tăng trưởng thành công của Việt Nam trong vai
trò là quốc gia có thu nhập trung bình.
Các số liệu trong báo cáo cho thấy, trong giai đoạn 2007-2009, Việt Nam gặp
nhiều thách thức do tác động của nền kinh tế toàn cầu bị suy giảm với những ảnh
hưởng rõ rệt đến thị trường lao động.

Các sản phẩm đóng tầu thuyền, sản phẩm từ gang thép, cao su đều có mức tăng
trưởng cao so với năm 2007 và là những mặt hàng có triển vọng tăng nhanh trong thời
gian tới. Một số mặt hàng chủ lực tuy khối lượng xuất khẩu giảm nhưng do giá tăng
mạnh trên thị trường thế giới nên trị giá vẫn tăng như dầu thô tăng 23,1%, than đá tăng
44%, cao su tăng 14,6%.
Tựu chung, xuất khẩu cả năm đạt 62,9 tỉ USD, tăng 29,5 % so với năm 2007, trong
khi chỉ tiêu chỉ có 22%. Với tổng kim ngạch trên, bình quân một tháng năm 2008, xuất
khẩu đạt được kim ngạch 5,25 tỉ USD, tương đương kim ngạch xuất khẩu cả năm 1995
(5,4 tỉ USD). Tổng kim ngạch xuất khẩu trên đã vượt xa mức dự định cho năm 2009, tiến
gần mục tiêu vào năm 2010 trong “Đề án xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010”. Với tốc độ
tăng nói trên, chỉ số tăng xuất khẩu năm nay gấp 4,7 lần so với tốc độ tăng GDP, trong
khi năm 2007 chỉ có 2,6 lần.
(Theo Tapchicongsan)
Một số thống kê trong năm 2011
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2011, dự kiến sẽ đạt khoảng 78 tỷ USD, tăng hơn
10% so với năm 2010, trong đó xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (không kể dầu
thô) đạt khoảng 38 tỷ USD, chiếm khoảng 48,7% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 13 %
so với năm 2010. Thủy sản dự kiến kim ngạch đạt khoảng 6 tỷ USD; lượng gạo xuất khẩu
6,5 triệu tấn; cà phê 1,1 triệu tấn, cao su 800.000 tấn.
Nhiều sản phẩm công nghiệp và nhóm hàng hóa mới sẽ có nhiều khả năng tăng
trưởng nhanh trong giai đoạn tới do kết quả của quá trình thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là
các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm gần đây tăng mạnh (lĩnh vực điện
tử, linh kiện điện tử, máy tính, sản phẩm cơ khí…)
Trong năm 2010, nhóm mặt hàng hạn chế xuất khẩu như: khoáng sản, dầu thô… đã giảm
trên 8,5% về giá trị so với cùng kỳ và xu hướng này sẽ còn tiếp diễn trong những năm tới.
Trong khi đó, theo các chuyên gia, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong câu lạc bộ tỷ
USD như: gạo, cà phê, thủy sản… đã tới ngưỡng nên việc nâng cao chất lượng, giảm dần
số lượng sẽ làm đòn bẩy nâng kim ngạch xuất khẩu năm 2011.
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội thủy sản Việt Nam (VASEP) cho
rằng: Mặc dù kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2010 tăng hơn 16,6% so với năm 2009

nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn.
• Cơ cấu lao động
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lao động trong các ngành công nghiệp và
dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng
giảm đi.
Cụ thể hơn, cơ cấu lao động theo ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng
tích cực như sau: Tỷ trọng lao động nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản đã
giảm (từ 73% năm 1990 xuống còn 71,3% năm 1995; khoảng 51,9% năm 2009 và
năm 2010 khả năng còn dưới 51% gần đạt mục tiêu đề ra).
Tỷ trọng lao động nhóm ngành công nghiệp- xây dựng tăng liên tục (từ
11,2% năm 1990 lên 11,4%, lên khoảng 13,1% năm 2000, lên 18,2% năm 2005, lên
21,5% năm 2009). Tỷ trọng lao động nhóm ngành dịch vụ tăng liên tục và nhanh
nhất (từ 15,8% năm 1990, lên 17,4% năm 1995, lên khoảng 21,8% năm 2000, lên
24,7% năm 2005 và lên 26,6% năm 2010).
(Theo Chinhphu.vn)
e. Mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước
Quan hệ kinh tế đối ngoại ở đây được hiểu là tổng thể các mối quan hệ về
thương mại, kinh tế và khoa học kĩ thuật giữa một quốc gia này với một quốc gia
khác hay một tổ chức quốc tế. Như vậy trong quan hệ kinh tế đối ngoại đã bao gồm
nhiều hoạt động khác nhau như xuất nhập khẩu hàng hóa, đầu tư quốc tế, du lịch,
dịch vụ (ví dụ: vận tải đường biển, hàng không, đường bộ, bảo hiểm, thanh toán
quốc tế), xuất khẩu lao động… Qua đó cho ta thấy được mối quan hệ tác động qua
lại phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực hoạt động này nói chung và giữa hoạt động
xuất khẩu với các lĩnh vực của kinh tế đối ngoại nói riêng.
Hoạt động xuất khẩu với chức năng là kênh lưu thông hàng hóa giữa thị
trường trong nước và thị trường ngoài nước là bộ phận quan trọng của hoạt động
kinh tế đối ngoại. Nó tạo điều kiện thúc đẩy các lĩnh vực khác của quan hệ kinh tế
đối ngoại phát triển
Đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia luôn có mối

góp quan trọng trong nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như ASEAN (1995), ASEM
(1996), APEC (1998)… Tháng 11/2006, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức thành công
Hội nghị cấp cao Diễn đàn châu Á – Thái Bình Dương APEC. Sự kiện có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng là ngày 7/11/2006, Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu sự hội nhập hoàn toàn của Việt Nam
vào nền kinh tế toàn cầu, mang đến những cơ hội to lớn về thương mại và đầu tư
cho nền kinh tế Việt Nam.
Thức hiện nhất quán chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương
hóa quan hệ, Việt Nam vẫn không ngừng mở rộng và phát triển từng bước đưa quan
hệ hữu nghị, hợp tác với các nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu
quả, nhất là với các nước láng giềng khu vực, các nước lớn, các trung tâm kinh tế
chính trị quan trọng trên thế giới.
Qua đây có thể thấy, xuất khẩu thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại
của đất nước và lại càng tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu phát triển.
2. Những tác động tiêu cực của xuất khẩu đến phát triển kinh tế của Việt
Nam
a. Xuất khẩu tăng trưởng chưa vững chắc ảnh hưởng tới tăng trưởng
kinh tế
Như đã trình bày ở trên, xuất khẩu của Việt Nam chiếm một tỉ lệ khá cao
trong cơ cấu GDP, do đó, một sự biến động của xuất khẩu sẽ có ảnh hưởng nhất
định đến tăng trưởng kinh tế.
Xuất khẩu đóng một vai trò quan trọng trong việc kích tích tăng trưởng kinh
tế, tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực này, nó cũng gây ra một số hiệu
ứng tiêu cực khác.
Trong xu thế hội nhập thế giới, nền kinh tế Việt Nam không thể nào không
hướng đến xuất khẩu.Tuy nhiên sự kỳ vọng quá nhiều vào thị trường thế giới đã
mang lại không ít thất vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam khi kinh tế thế giới,
đặc biệt là ở các nước phát triển, lâm vào tình trạng bất ổn.Cuộc khủng khoảng
kinh tế năm 2008 đã có những ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Việt Nam.Việc quay
trở lại thị trường nội địa và 2 nước Lào, Campuchia đã giúp các doanh nghiệp xuất

mại thời trang, cửa hàng giới thiệu sản phẩm may mặc tại nhiều thành phố,
khu đô thị lớn nhưng thị phần còn khiêm tốn. Những hang may mặc có chất
lượng tốt, mẫu mã đẹp như Nem, An phước, Ninomax… lại có giá đắt,
không phù hợp với túi tiền hầu hết dân Việt Nam. Các hàng may mặc khác
có giá rẻ thì mẫu mã không đẹp, không theo kịp xu hướng. 2 năm gần đây
xuất hiện các chuỗi cửa hàng Made in Vietnam giá cả phải chăng, chất lượng
tốt, mẫu mã đẹp là điểm khởi sắc trong thị trường may mặc nội địa, người
tiêu dung trong nước cũng được sử dụng sản phẩm tốt hơn mà giá cả rẻ hơn.
Ta thấy nếu các doanh nghiệp có chiến lược đầu tư quảng bá, giới thiệu sản
phẩm đối với thị trường trong nước, xây dựng cho mình một thị trường vững
chắc thì chắc chắn sẽ hạn chế được những rủi ro từ thị trường nước ngoài
- Tác động tiêu cực thứ hai đó là xuất khẩu và sản xuất chưa thực sự gắn kết
với nhau tạo sự mất cân bằng cung cầu, ảnh hưởng tới nền kinh tế.
Các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ lo thu mua sản phẩm để xuất khẩu,
không có trách nhiệm trong việc quy hoạch sản xuất dẫn đến tình trạng cung
cầu mất cân bằng.
Lại lấy ngành dệt may làm ví dụ. Việt Nam đang được xếp hạng ở
mức 16/153 nước xuất khẩu dệt may của thế giới, kim ngạch xuất khẩu được
đánh giá là lớn, tuy nhiên lợi nhuận ròng đem lại là rất thấp. Các doanh
nghiệp dệt may của Việt Nam phần lớn là các đơn vị nhận gia công cho nước
ngoài. Một thực tế đó là các nguyên phụ liệu cho ngành này chủ yếu trông
chờ vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài, nguồn nguyên liệu trong nước chỉ
mới đáp ứng được một phần rất nhỏ: bông xơ sản xuất trong nước mới đảm
bảo 5% nhu cầu, tơ sợi tổng hợp phải nhập 30%, vải cho công nghiệp may
phải nhập 52%, nguyên phụ liệu nhập 34% Hiện nay, Việt nam vẫn chưa
dành một sự quan tâm đầu tư thích đáng vào sản xuất nguyên liệu cho ngành
công nghiệp dệt.
- Cơ cấu thị trường xuất khẩu chưa thực sự hợp lý cũng gây tác động tiêu cực
tới xuất khẩu từ đó gián tiếp tác động tới tăng trưởng:
Xuất khẩu nếu như quá phụ thuộc vào một thị trường thì sẽ rất dễ bị ảnh

khẩu của các quốc gia này.
Biến động thị trường Nhật đã khiến nhiều doanh nghiệp nghĩ đến việc thay
đổi thị trường xuất khẩu. Những diễn biến bất lợi tại Nhật, thị trường xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam trong nhiều năm qua, do thảm họa động đất - sóng thần,
khiến nhiều doanh nghiệp bắt đầu nghĩ đến việc điều chỉnh cơ cấu xuất khẩu, nhằm
giảm thiểu những khó khăn ở thị trường này.
Bên cạnh đó, phải đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe hơn ở thị trường châu
Âu và Mỹ. Hai thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam là Mỹ và EU ngày
càng “khó tính”, bằng những rào cản phi thuế quan, tiêu chuẩn nhập khẩu khắt khe
hơn. Các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước cần sớm nắm bắt những quy định mới
này.
Theo ông Lê Văn Đạo, Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas),
ngoài những vấn đề về chất lượng, giá cả, năm 2011, các nhà nhập khẩu EU sẽ
nhập khẩu hàng hóa có chọn lọc hơn. Chẳng hạn sản phẩm nhập khẩu vào EU phải
đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, các chất độc hại không được dùng trong sản
xuất hàng may mặc theo quy định EU, áp dụng tiêu chuẩn về an toàn đối với các
sản phẩm dùng cho trẻ em. Ngoài ra, doanh nghiệp xuất khẩu buộc phải tuân thủ
những quy định về ghi nhãn mác, môi trường (xử lý nước thải), trách nhiệm xã
hội mới có thể xuất khẩu vào thị trường này.
Mỹ là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.Thị trường này cũng có
những thay đổi quan trọng trong năm 2011, gây khó khăn và trở ngại cho hàng xuất
khẩu trong nước.Theo ông Nguyễn Duy Khiên, Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Mỹ
thuộc Bộ Công Thương, kinh tế Mỹ phục hồi chậm, tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao,
sức mua của thị trường này có thể giảm sút trong năm nay. Bên cạnh đó, đang có sự
cạnh tranh gay gắt giữa các nhà sản xuất nội địa và các quốc gia xuất khẩu vào thị
trường Mỹ. Chính sách bảo hộ của Mỹ như đạo luật Farm Bill cho mặt hàng thủy
sản, Lacey cho sản phẩm gỗ sẽ tiếp tục gây khó khăn cho hàng xuất khẩu của Việt
Nam. Vì vậy, để duy trì sức mua của thị trường này, doanh nghiệp cần có những
chiến lược dài hạn dựa trên việc đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu những
mặt hàng tăng trưởng cao nhưng chiếm thị phần thấp ở Mỹ. Quan trọng hơn, doanh

quyền địa phương vẫn cần phải đặt nhiều chú ý hơn khi mà hiện nay, giá của các
mặt hàng như dầu mỏ, than đá trên thế giới cũng như trong nước đang tăng cao.
Hiện tại, chúng ta cũng đã đưa ra các chiện lược sủ dụng nguồn tài nguyên,
Nhà nước cũng đã có rất nhiều biện pháp nhằm hạn chế lượng xuất khẩu tài nguyên
khoáng sản. Đến năm 2010, phấn đấu giảm tỷ lệ xuất khẩu nhóm hàng khoáng sản
và nguyên liệu xuống còn 9,6%
- Tác động của xuất khẩu tới môi trường
Xuất khẩu Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới và đặc biệt trong những năm
gần đây liên tục được đẩy mạnh. Và do mục đích khai thác tài nguyên cũng như sản
xuất sản phẩm để xuất khẩu, nhằm đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu, đạt được lợi
nhuận cao, nhiều doanh nghiệp đã bất chấp tất cả, không quan tâm tới vấn đề môi
trường, khiến cho tình trạng ô nhiễm hiện nay càng trở nên trầm trọng hơn. Ngành
thủy, hải sản là một minh chứng điển hình.
Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong 10 nước có kim ngạch
xuất khẩu thủy sản đứng đầu thế giới. Song do kỹ thuật và công nghệ khai thác, chế
biến, nuôi trồng thủy sản lạc hậu, công tác quản lý còn yếu kém nên đã và đang làm
suy thoái môi trường ven biển, dẫn đến nguồn lợi thủy sản gần bờ ngày càng cạn
kiệt một cách nhanh chóng. Theo báo cáo của Hội khoa học kĩ thuật biển Việt Nam
thì khoảng hơn 70% các chất ô nhiễm từ nguồn lục địa thải ra vùng cửa sông và
ven biển, sau đó các chất nguy hại này bị tích lũy lại với hàm lượng ngày càng cao
tại ven bờ. Theo các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia, ở những khu vực lân
cận thuộc các cảng biển, tỷ lệ nước biển ở đây ô nhiễm dầu, mỡ đều vượt chuẩn
cho phép. Chẳng hạn như Đà Nẵng 24,6 mg/lít, Ninh Thuận 18,1 mg/lít, Phú Yên
14,7 mg/lít, Khánh Hòa 14,6 mg/lít… đó là chưa kể đến những vụ tai nạn tràn dầu
ra biển hàng chục nghìn tấn, bình quâ nước ta mỗi năm xảy ra từ 5-7 vụ tai nạn tràn
dầu như thế. Ô nhiễm môi trường ven biển gia tăng, cộng thêm phương pháp đánh
bắt theo lối hủy diệt như dùng hóa chất độc hại, sử dụng chất nổ, lưới mắt nhỏ, khai
thác tôm cá trái vụ… đang làm giảm mạnh chất lượng hệ sinh thái biển. Trong đó
17 loài cá biển, 57 loại cá nước ngọt có nguy cơ tuyệt chủng; các rạn san hô, thảm
cỏ biển và rừng ngập mặn dần biến mất mà nguyên nhân ở đây là do việc phát triển

hiểu đối tác tiến tới thương lượng và mua bán một cách dễ dàng , giúp đơn giản hóa
các thủ tục xuất nhập khẩu khi áp dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lí
xuất nhập khẩu,… Chính vì vậy, việc phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ
hơn nữa trong các nhành sản xuất và xuất khẩu sẽ góp một phần lớn nâng cao hiệu
quả sản xuất trên thị trường cả về chất lượng lẫn giá thành, giúp đẩy mạnh xuất
khẩu và phát triển kinh tế một cách bền vững hơn.
Để tạo điều kiện cho khoa học công nghệ phát triển, Nhà nước cần tạo lập
một thị trường cho khoa học công nghệ và có các chính sách ưu đãi về thuế, về tín
dụng để khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần lập thêm những quĩ hỗ trợ cho khoa học
công nghệ đẩy nhanh quá trình phát triển của ngành khoa học công nghệ của Việt
Nam, bắt kịp trình độ phát triển của thế giới.
Với cơ cấu xuất khẩu như nước ta hiện nay, điều cần thiết phải làm là tập
trung đầu tư có chọn lọc khoa học công nghệ cho các ngành sản xuất các mặt hàng
công nghiệp để sản xuất và đầu tư phát triển khoa học công nghệ cho ngành công
nghiệp chế biến, góp phần nâng cao tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp trong cơ
cấu hàng xuất khẩu đồng thời nâng cao giá trị tăng thêm cho các sản phẩm nông
sản – một trong những thế mạnh của nước ta.
Ngoài ra, tăng cường ứng dụng những thành tựu ứng dụng những thành tựu
khoa học kĩ thuật trong công tác hành chính, giúp đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm
thời gian và tiền bạc cho cả Nhà nước lẫn doanh nghiệp xuất khẩu.
Đi đôi với khoa học công nghệ, việc phát triển nguồn nhân lực cũng là một
điều không thể thiếu. Khi trang thiết bị máy móc thiết bị hiện đại cho sản xuất pahir
nghĩ tới những cán bộ kỹ thuật giỏi và công nhân lành nghề có thể điều khiển được
các trang thiết bị máy móc đó. Hiện nay, nước ta rất thiếu cán bộ kĩ thuật và công
nhân kĩ thuật có tay nghề cao. Do đó khả năng cạnh tranh quốc tế hóa chưa cao.
Để khắc phục tình trạng này Việt Nam cần tổ chức nhiều chương trình đào
tạo chuyên sâu cho các cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật thuộc các lĩnh vực để
tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề trong các ngành chế tạo, sản xuất chế biến.
Trong đó, cần cập nhật chương trình đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của

2. Tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp và một số
nhóm hàng xuất khẩu chủ lực giúp đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu
sản xuất.
Cơ cấu xuất khẩu của nước ta hiện nay vẫn còn đang rất lạc hậu và mặc dù
trong nhiều năm qua đã có những chuyển dịch theo hướng tích cực tuy nhiên tốc độ
chuyển dịch còn chậm. Cơ cấu xuất khẩu của nước ta chủ yếu vẫn phụ thuộc vào
mặt hàng khoáng sản, các sản phẩm nông lâm, thủy sản; các mặt hàng công nghiệp

Trích đoạn Tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp và một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực giúp đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status