Bài tiểu luận - Kế toán quản trị
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
Doanh nghiệp (DN) là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước ở Việt
Nam hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có vai trò hết sức quan trọng thể
hiện ở chỗ: DNNN chi phối các ngành, các lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu
của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo,
ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế - xã hội của
một tổ chức để phục vụ nhu cầu quản lý của các đối tượng bên trong và bên ngoài tổ
chức, doanh nghiệp còn có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay- giai
đoạn toàn cầu hoá nền kinh tế , sự cạnh tranh mang tính chất phức tạp, khốc liệt. Có
thể nói, chính chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng và hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức để đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Xuất phát từ yêu cầu và tính chất thông tin cung cấp cho các đối tượng bên
trong và bên ngoài tổ chức có sự khác biệt nên thông tin kế toán được phân biệt thành
thông tin KTTC và thông tin KTQT. Mặc dù KTQT mới được phát triển trong giai
SVTH: Võ Thị Thu Sương - Lớp B17.KDN2
1
Bài tiểu luận - Kế toán quản trị
đoạn gần đây nhưng đã minh chứng được sự cần thiết và quan trọng của nó đối với
công tác quản trị, điều hành các tổ chức, doanh nghiệp , đặc biệt là những đơn vị có
quy mô lớn, hoạt động đa lĩnh vực, đa ngành trong phạm vi rộng. KTQT đã, đang và
dần trở thành công cụ khoa học giúp nhà quản trị thực hiện tốt các chức năng hoạt
động, kiểm soát và ra quyết định.
Để làm rõ điều này tôi xin trả lời những câu hỏi dưới đây để thấy được tầm
quan trọng của Kế toán Quản Trị.
Nội dung
1. Theo quan điểm riêng của anh (chị) tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong
định mức. Việc lập dự toán và định mức các khoản chi phí chưa được quan tâm đúng
mức, bởi vậy mà chưa có sự chủ động trong kế hoạch sản xuất, hầu hết phụ thuộc vào
đối tác. Công tác phân tích chi phí-khối lượng-lợi nhuận chưa được các doanh nghiệp
thực hiện, do vậy thông tin chi phí chưa phát huy tác dụng trong việc lựa chọn những
phương án sản xuất tối ưu. Chưa tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ
phận trong doanh nghiệp. Công tác kế toán quản trị trong đó có kế toán quản trị chi
phí chưa được chú trọng, hệ thống, sổ sách còn rất sơ sài chủ yếu vẫn sử dụng sổ sách
chi tiết của kế toán tài chính…Từ việc nghiên cứu và phân tích những vấn đề tồn tại
nêu trên cần lựa chọn một mô hình tổ chức KTQT chi phí trong các doanh nghiệp tại
Việt Nam là điều cần thiết
1.3. Các doanh nghiệp Việt Nam nên lựa chọn mô hình KTQT nào? Vì sao?
Trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam nên theo mô hình kết
hợp kế toán quản trị và kế toán tài chính trong cùng một hệ thống kế toán là phù hợp,
bởi mô hình này cho phép kế thừa được những nội dung của kế toán tài chính đã tồn
tại và biểu hiện cụ thể trong hệ thống kế toán hiện hành. Thực chất kế toán tài chính
và KTQT đều nghiên cứu sự biến động chi phí và kết quả của hoạt động. Song KTQT
mang nội dung chủ yếu vì nó cung cấp hệ thống thông tin về chi phí để các nhà quản
trị đưa ra hàng loạt các quyết định. Mặt khác, việc tồn tại một hệ thống kế toán sẽ tiết
kiệm được chi phí trong hạch toán kế toán, đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả
hơn là áp dụng mô hình tách rời dường như sẽ tốn kém chi phí nhiều hơn so với lợi
ích thu được. Điều này cũng phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam vì chiếm đến
95% các doanh nghiệp hiện nay là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nó phù hợp với trình
độ cán bộ kế toán tại các đơn vị, đồng thời đảm bảo thuận lợi cho việc quản lý, kiểm
tra, kiểm soát của Nhà nước. Mỗi phần hành kế toán nên phân công nhiệm vụ rõ ràng
để nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc của nhân viên kế toán, đồng thời
tránh sự chồng chéo trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho nhà quản trị
doanh nghiệp.
2. Trình bày mối quan hệ giữa chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ?
2.1. Chi phí sản phẩm
SVTH: Võ Thị Thu Sương - Lớp B17.KDN2
sản
xuất
Bộ
phận
sản
xuất
Tất cả các chi phí phát sinh là chi
phí sản phẩm. Ban đầu, nó được
đưa vào chi phí sản phẩm đang
chế tạo. Khi sản phẩm được chế
tạo xong thì giá trị của thành
phẩm được chuyển vào hàng tông
kho.
Thành phẩm được bán ra và
trở thành giá vốn hàng bán.
Bộ
phận
bán
hàng và
quản lí
Không có Tất cả chi phí phát sinh.
Doanh nghiệp
thương mại
Giá mua và chi phí mua của hàng
tồn kho
Giá vốn của hàng hóa xuất
bán và chi phí bán hàng cũng
như chi phí quản lí doanh
nghiệp
SVTH: Võ Thị Thu Sương - Lớp B17.KDN2
khi mứa độ hoạt động của doang nghiệp thay đổi. Tuy vậy, định phí trên một đơn vị
sản phẩm thì biến đổi tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động.
Ví dụ: Tiền lương của cán bộ quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định
(theo phương pháo đườ thẳng), tiền thuê nhà xưởng và máy móc thiết bị theo thời gian
thuê.
Định phí chỉ được xem là không thay đổi khi mức độ hoạt động nằm trong giới
hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Khi daonh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất,
tăng cường đầu tư mua sắm nhà cửa, máy móc thiết bị thì định phí sẽ tăng lên đến một
phạm vi hoạt động mới.
4.2. Định phí bắt buộc
Là những chi phí không thể không có cho dù mức độ hoạt động của doanh
nghiệp xuống rất thấp, thậm chí không hoạt động
Ví dụ: khấu hao tài sản cố định, lương cán bộ quản lí…
Định phí bắt buộc thường có bản chất lâu dài và khí thay đổi. Do vậy khi ra những
quyết định có liên quan đến định phí bắt buộc nhà quản l phải cân nhắc rất kỹ. Chẳng
SVTH: Võ Thị Thu Sương - Lớp B17.KDN2
5
Bài tiểu luận - Kế toán quản trị
hạn như có mua mới một nhà xưởng hay không? Có trang bị hay không một dây
chuyền sản xuất mới.
4.3. Định phí tùy ý
Là những chi phí có thể dễ dàng thay đổi tùy vào điều kiện thực tế và mức độ
hoạt động. Nhà quản l có thể đưa ra quyết định chi phí tùy ý hàng năm.
Ví dụ như chi phí quảng cáo, chi nghiên cứa, chi quan hệ quần chúng…
Điểm khác nhau giữa định phí tùy và định phí bắt buộc là:
- Định phí tùy được lập kế hoạch trong một một thời kỳ ngắn còn định phí bắt
buộc có liên quan đến kế hoạch dài hạn và bao hàm nhiều năm.
- Trong trường hợp cần thiết thì có thể cắt giảm bớt các định phí tùy ý. Ví dụ
một doanh nghiệp đang chi 50 triệu đồng/năm cho các chương trình phát triển
của ban quản lý có thể bị bắt buộc cắt giảm chi phí này trong năm vì điều kiện