tiể uluận lý luận hình thái kinh tế xã hội và việc vận dụng lý luận trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở việt nam - Pdf 25

Trang 1
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin thì hình thái kinh tế - xã hội
là một lý luận chiếm vị trí quan trọng. Lý luận này không có chỉ có ý nghĩa về mặt
lý luận mà còn giá trị về mặt thực tiễn. Nếu như các tư tưởng lịch sử trước Mác khi
nghiên cứu các vấn đề xã hội tiếp cận từ góc độ nhân tố tinh thần như: đạo đức,
niềm tin, tôn giáo, chính trị… để giải thích đời sống xã hội thì C. Mác và
Ph.Ăngghen đã bắt đầu nghiên cứu xã hội bằng việc xem xét yếu tố con người cụ
thể, hiện thực, hiện đang sống đời sống thực trong từng xã hội cụ thể; phân tích một
cách khoa học các mối quan hệ của tất cả các lĩnh vực, các mặt đời sống xã hội;
phát hiện các quy luật cơ bản chi phối sụ vận động, phát triển của xã hội. Trên cơ sở
đó, ông đã đi tới khái quát khoa học về lý luận hình thái kinh tế - xã hội. Lý luận
này đã chỉ rõ được quy luật vận động và phát triển của xã hội. Học thuyết này đã
vạch ra nguồn gốc động lực bên trong của sự phát triển xã hội, chỉ ra được bản chất
của từng chế độ xã hội, là cơ sở ỉý luận cho đường lối cách mạng của giai cấp vô
sản và quần chúng lao động trong xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Lý luận này đã
trang bị cho chúng ta phương pháp khoa học để nghiên cứu sự phát triển xã hội qua
các chế độ khác nhau, qua đó giúp cho chúng ta hiểu được cơ cấu chung của hình
thái kinh tế - xã hội là những quy luật phổ biến chi phối sự vận động và phát triển
của xã hội.
Vào giữa thế kỷ XX, khi chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa bị khủng hoảng trầm trọng
dẫn đến sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong khi đó chủ nghĩa Tư bản
lại đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học và công nghệ; cũng như các
mặt về đời sống xã hội thì xuất hiện nhiều quan điểm phủ nhận chủ nghĩa xã hội, lý
tưởng hóa chủ nghĩa tư bản. Những quan điểm phủ nhận này không phải chỉ từ phía
kẻ thù của chủ nghĩa Mác mà còn có cả một số người đã từng theo chủ nghĩa Mác.
Họ cho rằng chủ nghĩa Mác đã lỗi thời trong thời đại hiện nay và phải thay thế nó
bằng lý thuyết các nền văn minh. Vậy thực tế lý luận Hình thái kinh tế - xã hội của
chủ nghĩa Mác có thật sự đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại ngày nay hay
Trang 2

Mác vào đặc điểm riêng của nước ta.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để có thể hoàn thành tốt đề tài này em đã dựa trên quan điểm của Mác về học
thuyết hình thái kinh tế - xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự hướng dẫn của PGS –
TS – GVCC Nguyễn Thế Nghĩa, các bài nghiên cứu về Chủ Nghĩa Mác, con đường
quá độ đi lên CNXH của các tác giả…
V. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm Hai nội dung chính. Hai nội dung
chính này được nghiên cứu theo từng mục nhỏ, cụ thể như sau:
• Chương I: Khái quát chung về Hình thái Kinh tế - Xã hội
 I> Những tiền đề xuất phát để Mác xây dựng lý luận Hình thái kinh tế - xã hội.
 II> Phạm trù Hình thái kinh tế - xã hội và Phép biện chứng trong sự vận động, phát
triển của các hình thái kinh tế - xã hội.
 III> Tính khoa học và vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế - xã
hội.
• Chương II: Vận dụng lý luận Hình thái kinh tế - xã hội vào quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
 I> Việc lựa chọn con đường tiến lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN.
 II> Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự nghiệp xây dựng CNXH.
 III> Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
 IV> Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời
sống xã hội.
PHẦN 2: NỘI DUNG
Trang 4
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI.
I. NHỮNG TIỀN ĐỀ XUẤT PHÁT ĐỂ MÁC XÂY DỰNG HÌNH THÁI KINH
TẾ XÃ HỘI.
Việc nhận thức, nghiên cứu, đánh giá các vấn đề lịch sử thường khó khăn và
phức tạp hơn so với các vấn đề tự nhiên do đời sống lịch sử gồm các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, chính trị, văn hóa .v.v…và mọi sự biến đổi của lịch sử, xã hội luôn gắn

của con người đối với sự phát triển của sản xuất vật chất và sự phát triển của toàn
thể xã hội. Nhu cầu của con người hình thành một cách khách quan trong đời sống
hiện thực của con người gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần v.v… Khi con
người phát sinh nhu cầu thì họ sẽ tìm cách hoạt động để đáp ứng nhu cầu đó. Nhưng
nhu cầu của con người là vô tận, nhu cầu này được thỏa mãn thì lập tức sẽ xuất hiện
thu cầu mới, cứ thể con người tiếp tục hoạt động, phát triển và kéo theo sự phát
triển của cả xã hội.
Bên cạnh hoạt động sản xuất vật chất với tính cách là hành vi lịch sử đầu tiên
của con người thì con người còn có những hoạt động sản xuất khác như: hoạt động
sản xuất tinh thần, hoạt động sản xuất ra bản thân con người cũng như các mối quan
hệ xã hội khác. Trong các hoạt động đó thì hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động
nền tảng, cơ sở cho toàn bộ đời sống xã hội, cũng là điểm đánh dấu sự khác biệt căn
bản giữa con người và con vật. C.Mác viết: “bản thân con người bắt đầu bằng tự
phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra tư liệu sinh hoạt của
mình. Do đó để nghiên cứu các mặt của đời sống xã hội để từ đó tìm ra các quy luật
vận động, phát triển khách quan của xã hội thì phải bắt đầu từ sản xuất vật chất của
con người hiện thực.
Khi nghiên cứu hoạt động sản xuất vật chất C.Mác phát hiện ra hai mặt không
tách rời nhau của quá trình này đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên biểu hiện ở lực lượng sản xuất còn quan hệ giữa
con người với con người được biểu hiện ở quan hệ sản xuất. Hai mặt này của sản
xuất vật chất tồn tại thống nhất với nhau tạo thành phương thức sản xuất. Chính sự
tác động qua lại lẫn nhau giữa hai mặt này trong một phương thức sản xuất tạo nên
Trang 6
quy luật: quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Dựa trên cơ sở nghiên cứu hoạt động sản xuất vật chất, C. Mác đã tiếp tục
nghiên cứu các mặt khác của đời sống xã hội như: chính trị, pháp quyền, cũng như
biểu hiện của đời sống văn hóa tinh thần của xã hội. Từ đây ông đã dần dần phát
hiện tính quy luật trong các mối quan hệ chằng chịt giữa các lĩnh vực xã hội: cơ sở
hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã

từng giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người.
Mỗi xã hội đều có một phương thức sản xuất đặc trưng. Phương thức sản xuất
đóng vai trò quyết định tới mọi mặt của đời sống xã hội. Sự phát triển và thay thế
lẫn nhau giữa các phương thức sản xuất quyết định sự phát triển của xã hội.
Phương thức sản xuất gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Hai mặt
này tác động biện chứng lẫn nhau và quyết định sự vận động và phát triển của
phương thức sản xuất.
Lực lượng sản xuất.
Là toàn bộ các lực lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất vật
chất.
Lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố cơ bản: người lao động với sức mạnh về
thể lực, trí lực, kỹ năng lao động cụ thể và tư liệu sản xuất trước hết là công cụ lao
động.
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong
quá trình sản xuất vật chất. Nó thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong hoạt
động sản xuất vật chất, trong việc chinh phục tự nhiên.
Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì nhân tố người lao động có vai trò
quan trọng nhất, quyết định nhất, là lực lượng sản xuất hàng đầu. Với tư cách là chủ
thể của quá trình hoạt động thực tiễn nói chung, hoạt động sản xuất nói riêng thì
người lao động đã sử dụng và phát huy các đặc tính của tư liệu sản xuất mà trước
hết là công cụ lao động để tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều và chất lượng
ngày cao. Cùng với sự phát triển của xã hội thì chất lượng của người lao động cũng
Trang 8
ngày càng cao cả về thể lực, trí lực lẫn kỹ năng lao động. Thời đại ngày nay cùng
với sự phát triển của khoa học và công nghệ, vai trò của lao động trí tuệ ngày càng
đóng vai trò quyết định trong sản xuất.
Bên cạnh nhân tố người lao động, nhân tố công cụ lao động cũng có vai trò vô
cùng quan trọng trong lực lượng sản xuất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất,
cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất do công cụ lao động không ngừng được
con người cải tiến, biến đổi và hoàn thiện dần trong quá trình sản xuất nhằm đáp

sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất, tuy nhiên quan hệ này cũng có khả
năng tác động trở lại tới hai quan hệ kia bởi quan hệ này có tác động trực tiếp đến
lợi ích của con người.
Trong phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại
gắn liền với nhau, thống nhất biện chứng với nhau trong đó: lực lượng sản xuất là
nội dung, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất. Lực lượng sản xuất
thường xuyên biến đổi còn quan hệ sản xuất thì tương đối ổn định. Sự tác động biện
chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một phương thức sản xuất
nhất định đã tạo nên quy luật cơ bản nhất, phổ biến nhất của sự vận động và phát
triển của xã hội: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất.
• NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT
VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT.
Do nhu cầu khách quan của sự phát triển sản xuất, phát triển xã hội khiến con
người không ngừng cải tiến, đổi mới công cụ lao động làm cho công cụ lao động
không ngừng phát triển. Khi công cụ lao động phát triển, bản thân con người cũng
ngày càng phát triển tương ứng. Điều này dẫn đến của sự phát triển của toàn bộ lực
lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ phát
triển của nó. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được đo bằng trình độ của
công cụ lao động, trình độ của người lao động, trình độ tổ chức và phân công lao
động xã hội cũng như trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất. Gắn liền với trình
Trang 10
độ phát triển của lực lượng sản xuất là tính chất của nó. Tính chất của lực lượng sản
xuất biểu hiện tính chất của quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm cũng như tính chất
của sự kết hợp giữa người lao động và công cụ lao động trong quá trình sản xuất.
Khi lực lượng sản xuất là thủ công, phân công lao động xã hội còn thấp thì lực
lượng sản xuất chủ yếu mang tính cá nhân. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến
trình độ cơ khí hiện đại cũng như sự phân công lao động xã hội phát triển thì lực
lượng sản xuất có tính xã hội hóa.
Quá trình tồn tại, vận động và phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định

Trong trường hợp quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản
xuất thì quan hệ sản xuất này sẽ bị thay thế bởi quan hệ sản xuất mới phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để tiếp tục thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển. Tuy nhiên quá trình thay thế này không diễn ra một cách giản đơn tự
phát mà phụ thuộc vào năng lực tự giác của chủ thể con người. Trong xã hội có giai
cấp, quá trình này diễn ra thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
2. BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG
TẦNG
• CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của
một xã hội nhất định.
Kết cấu của một cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể trừ xã hội nguyên thủy bao
gồm: quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ, quan hệ sản
xuất mầm mống của xã hội tương lai. Trong các quan hệ sản xuất đó thì quan hệ sản
xuất thống trị luôn giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác cũng như
quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội.
Cơ sở hạ tầng của một xã hội luôn được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống
trị của xã hội đó. Nếu xét sự tồn tại của quan hệ sản xuất trong một phương thức sản
xuất thì nó chính là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu xét quan hệ sản
Trang 12
xuất trong tổng thể các quan hệ xã hội khác thì nó lại trở thành cơ sở kinh tế của xã
hội, tức cơ sở hiện thực để trên đó hình thành một kiến trúc thượng tầng.
Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ các quan điểm chính trị, pháp quyền, triết
học, đạo đức, tôn giáo… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như: nhà nước,
đảng phái, giáo hội, các tổ chức xã hội khác được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất
định.
Kết cấu của kiến trúc thượng tầng bao gồm nhiều yếu tố trong đó mỗi yếu tố
đều có những đặc điểm riêng, quy luật phát triển riêng. Trong quan hệ với cơ sở hạ

đổi chậm hơn. Đặc biệt, trong xă hội có giai cấp, sự thay đổi căn bản kiến trúc
thượng tầng phải thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
Bản thân kiến trúc thượng tầng lại có tính độc lập tương đối trong sự vận động,
phát triển và có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng. Trong sự tác động này, mọi yếu tố
của kiến trúc thượng tầng đều tác động đến cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên sự tác động
của chúng là khác nhau. Đặc bịêt, trong xã hội có giai cấp, nhà nước là nhân tố tác
động mạnh nhất đến cơ sở hạ tầng, bởi vì nó chính là bộ máy quyền lực của giai cấp
thống trị về kinh tế. Dù sự tác động của các yếu tố kiến trúc thượng tầng đối với cơ
sở hạ tầng diễn ra với những xu hướng khác nhau; nhưng chức năng xã hội của kiến
trúc thượng tầng thống trị là duy trì, bảo vệ và củng cố cơ sở hạ tầng sinh ra nó,
chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu cơ sở hạ tầng sinh ra nó, chống lại mọi nguy cơ
làm suy yếu cơ sở hạ tầng. Do vậy, sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở
hạ tầng cũng diễn ra theo hai hướng:
Nếu kiến trúc thượng tầng phù hợp với quy luật kinh tế khách quan thì nó trở
thành động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nếu kiến trúc thượng tầng không phù hợp với quy lụât kinh tế khách quan, thì
nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển kinh tế, cũng như kìm hãm tiến bộ xã
hội. Tuy nhiên, trong trường hợp này, do tính quyết định cuối cùng vẫn thuộc về cơ
sở hạ tầng, cho nên, sớm muộn, bằng cách này hay cách khác cũng xuất hiện sự
Trang 14
thay thế kiến trúc thượng lạc hậu đó bằng một kiến trúc thượng tầng mới tiến bộ để
thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀO
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA.
I. VIỆC LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG TIẾN LÊN CNXH BỎ QUA CHẾ ĐỘ
TBCN.
Nước ta xây dựng CNXH không qua con đường TBCN mà thực hiện con đường
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một
tất yếu lịch sử bởi vì:
Thứ nhất: Phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật

công bằng, dân chủ, văn minh”. Vì vậy, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp
tục hợp lôgíc cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, làm cho cách mạng dân tộc, dân
chủ được thực hiện triệt để.
II. CÔNG NGIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG
CNXH.
1. TÍNH TẤT YẾU VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI
HÓA (CNH-HĐH).
1.1 TÍNH TẤT YẾU
Lý luận hình thái - kinh tế đã chỉ ra rằng mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một
lực lượng sản xuất của nó hay nói cách khác là phải có một cơ sở vật chất – kỹ thuật
của nó. Để có chủ nghĩa xã hội phải có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại do cuộc cách
mạng khoa học công nghệ đem lại.
Đối với nước ta: đặc điểm lịch sử cùng với sự tàn phá của chiến tranh đi qua đã
để lại cho đất nước chúng ta một nền sản xuất nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng
sản xuất thấp, lao động thủ công là chủ yếu. Cái thiếu thốn nhất của chúng ta là
chưa có nền đại công nghiệp. Thêm vào đó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội bên cạnh những thành tựu thì chúng ta cũng còn có khuyết điểm, yếu kém,
những vấp váp sai lầm. Chúng ta đã chủ quan, nóng vội đề ra một số chỉ tiêu quá
lớn về quy mô, quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất; đã duy trì
Trang 16
quá lâu cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp, chậm đổi mới các chính sách
chế độ kìm hãm sản xuất; đã quan liêu, xa rời thực tế, không nhạy bén với những
thay đổi của vận động xã hội, bảo thủ, trì trệ, lạc quan thiếu cơ sở. Do đó mỗi bước
tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bước tăng cường cơ sở vật
chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp
phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
1.2 VAI TRÒ
Việc thực hiện tốt sự nghiệp CNH - HĐH có vị trí và vai trò rất lớn đối với đất
nước chúng ta. Vai trò ấy được thể hiện ở các khía cạnh sau:
CNH - HĐH làm phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng

Khi phân tích 3 nguyên tắc trên chúng ta thấy được vai trò quan trọng trong
việc vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Tại đại hội đảng lần thứ VII đã nêu ra 07 phương huớng cơ bản trong đó có 02
phương huớng liên quan đến lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và mối quan hệ
giữa chúng là:
 Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại
gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm
nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,
không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân
dân.
 Phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ
thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Tại đại hội đảng lần thứ VIII , khi đánh giá kết quả 05 năm thực hiện nghị
quyết của đại hội VII và tổng kết 10 năm đổi mới Đảng ta đã khẳng định “nhiệm vụ
đề ra cho chặng đường đầu của thời kì quá độ là chuẩn bị tiên đề cho công nghiệp
hóa cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kì mới - đẩy mạnh công nghiệp
Trang 18
hóa, hiện đại hóa đất nước. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng
được xác định rõ hơn". Trên cơ sở phân tích những đặc điểm nổi bật của tình hình
thế giới, những xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế, nêu rõ những thời cơ và thách
thức lớn, Đại hội định ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2000 và 2020 của sự nghiệp
đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là:
 Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nước ta
thành một nước công nghiệp có cơ sở - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu,

cao chất lượng cuộc sống. Tri thức đã trở thành nguồn lực hàng đầu, mà giá trị của
nó chiếm tỷ trọng cao, nhiều khi chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong sản phẩm. Với nền
KTTT, nhân tài trí thức được coi trọng, quyền sở hữu trí tuệ trở thành yếu tố quan
trọng. Tri thức trở thành hình thức cơ bản nhất của vốn, quan trọng hơn cả tài
nguyên, sức lao động. Lực lượng sản xuất từ dựa vào tài nguyên thiên nhiên chuyển
dần sang dựa chủ yếu vào năng lực trí tuệ của con người.
Trong bối cảnh tình hình chung của thế giới có những biến chuyển như vậy thì
quá trình CNH – HĐH của đất nước ta cũng có những thay đổi cho phù hợp với tình
hình thực tế, đồng thời tranh thủ những thành tựu đã đạt được của nhân loại để rút
ngắn quá trình CNH – HĐH. Báo cáo chính trị tại Đại Hội X của Đảng đã chỉ ra:
"Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của
nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với
phát triển KTTT, coi KTTT là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH.
Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều
vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với
tri thức mới nhất của nhân loại”.
Trong điều kiện đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trên con đường thực
hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì Việt Nam phải đồng thời cùng thực hiện 02
nhiệm vụ: quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và quá
Trang 20
trình chuyển từ kinh tế nông- công nghiệp lên KTTT trong điều kiện chuyển đổi cơ
chế từ kế hoạch hoá, từ tập trung quan liêu sang cơ chế thị trường định hướng
XHCN. Đây là nhiệm vụ khó khăn đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Tuy nhiên nếu thực hiện được thì sẽ nhanh chóng kéo nền kinh tế đi lên. Do đó đòi
hỏi Đảng ta với tư cách người đứng đầu cần có các chiến lược, phương hướng thực
hiện cụ thể.
III. XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO
ĐỊNH HƯỚNG XHCN.
1. TÍNH TẤT YẾU VÀ KHÁCH QUAN CỦA VIỆC TỒN TẠI VÀ PHÁT
TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM.

Kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất dựa vào kinh nghiệm
của bản thân là chính.
Thành phần kinh tế này gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ của nông dân, thợ thủ
công, những người buôn bán, dịch vụ cá thể. Sở hữu của thành phần kinh tế này là
sở hữu tư nhân, sản xuất kinh doanh manh mún, trình độ kỹ thuật công nghệ thủ
công. Tuy nhiên hình thức kinh tế này có thế mạnh là phát huy nhanh, có hiệu quả
tiền vốn, sức lao động, tay nghề…
Thành phần kinh tế tư bản Nhà Nước: là sản phẩm của sự can thiệp của NN
vào hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh tế tư bản trong và ngoài nước.
Thành phần kinh tế tư bản NN bao gồm tất cả các hình thức hợp tác liên doanh
giữa kinh tế NN và kinh tế tư bản trong và ngoài nước nhằm sử dụng, khai thác và
phát huy thế mạnh của mỗi bên tham gia đặt dưới sự kiểm soát của NN.
Thành phần kinh tế này có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, trình độ
khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệp tổ chức quản lý của các nước tư bản.
Kinh tế tư bản tư nhân: là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà
tư bản trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinh doanh dịch vụ.
Trang 22
Kinh tế tư bản tư nhân tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, Cty cổ
phần, Cty TNHH
Đại hội IX của Đảng xác định, ở nước ta hiện nay, cần phát triển 6 thành phần
kinh tế, tức là ngoài 5 thành phần kinh tế nêu trên, có thêm thành phần kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài
Phát triển kinh tế nhiều thành phần có tác động về nhiều mặt như: giải phóng
sức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tạo ra cạnh tranh -
động lực của tăng trưởng; thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế, thực hiện đại
đoàn kết dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội; là con
đường xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo kinh tế thị trường, Đảng và NN ta luôn nắm vững một
nguyên tắc đó là kinh tế NN đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác dần trở

và xây dựng một xã hội có 08 đặc trưng như trong Cương lĩnh Đại hội XI của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã nêu. 08 đặc trưng của xã hội ta đó là: “Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát
triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp;
có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản
lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
Trang 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status