Lập kế hoạch quản lý rừng bền vững và chuỗi hành trình sản phẩm tại Công ty lâm nghiệp Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận - Pdf 25

MỞ ĐẦU
Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang tác động tiêu cực tới mọi Quốc gia, mọi
dân tộc trên khắp thế giới. Việt Nam là 1 trong 5 Quốc gia sẽ phải chịu ảnh hưởng
nặng nề nhất do sự biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra. Nguyên nhân của sự biến đổi
khí hậu toàn cầu không chỉ do khí thải ngày càng gia tăng quá mức kiểm soát từ các
nước công nghiệp phát triển mà còn do rừng nhiệt đới tại các nước đang phát triển
bị suy giảm nghiêm trọng với tốc độ nhanh.
Tìm kiếm và áp dụng các giải pháp quản lý bảo vệ rừng (QLRBV), bao gồm
chứng chỉ rừng (CCR) là một trong những biện pháp được cộng đồng quốc tế quan
tâm nhất hiện nay trong bảo vệ, duy trì và phát triển rừng. Vấn đề cần được giải
quyết là làm thế nào quản lý kinh doanh rừng phải vừa đảm bảo tốt lợi ích kinh tế,
vừa đem lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng dân cư sống trong rừng, vừa không
gây tác động xấu đến môi trường sống, tức là thực hiện được quản lý rừng bền
vững. Kinh nghiệm quản lý rừng ở Việt Nam cho thấy nếu khu rừng không gắn
được với lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội cho dân sở tại hay cho chủ rừng thì sẽ làm
giảm động cơ tham gia của cộng đồng địa phương để bảo vệ và phát triển rừng và là
gánh nặng ngân sách của nhà nước.
Tiến trình QLRBV tại Việt nam đang trong giai đoạn sôi nổi, Doanh nghiệp
lâm nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang tự nguyện và hào hứng tham gia tiến
trình QLRBV mặc dù biết rằng còn cần phấn đấu nhiều mới đạt được tiêu chuẩn,
khó khăn chủ yếu của doanh nghiệp lâm nghiệp không chỉ là ở chỗ tự nâng cao
năng lực quản lý rừng mà còn phải chuyển đổi mạnh mẽ từ hệ thống chức năng dịch
vụ công ích sang doanh nghiệp kinh doanh.
Nhận thức rõ tầm quan trọng, vai trò và tác dụng to lớn của rừng đối với biến
đổi khí hậu, Việt Nam đã xây dựng Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Quốc gia giai
đoạn 2006-2020 với 3 chương trình trọng điểm, trong đó chương trình quan trọng
đầu tiên là chương trình QLRBV. Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020
phải có ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ QLRBV (FSC).[2]
CCR hiện nay là yêu cầu rất cần thiết cho các đơn vị chủ rừng vì:
1
- Cộng đồng quốc tế, chính phủ, các cơ quan chính phủ, các tổ chức môi

1.1 Trên thế giới
1.1.1. Khái niệm về quản lý rừng bền vững và phát triển bền vững
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và
Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển
của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng
những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"[3].
Phát triển bền vững (PTBV) là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con người bằng mở rộng sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao
chất lượng hoạt động văn hóa. PTBV được hiểu là quá trình phát triển có sự kết hợp
chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển đó là: Phát triển kinh tế,
phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Nói cách khác, PTBV phải bảo đảm có sự
phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ tốt. Để đạt
được điều này, tất cả các thành phần KT-XH, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội
phải bắt tay nhau thực hiện mục đích dung hòa ba lĩnh vực chính: KT-XH-MT.
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới tại Rio de Janerio năm 1992 đã nhấn mạnh sự
cần thiết phải có một cơ chế hiệu quả quản lý rừng (QLR). Lần đầu tiên, những nhà
môi trường, xã hội và kinh tế đã cùng nhau tham gia một chương trình quốc tế bình
đẳng và thành lập Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC).
Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập:
PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki); CIFOR (Trung tâm
nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (tổ chức quốc tế
về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên nhiệt đới.
Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận
ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng
như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà
không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng
3
và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và
xã hội” [3],[10].

đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó.
CCR được áp dụng cho tất cả các đơn vị quản lý rừng với các quy mô lớn
nhỏ bất kể là sở hữu nhà nước hay tư nhân. Đây là một quá trình hoàn toàn tự
nguyện của các chủ rừng. Tuy nhiên, đánh giá cấp CCR chỉ được áp dụng cho các
đơn vị đang quản lý rừng sản xuất và đang hoạt động quản lý kinh doanh. Để được
cấp CCR của FSC, chủ rừng phải chứng minh họ đã đáp ứng tất cả các quy tắc, tiêu
chuẩn trên. Thực chất CCR chính là chứng chỉ chất lượng ISO, là hiệu quả cuối
cùng của QLRBV, được FSC đề cập như là một “công cụ hữu hiệu, giúp cải thiện
quản lý rừng của thế giới” và “là công cụ chính sách mạnh mẽ nhất” trong quản lý
rừng. Khi được cấp CCR, chủ rừng sẽ được:
- Xuất khẩu lâm sản vào mọi thị trường khắt khe trên thế giới kể cả Tây Âu
và Bắc Mỹ với giá bán cao hơn.
- Rừng cùng với môi trường sinh thái và xã hội có liên quan đến rừng sẽ
được giữ gìn, bảo vệ và phát triển tốt hơn.
Bên cạnh đó, các đánh giá định kỳ của cơ quan cấp chứng chỉ sẽ giúp chủ
rừng tìm ra các điểm mạnh, yếu trong hoạt động kinh doanh của mình.
- CCR của FSC giúp bảo vệ thương hiệu và uy tín của chủ rừng với đối tác
kinh doanh, các tổ chức tài chính và các tổ chức cơ quan giám sát. Các tiêu chuẩn
FSC hợp lệ trên toàn thế giới, là tiêu chuẩn duy nhất không có rào cản đối với tổ
chức Thương mại thế giới (WTO).[8]
1.1.3. Các loại chứng chỉ của FSC
Có hai loại chứng chỉ do FSC cấp:
- Chứng chỉ quản lý rừng FSC/FM (FSC forest management certification)
- Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC
Trong quá trình đánh giá cấp chứng chỉ sẽ có hoạt động kiểm soát gỗ (FSC
Controlled Wood)
5
1. 2 Tại Việt Nam
Trong nửa thế kỷ từ 1945 đến 1990 tại Việt Nam, rừng liên tục giảm diện
tích từ 14,3 xuống 9,2 triệu ha (mất 5,1 triệu ha), tốc độ mất rừng cao nhất là giai

lâm sản ngoài gỗ, kể cả dùng cơ giới hóa hoặc khai thác thủ công, và được quản lý
bởi một công ty kinh doanh công nghiệp lớn hoặc một cộng đồng địa phương hoặc
hợp tác các chủ rừng. Rất nhiều sự kết hợp có thể thực hiện được. Một vấn đề then
chốt là – làm thế nào để đánh giá rộng lớn về tác động lâm sinh, kinh tế xã hội, sinh
thái của các hoạt động quản lý rừng theo cách nhất quán và rõ ràng, dựa vào sự phối
hợp của nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm thực tế.
FSC không đánh giá cấp chứng chỉ. Quá trình đánh giá được thực hiện bởi tổ
chức độc lập gọi là cơ quan đánh giá quản lý rừng. Điều này cho phép FSC vẫn độc
lập với quá trình đánh giá và hỗ trợ tính toàn vẹn của hệ thống chứng nhận FSC.
Công ty Rainforest Alliance SmartWood (viết tắc là SW) ở Châu Á-Thái
Bình Dương là một tổ chức chứng chỉ được FSC ủy quyền. SW cung cấp cho người
quản lý rừng, chủ rừng, công nghiệp rừng, các nhà khoa học, các nhà môi trường và
công chúng thông tin về mọi khía cạnh, về những hoạt động quản lý rừng mà
SmartWood đánh giá để ra những kết luận trong hệ thống chứng chỉ của FSC [5][9].
Năm 1991, SmartWood đưa ra bộ tiêu chuẩn toàn cầu đầu tiên đối với chứng
chỉ quản lý rừng, với đầu đề “Hướng dẫn chung cho việc đánh giá quản lý rừng tự
nhiên” có thể áp dụng ở cấp lâm nghiệp hoặc điều hành đối với các doanh nghiệp
lâm nghiệp, và SW cũng đưa ra một hướng dẫn cụ thể cho vùng đầu tiên đối với
việc quản lý rừng tự nhiên ở Indonesia. Năm 1993, SW đưa ra bản thảo “Hướng dẫn
chung cho việc đánh giá rừng trồng ” và bản hướng dẫn được điều chỉnh đối với
quản lý rừng tự nhiên. Năm 1998, sau bảy năm áp dụng và “học từ thực tế” qua
những lần đánh giá và giám sát, SW đã thực hiện việc xem xét lại cơ bản tiêu chuẩn
của mình để đánh giá quản lý rừng cho cả rừng tự nhiên và rừng trồng. Tiêu chuẩn
của SW phù hợp với các yêu cầu của FSC cũng như của các hướng dẫn về bảo tồn
sinh học và QLR khác được IUCN và ITTO phát hành.
7
Tiêu chuẩn tạm thời của Rainforest Alliance/SmartWood để đánh giá quản
lý rừng ở Việt Nam (SW document code: FM-32-Vietnam, phiên bản ngày 29 tháng
7 năm 2009 có hiệu lực từ tháng 8 năm 2009); Bao gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí
và 210 chỉ số, được cụ thể hoá bằng các tiêu chí, được thể hiện chi tiết bằng các chỉ

hỗ trợ đơn vị kinh doanh lâm nghiệp:
- Bảo đảm về các sản phẩm gỗ bán ra và nguồn gốc của gỗ.
- Cải thiện các hệ thống tài liệu nội bộ của đơn vị và giúp đơn vị chuẩn bị để
đạt được chứng chỉ ISO hoặc chứng nhận khác.
- Nếu là Công ty chế biến gỗ, hệ thống CoC có thể giúp cải thiện hiệu quả
sản xuất của nhà máy và giúp cho việc sử dụng số vốn đầu tư hiệu quả hơn.
- Đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng về hệ thống CoC
- Hệ thống CoC đã hoặc sẽ là yêu cầu bắt buộc đối với các sản phẩm gỗ xuất
khẩu sang Châu Âu, Anh và các quốc gia khác.
- Hệ thống CoC là yêu cầu cần thiết đối với việc dán nhãn và bán sản phẩm
làm từ gỗ được chứng chỉ.
Có thể nói chứng chỉ CoC được coi là công cụ chủ yếu đấu tranh với việc
khai thác gỗ bất hợp pháp và buôn bán gỗ lậu.
Một hệ thống CoC được cấp chứng chỉ của FSC phải đáp ứng 5 yêu cầu:
1. Yêu cầu về hệ thống chất lượng
2. Yêu cầu về nguồn cung cấp nguyên liệu
3. Yêu cầu về kiểm tra sản xuất nội bộ; và ghi chép tư liệu
4. Yêu cầu về sản phẩm và dán nhãn sản phẩm
5. Yêu cầu về lưu trữ tài liệu thông tin.
Quy trình FSC có hai hình thức chính là:
- Doanh nghiệp sử dụng 100 % nguyên liệu có đã được chứng chỉ.
- Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có sử dụng một tỷ lệ % nguyên liệu
chưa có chứng chỉ FSC trộn lẫn với nguyên liệu đã có chứng chỉ.
1.1.3.3. Kiểm soát gỗ (FSC Controlled Wood)
Mặc dù thị phần sản phẩm FSC liên tục tăng trưởng, nhưng nguồn nguyên
liệu có chứng chỉ cung cấp vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. FSC đã giới thiệu loại
nhãn “FSC Mixed Sources”, cho phép doanh nghiệp sản xuất được pha trộn nguyên
liệu được chứng chỉ FSC với nguyên liệu không có chứng chỉ.
9
Phần nguyên liệu không có chứng chỉ phải thực hiện đúng theo các tiêu

QLRBV là một trong ba chương trình trọng điểm của chiến lược với mục tiêu 30%
(8,4 triệu ha) diện tích rừng trồng sản xuất đến năm 2020 được cấp chứng chỉ. Như
vậy, các vấn đề về QLRBV là yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và
kế hoạch hành động của Việt Nam; Được thể hiện rõ trong các văn bản pháp quy:
+ Luật Đất đai (2003); Điều 11 đã quy định: Việc sử dụng đất phải tôn trọng
các nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm
tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.
+ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004): Điều 9 đã quy định về QLRBV:
Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo PTBV về kinh tế, xã hội, môi
trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển KTXH, chiến lược
phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả
nước và địa phương; tuân theo quy chế QLR do Thủ tướng Chính phủ quy định.
+ Luật Bảo vệ môi trường (2005); trong Chương IV: Bảo tồn và sử dụng hợp
lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 Điều (từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những quy
định liên quan tới QLRBV.
+ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về
thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng;
+ Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ
tướng Chính phủ về ban hành Quy chế quản lý rừng;
Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20 tháng 5 năm 2011 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT về Hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản
ngoài gỗ.
1.2.3. Một số hoạt động QLRBV
1.2.3.1. Ở cấp trung ương
Việc tuyên truyền tập huấn đào tạo về QLRBV do NWG thực hiện với sự hỗ
trợ Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính của GTZ, WWG Đông
Dương tại các hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh.
11
Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 và sau năm 2010.

+ Đặc biệt đối với vùng trọng điểm 4 tỉnh Tây Nguyên, nơi còn khai thác
nhiều gỗ nhất từ rừng tự nhiên, cũng là nơi diện tích và chất lượng rừng bị suy giảm
nhiều nhất ở Việt nam, NWG, Cục Lâm nghiệp cùng WWF và Vụ chính sách đã có
các hội thảo để từng tỉnh tự đánh giá hiện trạng quản lý rừng của các lâm trường
theo các tiêu chí của bộ tiêu chuẩn QLRBV.
Năm 2008, Viện QLRBV và CCR cũng thực hiện đánh giá rừng độc lập về
quản lý rừng trồng của mô hình chứng chỉ rừng “theo nhóm” của huyện Yên Bình,
tỉnh Yên Bái. Ở đây, các hộ trồng rừng cùng góp chung diện tích rừng trồng hợp
thành Chi hội trồng rừng Yên Bái và xin cấp CCR. Qua đánh giá, kết quả cho thấy:
các hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt
Nam ở các mức độ khác nhau. Các khiếm khuyết trong quản lý rừng có thể khắc
phục được, tuy nhiên một số tiêu chí và chỉ số trong quản lý chưa phù hợp, nên việc
sử dụng nó để đánh giá còn có chênh lệch [10].
Vào ngày 05/10/2010, Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng và Xuân Đài là 2
công ty đầu tiên thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam (FCG - VINAPACO) đã được
Tổ chức Rainforest Alliance - Smartwood chính thức cấp chứng chỉ quản lý rừng
bền vững FSC. Đến ngày 16/05/2011, nhóm CCR thuộc FCG - VINAPACO mở
rộng thêm 3 thành viên nữa là Công ty Lâm nghiệp Thanh Hoà, Sông Thao và Yên
Lập. Đưa tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ toàn nhóm lên 10.175,60 ha, mỗi
năm khai thác và trồng rừng từ 900 - 950 ha. Khối lượng gỗ nguyên liệu giấy có
chứng chỉ rừng từ 75.000 - 80.000 m
3
.
1.2.2.3.Đánh giá việc xây dựng kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam
Ngày 19/7/1989 Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Chỉ thị 15-LSCNR về công tác
xây dựng phương án điều chế rừng đơn giản cho các lâm trường, trong đó hướng
dẫn việc xây dựng phương án và quy định kể từ 1991 việc khai thác, quản lý khai
thác phải căn cứ vào phương án điều chế. Sở dĩ chỉ xây dựng phương án điều chế
rừng đơn giản là do thiếu kinh phí, không có điều kiện xác định chính xác tài
13

định trong hướng dẫn xây dựng phương án điều chế. Các phương án bảo vệ hệ sinh
thái đặc thù, bảo vệ đa dạng sinh học…chưa được xác định rõ ràng.
1.3. Thảo luận
Trên thế giới, QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước công
nghiệp tiên tiến và hàng loạt quốc gia đang phát triển có rừng tự nguyện tham gia.
Trong khi phần lớn diện tích rừng được cấp ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ thì
CCR ở khu vực Nam Mỹ, Châu Á – Thái Bình Dương và Châu Phi tiến rất chậm.
Ở Việt Nam, khi chuyển đổi các phương thức quản lý thông thường sang
phương thức QLRBV đòi hỏi sẽ phải thay đổi một loạt khuôn khổ chính sách ở cấp
trung ương; thái độ, quan điểm và sự đồng thuận của các sơ sở sản xuất kinh doanh
lâm nghiệp và ngay cả người dân địa phương. Việc xác định các tiêu chuẩn QLRBV
cho mỗi hệ sinh thái của Việt Nam gặp khó khăn do tính đa dạng phức tạp của nó.
Các lợi ích từ quản lý và bảo vệ rừng chưa hấp dẫn người dân sống trong vùng rừng
nên sự tham gia của họ còn rất hạn chế. Chi phí để đạt tiêu chuẩn CCR lại quá cao,
cao hơn so với giá bán gỗ đã được cấp chứng chỉ.
Đánh giá quản lý rừng phải căn cứ vào các tiêu chuẩn QLRBV, nhưng vận
dụng các tiêu chuẩn này cho các đơn vị cần linh hoạt, theo điều kiện thực tế đang
có. Mục tiêu của Công ty lâm nghiệp Hàm Tân tỉnh Bình Thuận là quản lý sử dụng
tài nguyên rừng bền vững. Công ty chưa có đánh giá nào về quản lý rừng của mình
theo bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC, cũng như chưa có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển
giao kỹ năng đánh giá nào của các chuyên gia.
Trên cơ sở Bộ Tiêu chuẩn tạm thời của SmartWood, có hiệu lực từ tháng 8
năm 2009, được sử dụng để cấp chứng chỉ rừng FSC cho các công ty quản lý rừng ở
Việt Nam và các Tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm FM-35 SmartWood [9].
Chúng tôi nghiên cứu đề tài “Lập kế hoạch quản lý rừng bền vững và chuỗi hành
trình sản phẩm tại Công ty lâm nghiệp Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận ”, nhằm hỗ
trợ Công ty tự đánh giá công tác quản lý rừng của mình qua đó thay đổi phương
thức quản lý để có cơ hội nhận CCR của tổ chức SmartWood, đồng thời là tiền đề
để cho 3 đơn vị CTLN và các doanh nghiệp còn lại nghiên cứu tiếp cận.
15

- Kết quả quản lý rừng của Công ty
+ Quản lý rừng và tổ chức quản lý
+ Về kỹ thuật và công nghệ áp dụng
+ Về sử dụng đất, rừng, hạ tầng, vốn
+ Danh mục thiết bị khai thác, vận chuyển, chế biến
+ Kết quả sản xuất kinh doanh
+ Tác động môi trường
+ Tác động xã hội
- Đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản.
2.2.3.2. Lập kế hoạch quản lý rừng [11].
(a) Căn cứ lập kế hoạch
- Chức năng, nhiệm vụ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bình
Thuận giao cho Công ty;
- Yếu tố thị trường tiêu thụ sản phẩm;
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp huyện;
- Kết quả phân tích, đánh giá điều kiện cơ bản của Công ty.
(b) Xác định mục tiêu quản lý rừng
(c) Bố trí sử dụng đất đai.
(d) Tổ chức bộ máy quản lý
(e) Kế hoạch quản lý rừng
- Kế hoạch khai thác rừng
- Kế hoạch vận chuyển, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
- Kế hoạch trồng rừng, chăm sóc rừng
- Kế hoạch Bảo vệ rừng và bảo tồn Đa dạng sinh học
- Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường
- Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hội
- Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
- Kế hoạch nguồn nhân lực và đào tạo
- Kế hoạch giám sát, đánh giá.
17

Tiêu chuẩn 6: Tác động môi trường gồm 10 tiêu chí và 48 chỉ số;
Tiêu chuẩn 7: Quản lý rừng gồm 4 tiêu chí và 15 chỉ số;
Tiêu chuẩn 8: Giám sát và đánh giá gồm 5 tiêu chí và 16 chỉ số;
Tiêu chuẩn 9: Duy trì những rừng có giá trị bảo tồn cao gồm 5 tiêu chí và 16 chỉ
số;
Tiêu chuẩn 10: Rừng trồng gồm 9 tiêu chí và 39 chỉ số;
Phương pháp đánh giá quản lý rừng thông qua ba kênh thông tin: đánh giá
trong phòng, đánh giá ngoài hiện trường và tham vấn. Thu thập các thông tin về các
yếu tố tác động đến quản lý rừng.
Hình 2.1: Quy trình đánh giá QLR tại công ty lâm nghiệp Hàm Tân
Quy trình đánh giá quản lý rừng bao gồm các bước cụ thể như sau [11]:
Để thực hiện việc đánh giá quản lý rừng thì việc đầu tiên là phải quyết định
hình thức đánh giá, có 2 hình thức đánh giá:
- Đánh giá nội bộ: do các cán bộ của chủ rừng thực hiện.
- Đánh giá do bên ngoài: do các chuyên gia tư vấn đánh giá.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi lựa chọn hình thức đánh giá
nội bộ; Được thực hiện bằng cách lập một tổ chuyên gia nội bộ lớn nhỏ tuỳ theo
tầm cỡ (quy mô) của đơn vị để thực hiện việc xác định những khiếm khuyết, trong
chứng chỉ rừng, còn gọi là lỗi không tuân thủ (LKTT) tiêu chuẩn.
19
1. Lập tổ đánh giá: Tổ đánh giá cần có Tổ trưởng chịu trách nhiệm chung và
có ít nhất 6 ngưởi, trong đó phải có ít nhất 1 lâm sinh, một môi trường-bảo tồn và 1
kinh tế-xã hội. Tổ sẽ chia làm 3 nhóm để đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn liên
quan của mỗi nhóm như sau:
Nhóm đánh giá Đánh giá thực hiện các tiêu chuẩn
Kinh tế 5, 7, 8
Môi trường 6, 9, 10
Xã hội 1, 2, 3, 4
- Bản kế hoạch đánh giá phải đủ chi tiết, bao gồm:
+ Những hoạt động cụ thể của tổ đánh giá;

dụng (hay không liên quan) đối với đơn vị. Những tiêu chí hoặc chỉ số này sẽ không
được xem xét trong quá trình khảo sát đánh giá.
- Đánh giá trong phòng:
+ Khi thực hiện đánh giá trong phòng làm việc, tổ đánh giá mời những người
có liên quan đến quản lý rừng cung cấp thêm thông tin và trả lời những câu hỏi liên
quan đến công việc do họ phụ trách hay thực hiện.
+ Nhiệm vụ của đánh giá trong phòng làm việc là khảo sát các văn bản, tài
liệu, sổ sách liên quan đến quản lý rừng như kế hoạch sản xuất kinh doanh , các bản
hướng dẫn, quy trình, các bản báo cáo định kỳ và hàng năm, các báo cáo về kết quả
giám sát đánh giá, các hợp đồng khai thác v.v.,
So sánh nội dung các văn bản tài liệu đó với yêu cầu của bộ tiêu chuẩn của
VN để có thể thấy những văn bản nào phù hợp hoặc chưa phù hợp, những tiêu
chuẩn tiêu chí nào đã được thực hiện tốt hoặc chưa tốt và ở mức độ nào.
Đối chiếu từng tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số với các tài liệu liên quan và
phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách việc thực hiện các tiêu chuẩn - tiêu chí đó.
- Đánh giá ngoài hiện trường:
21
Các tổ đánh giá kiểm tra xem những việc làm ngoài hiện trường có đúng như
trong kế hoạch, quy trình, hướng dẫn và các báo cáo v.v đã công bố hay không.
+ Thường thì tổ đánh giá sẽ chọn ngẫu nhiên một số địa điểm để khảo sát sao
cho có thể nắm được đầy đủ nhất về các hoạt động quản lý rừng ngoài hiện trường
như bài cây khai thác, làm đường vận chuyển gỗ, chăm sóc rừng sau khai thác, cắm
mốc các khu rừng, các biện pháp phòng chống tác động xấu đối với môi trường v.v.
+ Cần có cán bộ chuyên môn phụ trách công việc được đánh giá đi theo để
giải thích hoặc trả lời các câu hỏi của tổ đánh giá.
+ Một phần quan trọng của đánh giá ngoài hiện trường là phỏng vấn những
người có liên quan đến quản lý rừng như cán bộ công nhân của chủ rừng làm việc
tại hiện trường, chính quyền địa phương, các tổ chức có các hoạt động trong vùng,
và người dân sở tại. Nhiều khi những người được hỏi có thể cảm thấy khó nói ra sự
thật hay suy nghĩ của mình trước mặt cán bộ quản lý của chủ rừng, vì vậy tổ đánh

đầy đủ theo lịch cụ thể trong suốt quá trình cấp chứng chỉ trong 5 năm.
+ Khuyến nghị: những cải thiện do nhóm đánh giá gợi ý, mà không bắt buộc
hoặc yêu cầu.
3. Xác định các lỗi không tuân thủ: Một lỗi không tuân thủ là một sự không
nhất quán hoặc lỗi được nhận dạng trong khi đánh giá giữa một số khía cạnh của hệ
thống quản lý của Công ty và một hoặc nhiều các yêu cầu về tiêu chuẩn quản trị
rừng. Phụ thuộc vào tính nghiêm khắc của lỗi không tuân thủ; Tổ đánh giá phân biệt
giữa lỗi không tuân thủ lớn và lỗi không tuân thủ nhỏ. Lỗi không tuân thủ lớn dẫn
đến một sự không tuân thủ cơ bản để đạt mục tiêu của một tiêu chí FSC liên quan.
Nhiều lỗi không tuân thủ nhỏ so với một yêu cầu có thể được coi là có một hậu quả
cộng dồn và do vậy được xem là một lỗi không tuân thủ lớn.
Tiêu
chí
Chỉ
số
Nguồn
kiểm
Thực hiện
Điểm số
T
TP
H
HT
T
TV
T
TB
(1) (2) (3) (4)
(
(5)

Họ tên người đánh giá: Ngày tháng năm 2011
Yêu
cầu
Chỉ
Nguồn kiểm
chứng
Thực hiện Điểm số
TP HT TV TB
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9)
2.3.2.3. Lập kế hoạch quản lý rừng
Lập kế hoạch quản lý rừng bao gồm:
a. Đánh giá các điều kiện cơ bản của Công ty
24
(1) Kế thừa tài liệu: Yêu cầu của tài liệu kế thừa do tổ chức có chức năng ban
hành mới nhất; đảm bảo độ chính xác và sát theo yêu cầu của luận văn, tài liệu gồm:
- Điều kiện tự nhiên, KTXH của Công ty;
- Tài liệu liên quan đến tình hình quản lý, sử dụng rừng từ trước đến nay;
- Về kế hoạch: Văn bản kế hoạch hiện có; kế hoạch quản lý, kinh doanh hàng
năm; kế hoạch khai thác vận chuyển; mở mang đường vận chuyển
- Về đất đai tài nguyên: Bản đồ hiện trạng tài nguyên và đất rừng; Diện tích,
trữ lượng rừng trồng, đánh giá đa dạng sinh học và rừng có giá trị bảo tồn cao
- Về tổ chức: Sơ đồ tổ chức bộ máy, danh sách cán bộ, chức vụ
- Về tài chính: Danh sách các khoản nộp thuế ngân sách nhà nước, bảo hiểm
xã hội; Tổng kết tài chính các năm; Tổng kết tài chính 5 năm trở lại
- Các chính sách, quy định của Nhà nước và địa phương liên quan đến quản
lý rừng đã ban hành.
(2) Tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin cơ bản của Công ty
- Tổng hợp, phân tích điều kiện tự nhiên, KTXH; Phân tích hiện trạng tài
nguyên rừng; Tổng hợp phân tích các mặt được và chưa được của tình hình quản lý;
(3) Đánh giá tác động môi trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status