Luận văn kiểm toán doanh thu và nợ phải trả - Pdf 25

Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN DOANH THU
VÀ NỢ PHẢI THU
I. BẢN CHẤT CỦA CHU TRÌNH DOANH THU VÀ NỢ PHẢI THU:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bán hàng là khâu cuối cùng,
thông qua bán hàng giá trị và giá trị sử dụng của thành phẩm, hàng hoá được thực hiện,
vốn của doanh nghiệp được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị. Do đó,
doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra, bù đắp chi phí và có nguồn tích luỹ để sản xuất
kinh doanh.
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nhiệp thu hồi đựoc trong kỳ.
Nói cách khác doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được
hoặc sẽ thu được từ hoạt động bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hay bán hàng
hoá doanh nghiệp đã mua vào, nhằm bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Hoạt động bán hàng có ảnh huởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển bền vững
của doanh nghiệp.
Các khoản nợ phải thu là các khoản nợ của khách hàng về tiền bán sản phẩm,
hàng hoá, cung cấp lao vụ dịch vụ…theo phương thức bán chịu hoặc theo phương thức
nhận tiền trước.
1 . Chức năng cơ bản của chu trình Doanh thu và Nợ phải thu
Chu trình doanh thu là quá trình chuyển quyền sở hữu của hàng hoá thông qua
quá trình trao đổi hàng - tiền. Chu trình này là một quá trình có mục đích, song phương
thức thực hiện rất đa dạng. Việc nắm vững các chức năng cơ bản của chu trình này
giúp cho KTV hiểu biết và nghiên cứu quá trình kiểm soát nội bộ và thiết lập các thử
nghiệm cơ bản đối với các khoản mục liên quan.
Các chức năng cơ bản của chu trình này:
Xử lý các đơn đặt hàng của khách hàng: Yêu cầu về hàng hóa là điểm khởi
đầu của chu trình, nó có thể là các phiếu yêu cầu mua hàng, đơn đặt hàng, hợp đồng
mua bán hàng hoá. Khi nhận được các đơn đặt hàng nhân viên tiến hành kiểm tra tính

Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền: Bốn chức năng trên là cần thiết cho việc
vận chuyển hàng hoá đến khách hàng, các chức năng còn lại liên quan đến quá trình
thu tiền và ghi sổ các khoản phải thu. Trong việc xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền,
vấn đề quan trọng là khả năng các khoản phải thu đã được thu tiền nhưng chưa được
ghi sổ. Vì vậy cần phải có sự quản lý các khoản thu tiền bằng cách tất cả các khoản thu
tiền phải được ghi vào sổ nhật ký thu tiền và sổ cái phụ các khoản phải thu đúng lúc và
đúng số tiền để sau này dễ kiểm tra đối chiếu.
Xử lý và ghi sổ doanh thu bị trả lại và doanh thu giảm giá: Các khoản hàng
bán bị trả lại và giảm giá hàng bán xảy ra khi khách hàng không hài lòng về hàng hoá.
Do đó, khi xảy ra các tình huống này doanh nghiệp thường chấp nhận sự trả lại hàng

SVTH: ………………………………………………………………………Trang 2
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
hoá hoặc cho người mua hưởng chiết khấu. Doanh thu hàng bán bị trả lại và doanh thu
giảm giá hàng bán cần phải được ghi sổ nhật ký doanh thu hàng bán bị trả lại và doanh
thu giảm giá hàng bán nhằm đảm bảo các khoản doanh thu này được ghi nhận chính
xác và phản ánh kịp thời. Các thư báo Có thường phát hành đối với các khoản giảm trừ
doanh thu để giúp cho việc duy trì sự kiểm soát và tạo thuận tiện cho việc ghi sổ.
Xoá sổ các khoản nợ không thu hồi được: Trong niên độ kế toán các công ty
thường gặp trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán như bị phá sản, thì công ty
phải lập bảng đề xuất xoá bỏ các khoản nợ đó ra khỏi các khoản phải thu để trình cấp
trên có thẩm quyền phê duyệt.
Dự phòng nợ khó đòi: Vào cuối mỗi niên độ kế toán, trên cơ sở quy chế tài
chính về lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, phân tích thực tiễn về khả năng thanh toán
của khách hàng, bộ phận kế toán thanh toán phải tính toán lập bảng phân tích và trích
lập dự phòng nợ phải thu khó đòi trình BGĐ xét duyệt để làm căn cứ hạch toán dự
phòng nợ phải thu.
2. Các chứng từ, sổ sách kế toán liên quan trong chu trình doanh thu và nợ

tháng vào sổ cái tổng hợp.
Hóa đơn điều chỉnh: loại chứng từ chỉ rõ một khoản giảm trong số tiền
khách hàng nợ vì sự trả lại hàng hoá hay vì mức chiết khấu được hưởng. Hóa đơn điều
chỉnh thường có một mẫu chung như một hoá đơn bán hàng nhưng nó thường dùng để
chứng minh cho các khoản giảm của các khoản phải thu hơn là cho các khoản tăng.
Sổ nhật ký doanh thu bị trả lại và giảm giá: sổ này cơ bản giống như sổ nhật
ký bán hàng dùng để ghi lại doanh thu bị trả lại và doanh thu bị giảm giá.
Thư báo chuyển tiền: loại chứng từ này đính kèm hoá đơn bán hàng được
gửi cho khách mua hàng và sẽ được gửi trả lại cho người bán cùng với số tiền thanh
toán. Nó được dùng để nhận diện tên khách hàng, số của hoá đơn bán hàng, và số tiền
ghi trên hoá đơn khi nhận được thanh toán. Thư báo chuyển tiền được dùng để cho
phép ký gửi ngay tiền mặt và cải tiến quá trình kiểm soát đối với quyền bảo quản tài
sản.
Sổ nhật ký thu tiền: là sổ nhật ký dùng để ghi lại các khoản tiền mặt thu được
từ quá trình thu tiền, doanh số bằng tiền mặt và tất cả khoản thu bằng tiền mặt khác. Nó
chỉ rõ tổng số tiền mặt nhận được.
Các mẫu phê chuẩn các khoản không thu được: loại chứng từ này chỉ sử
dụng nội bộ có tác dụng cho phép xoá sổ một khoản phải thu được xem là khoản không
thu được.
Sổ chi tiết các khoản phải thu: loại sổ này được dùng để ghi sổ các doanh số
cá thể, các khoản thu tiền mặt, doanh số bị trả lại và được chiết khấu của từng khách
hàng. Tổng các số dư các tài khoản cá thể trên sổ cái phụ bằng với tổng số dư của các
khoản phải thu trên sổ cái tổng hợp.

SVTH: ………………………………………………………………………Trang 4
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
Báo cáo hàng tháng: loại chứng từ này được gửi cho từng khách hàng nêu rõ
số dư đầu kỳ của các khoản phải thu, số tiền và ngày phát sinh của từng nghiệp vụ,

TK131
ThuếVAT
phải nộp

Doanh thu hàng bán bị trả lại, được giảm trừ vào khoản phải thu
Doanh thu hàng bán bị trả lại, được giảm giá trả lại tiền cho khách hàng
4. Mục tiêu kiểm toán chu trình doanh thu và nợ phải thu
Kiểm toán chu trình doanh thu và thu nợ phải thu là một phần hành cụ thể trong
kiểm toán báo cáo tài chính. Vì vậy nhiệm vụ chung của kiểm toán chu trình này là
triển khai các chức năng kiểm toán thông qua việc vận dụng các phương pháp kiểm
toán thích hợp với đặc thù của phần hành này.
Mặt khác, kiểm toán chu trình doanh thu và nợ phải thu có ý nghĩa quan trọng
liên quan đến nhiều chỉ tiêu trọng yếu trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả
kinh doanh. Do chu trình này được cấu thành bởi các nghiệp vụ cụ thể tạo nên các
khoản mục trên Báo cáo tài chính. Vì vậy, các mục tiêu đặc thù của kiểm toán chu trình
này cần được cụ thể hoá cả mục tiêu kiểm toán tài chính và kiểm toán nghiệp vụ.

SVTH: ………………………………………………………………………Trang 6
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
CÁC MỤC TIÊU ĐẶC THÙ CỦA KIỂM TOÁN DOANH THU VÀ NỢ
PHẢI THU
MỤC TIÊU KIỂM
TOÁN CHUNG
MỤC TIÊU KIỂM TOÁN
DOANH THU
MỤC TIÊU KIỂM
TOÁN NỢ PHẢI THU
I. Mục tiêu hợp lý

II. Các mục tiêu kiểm
toán nghiệp vụ
- Phê chuẩn Các nghiệp vụ bán hàng, kể
cả bán chịu đều được phê
chuẩn
Những thay đổi về thể
thức, thời gian, thủ tục
thanh toán tiền hàng đều
được phê chuẩn
- Kịp thời Các khoản bán hàng được
ghi sổ đúng thời gian
Các nghiệp vụ phải thu
được ghi sổ đúng kỳ
Trên cơ sở các mục tiêu kiểm toán đặc thù đã xác định cần cụ thể hoá thành các
công việc tương ứng với mỗi mục tiêu kiểm toán nội bộ nói riêng hay kiểm soát nội bộ
nói chung. Từ đó xác định những công việc tương ứng với các cuộc khảo sát kiểm soát
trong kiểm toán báo cáo tài chính.

SVTH: ………………………………………………………………………Trang 7
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
II. KIỂM TOÁN DOANH THU VÀ NỢ PHẢI THU
1. Nghiên cứu và đánh giá kiểm soát nội bộ
1.1 Tìm hiểu về kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ gồm có các thủ tục kiểm soát trong việc tổ chức bán hàng và
theo dõi nợ phải thu khách hàng, tức từ khi nhận đơn đặt hàng, xem xét phương thức
thanh toán, vận chuyển, lập hoá đơn, ghi chép doanh thu, nợ phải thu khách hàng, cho
đến khi được khách hàng trả tiền và ghi tăng quỹ.
Để tìm hiểu về kiểm soát nội bộ đối với khoản mục này, KTV có thể thiết lập


SVTH: ………………………………………………………………………Trang 8
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
kê công nợ cho khách hàng hay
không?
8. Việc nhận hàng bị trả lại có sự phê
duyệt của người có thẩm quyền hay
không?
9. Đơn vị có thực hiện việc đối chiếu
giữa tài khoản chi tiết về các khách
hàng với tài khoản Nợ phải thu
khách hàng trên sổ Cái, và việc đối
chiếu này thực hiện khi nào?
v.v…
1.2 Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát
Trên cơ sở các hiểu biết về kiểm soát nội bộ, KTV đưa ra đánh giá sơ bộ về rủi
ro kiểm soát. Cần lưu ý rằng khi đánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn mức tối đa, KTV
phải chứng minh điều này bằng các thử nghiệm kiểm soát.
1.2.1 Thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
KTV thực hiện các thử nghiệm kiểm soát cho những thủ tục kiểm soát mà mình
dự định là sẽ giảm các thử nghiệm cơ bản. Dưới đây là một số thử nghiệm kiểm soát
thường được sử dụng:
a.Kiểm tra mẫu các nghiệp vụ bán hàng
Các thử nghiệm cụ thể sẽ tuỳ thuộc vào thủ tục kiểm soát hiện hữu tại đơn vị. Để
hình dung được cách thiết kế các thử nghiệm kiểm soát đối với hoạt động này, chúng ta
sẽ xem xét một vài thử nghiệm cụ thể. Thí dụ, KTV thường chọn mẫu trong các hoá
đơn phát hành trong kỳ để:
- Đối chiếu với đơn đặt hàng, lệnh bán hàng, chứng từ chuyển hàng về chủng

Thử nghiệm trên đã so sánh giữa hoá đơn với đơn đặt hàng nhằm đảm bảo các
hoá đơn được lập chính xác trên cơ sở số hàng được giao. Tuy nhiên, thử nghiệm trên
không giúp phát hiện được các trường hợp hàng đã gửi đi nhưng vì một lý do nào đó
mà không lập hoá đơn. Để kiểm tra vấn đề này, cần chọn mẫu các chứng từ chuyển
hàng đã lập trong năm và đối chiếu với hoá đơn có liên quan. Cần đặc biệt lưu ý đến số
thứ tự liên tục của các chứng từ là đơn đặt hàng, chứng từ chuyển hàng và hoá đơn bán
hàng.
c . Xem xét sự xét duyệt và ghi chép về hàng bán bị trả lại, hay bị hư hỏng
Tất cả hàng hoá bị trả lại, hay bị hư hỏng đều phải được chứng minh bởi các tài
liệu đã được đánh số thứ tự, được xét duyệt và ký bởi cấp trên có thẩm quyền và họ
phải độc lập với việc chi quỹ, hay giữ sổ kế toán. KSNB tốt liên quan đến hàng bị trả
lại bao giờ cũng phải bao gồm các thủ tục kiểm tra và xét duyệt trước khi nhận lại
hàng.
Để chứng minh sự hiện hữu cũng như tính hữu hiệu của thủ tục kiểm soát trên
(nếu có), KTV có thể chọn mẫu chứng từ liên quan (thí dụ chứng từ nhận hàng bị trả

SVTH: ………………………………………………………………………Trang
10
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
lại) để kiểm tra chữ ký xét duyệt của người có thẩm quyền và đối chiếu quy trình thực
tế với quy trình của đơn vị. Mặt khác, cần kiểm tra việc tính giá, cộng dồn, ghi vào
nhật ký, chuyển qua sổ Cái, sổ chi tiết hàng bị trả lại và tài khoản Nợ phải thu khách
hàng có liên quan.
1.2.2 Đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm cơ bản
Sau khi đã thực hiện các thử nghiệm trên, KTV sẽ đánh giá mức rủi ro kiểm soát
cho mỗi cơ sở dẫn liệu liên quan đến khoản nợ phải thu khách hàng và nghiệp vụ bán
hàng. Khi đánh giá, KTV nên nhận diện những điểm yếu của KSNB để mở rộng các
thử nghiệm cơ bản và những điểm mạnh cho phép giảm thiểu các thử nghiệm cơ bản.

hàng và sự nhất quán với ghi chép trên hóa đơn

SVTH: ………………………………………………………………………Trang
11
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
đắn (Đánh giá). với những tài liệu có liên quan.
2. Tìm kiếm dấu vết từ các hóa đơn bán hàng
tới Nhật ký bán hàng và với sổ Cái chi tiết cho
khách hàng.
3. Xác nhận số dư với khách hàng của Công ty.
4. Đối chiếu Nhật ký bán hàng với số dư của
khoản phải thu, kiểm tra sự khớp đúng của số
dư phải thu khách hàng và số dư chi tiết phải
thu khách hàng.
5. Đánh giá sự phù hợp của dự phòng phải thu
khó đòi.
4. Các tài khoản phải thu khách
hàng, chiết khấu được nhận, ký
cược ký quỹ, tạm ứng, nhận tiền
đặt trước, hoặc phải thu của các
bên liên quan được trình bày đúng
đắn. (Quyền, Trình bày và công
bố)
1. Lấy xác nhận từ ngân hàng và những định
chế tài chính.
2. Đánh giá những hợp đồng vay và biên bản
của hội đồng giám đốc.
3. Phỏng vấn ban quản trị.

nhận doanh thu.
- Kiểm tra sự phân loại của doanh thu.
- Kiểm tra việc khoá sổ đối với nghiệp vụ
bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Phát sinh
Đầy đủ
Đánh giá
Trình bày, đánh giá
Phát sinh, đầy đủ
2.1.1 Áp dụng các thủ tục phân tích
Để kiểm tra tính hợp lý chung của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ,
KTV có thể sử dụng một số thủ tục phân tích sau:
- Lập bảng phân tích doanh thu theo từng tháng, theo từng đơn vị trực thuộc…,
và xem xét các trường hợp tăng hay giảm bất thường.
- So sánh doanh thu của kỳ này với kỳ trước theo từng tháng. Các biến động bất
thường cần được giải thích nguyên nhân.
- Tính tỷ lệ lãi gộp của những mặt hàng, loại hình dịch vụ chủ yếu và so sánh
với năm trước. Phát hiện và giải thích mọi thay đổi quan trọng.
2.1.2 Kiểm tra sự có thực của các khoản doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ đã được ghi chép
Mục tiêu thử nghiệm là để phát hiện các nghiệp vụ bán hàng họăc cung cấp dịch
vụ không xảy ra nhưng lại được ghi trên sổ nhật ký bán hàng. KTV có thể đạt được
điều này bằng các thủ tục sau:
- Đối chiếu các khoản doanh thu bán hàng được ghi chép trên nhật ký bán hàng
với các chứng từ gốc liên quan, như đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, lệnh bán hàng
hoặc phiếu xuất kho, vận đơn, hoá đơn…Còn đối với doanh thu cung cấp dịch vụ, các
chứng từ gốc chứng minh cho nghiệp vụ phát sinh rất đa dạng vì phụ thuộc vào đặc
điểm kinh doanh của từng đơn vị. Trong trường hợp này, KTV căn cứ vào hiểu biết của
mình về hệ thống kiểm soát nội bộ để lựa chọn thủ tục kiểm toán cho phù hợp.
- Lấy mẫu các nghiệp vụ bán hàng và xem xét quá trình thu tiền. Đối với các

lĩnh vực kinh doanh, doanh thu cần được xác định dựa trên những cơ sở khác theo quy
định của chuẩn mực và chế độ kế toán.
Đối với các hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ thông thường, mục đích
của thử nghiệm nhằm bảo đảm các nghiệp vụ này được tính giá đúng. Thông thường,
KTV cần kiểm tra những nội dung sau đây của hoá đơn:
- So sánh với vận đơn, đơn đặt hàng, lệnh bán hàng…để xác định về chủng loại
và số lượng hàng hoá tiêu thụ.
- Đối chiếu với bảng giá, các bảng xét duyệt giá, hợp đồng…để xác định đơn giá
của hàng hoá tiêu thụ. Rà soát lại các khoản chiết khấu, giảm giá để xem có phù hợp
với chính sách bán hàng của đơn vị hay không.
- Kiểm tra việc tính toán trên hoá đơn.

SVTH: ………………………………………………………………………Trang
14
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
- Đối với trường hợp bán hàng bằng ngoại tệ, KTV cần kiểm tra việc quy đổi về
tiền Việt Nam.
Như đã nêu trên, trong một số lĩnh vực kịnh doanh, doanh thu được ghi nhận
theo qui định riêng của chuẩn mực và chế độ kế toán. Vì thế, KTV phải xem số tiền ghi
nhận doanh thu có được xác định phù hợp với các qui định này hay không. Dưới đây là
một số thí dụ minh hoạ:
- Trong hoạt động bán hàng trả chậm, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
chỉ bao gồm giá trị hiện tại của các khoản tiền sẽ thu. Phần chênh lệch sẽ được ghi
nhận là doanh thu hoạt động tài chính.
- Trong hoạt động trao đổi tài sản không tương tự, doanh thu được xác định theo
giá trị hợp lý của tài sản nhận về sau khi điều chỉnh các khoản tiền ( hoặc tương đương
tiền ) trả thêm hoặc nhận thêm. Nếu không xác định được giá trị hợp lý của tài sản
nhận về, đơn vị có thể dùng giá trị hợp lý của tài sản mang đi trao đổi để điều chỉnh các

các nghiệp vụ của niên độ này lại bị ghi sang năm sau và ngược lại.
KTV sẽ lựa chọn một số nghiệp vụ xảy ra trước và sau thời điểm khoá sổ để
kiểm tra chứng từ gốc, so sánh giữa ngày ghi trên vận đơn với hoá đơn, nhật ký bán
hàng và các sổ chi tiết.
2.2 Đối với kiểm toán Nợ phải thu
Những thử nghiệm cơ bản tiêu biểu để đáp ứng các mục tiêu kiểm toán của nợ
phải thu bao gồm thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết được trình bày tóm tắt như
sau:
Loại Thử nghiệm cơ bản Mục tiêu kiểm toán
Thủ tục
phân
tích
Tính các tỷ số:
- Nợ phải thu khách hàng/Doanh thu
- Nợ phải thu khách hàng/Tổng tài sản lưu động.
- Chi phí dự phòng nợ khó đòi/Doanh thu bán chịu…
Hiện hữu
Đầy đủ, Đánh giá, Ghi
chép chính xác
Thử
nghiệm
chi tiết
- Đối chiếu số dư đầu năm của tài khoản Nợ phải thu
khách hàng và Dự phòng phải thu khó đòi với số dư cuối
kỳ năm trước.
- Thu thập bảng số dư chi tiết phân tích theo tuổi nợ để:
+ Kiểm tra số tổng cộng trên bảng và đối chiếu với sổ chi
tiết và sổ Cái của tài khoản Nợ phải thu.
+ Đối chiếu số dư chi tiết của bảng với sổ chi tiết của các
khách hàng có liên quan.

2.2.1 Thủ tục phân tích đối với nợ phải thu khách hàng
Kết quả phân tích là yếu tố quan trọng để lựa chọn các thử nghiệm chi tiết. Dưới
đây là một số thủ tục phân tích thường được sử dụng trong kiểm toán nợ phải thu:
a. Tính tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu
KTV thường tính tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu và so sánh với tỷ lệ của nghành
hoặc của năm trước. Sự biến động trong tỷ lệ lãi gộp có thể xuất phát từ hoạt động kinh
doanh của đơn vị, ví dụ sự thay đổi chính sách giá của đơn vị, biến động giá hàng mua
hoặc do thay đổi cơ cấu mặt hàng. Tuy nhiên, sự biến động của tỷ lệ lãi gộp cũng có
thể xuất phát từ các sai sót trong số liệu kế toán. Chẳng hạn việc ghi chép thiếu doanh
thu có thể làm tỷ lệ lãi gộp sụt giảm bất thường.
b. Tính số vòng quay nợ phải thu
Số vòng quay nợ phải thu được tính trên cơ sở đem chia doanh thu bán chịu cho
nợ phải thu bình quân. Việc so sánh tỷ số này với số liệu của ngành hoặc của năm
trước có thể giúp KTV hiểu biết về hoạt động kinh doanh của đơn vị cũng như dự đoán
khả năng có sai lệch trong báo cáo tài chính:
 Do sự thay đổi chính sách bán chịu của đơn vị, ví dụ đơn vị đã mở rộng hoặc
thu hẹp điều kiện, thời gian bán chịu
 Khả năng tồn đọng nợ phải thu khó đòi trong nợ phải thu của đơn vị. Điều
này sẽ liên quan đến việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi.
 Sai lệch trong số liệu kế toán, ví dụ do việc ghi chép trùng lắp hay bỏ sót các
khoản phải thu khách hàng.
c. So sánh số dư nợ quá hạn năm nay so với năm trước
Thủ tục này cũng giúp KTV ghi nhận những biến động trong thu hồi nợ và khả
năng có sai lệch trong số liệu nợ phải thu. KTV có thể mở rộng thủ tục này bằng cách
so sánh bảng phân tích số dư theo tuổi nợ của cuối kỳ và đầu kỳ để ghi nhận những

SVTH: ………………………………………………………………………Trang
17
Khoá luận tốt nghiệp


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
Công ty XYZ
Bảng số dư chi tiết phân tích
theo tuổi nợ
Ngày 31/12/2007
Hồ sơ : B-1
Người lập:… Ngày:………
Người kiểm tra:……… Ngày:………
Tên khách
hàng
Số dư nợ
Trong đó
Nợ
trong
hạn
Nợ quá
hạn từ
1-30
ngày
Nợ quá
hạn
từ 31-60
ngày
Nợ quá
hạn
từ 61-90
ngày
Nợ quá

^ Đã kiểm tra ngày của các nghiệp vụ bán hàng chưa thanh toán tiền trên sổ chi tiết
C Các khách hàng được chọn để gủi thư xác nhận
b. Gửi thư xin xác nhận đến khách hàng
Để xác nhận tính có thực (hiện hữu) của tài khoản Nợ phải thu khách hàng, thử
nghiệm được sử dụng phổ biến nhất là gửi thư xin xác nhận đến khách hàng. Đây là
một thủ tục rất quan trọng trong kiểm toán nợ phải thu như VAS 501: “Bằng chứng
kiểm toán-các chỉ dẫn bổ sung cho một số khoản mục đặc biệt ” đã quy định: “ Trường
hợp các khoản phải thu được xác định là trọng yếu trong báo cáo tài chính và có khả
năng khách nợ sẽ phúc đáp thư yêu cầu xác nhận các khoản nợ thì KTV phải lập kế
hoạch yêu cầu khách nợ xác nhận trực tiếp các khoản phải thu hoặc các số liệu tạo
thành số dư của tài khoản phải thu”.
Có hai phương pháp thu thập xác nhận từ khách hàng là: (i) yêu cầu khách
hàng trả lời trong mọi trường hợp và (ii) chỉ yêu cầu khách hàng trả lời nếu có bất đồng
với thông tin đề nghị xác nhận. Trong cả hai phương pháp, thư xác nhận phải do đơn vị
được kiểm toán đứng tên và đề nghị khách hàng nếu trả lời sẽ gửi trực tiếp cho KTV.
Trong hai phương pháp trên, phương pháp thứ nhất đáng tin cậy hơn, vì nếu
không nhận được thư trả lời, nó sẽ là chỉ dẫn để KTV điều tra thêm. Trong khi đó, việc

SVTH: ………………………………………………………………………Trang
19
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
không trả lời ở phương pháp xác nhận thứ hai là bằng chứng xác nhận rằng số liệu
đúng, dù rằng điều này có thể có không đúng (thí dụ, khi thư bị thất lạc hoặc khách
hàng không muốn trả lời). Do đó, phương pháp xác nhận thứ hai được xem là cung cấp
bằng chứng có độ tin cậy thấp hơn phương pháp thứ nhất. Tuy nhiên, các chuẩn mực
kiểm toán thường cho phép sử dụng phương pháp thứ hai trong trường hợp rủi ro tiềm
tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là thấp, các khoản phải thu phải xác nhận bao
gồm rất nhiều các khoản có số tiền nhỏ, khả năng xảy ra sai sót được đánh giá là thấp

sẵn địa chỉ để quý công ty tiện sử dụng.
Xin thành thật cảm ơn
Giám đốc công ty XYZ

Phần xác nhận: Ngày 25/2/2008
Kính gửi : Ô. Phan Văn Tâm kiểm toán viên công ty kiểm toán M&N .
Số dư nợ 200.000.000 đồng vào ngày 31/12/2007 là đúng với sổ sách của chúng
tôi, ngoại trừ trường hợp đặc biệt được thuyết minh theo bảng kê chi tiết đính kèm
sau đây.
………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………….
Giám đốc công ty Minh Thành
Mẫu thư xác nhận chỉ yêu cầu trả lời nếu không đồng ý về số liệu

SVTH: ………………………………………………………………………Trang
21
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
Công ty XYZ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
23 Đường 3 tháng 2 Độc lập- tư do -hạnh phúc
Quận 10 TPHCM   
Ngày 15 tháng 1 năm 2008
Kính gửi: Công ty Tân Hưng.
Trích yếu: V/V xác nhận số liệu cho mục đích kiểm toán.
Công ty kiểm toán M&N đang thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính của chúng
tôi. Trên sổ sách của chúng tôi, số tiền quý công ty còn nợ là 200.000.000đ vào
ngày 31/12/07. Nếu số tiền trên phù hợp với sổ sách của quý công ty, quý công
ty không cần gửi thư trả lời.
Còn nếu số tiền trên không chính xác, đề nghị quý công ty điền vào để trống

637/TC/CĐKT ngày 21 tháng 03 năm 1994 của Bộ Tài Chính và Quyết định số
1292/QĐ – UB ngày 19 tháng 04 năm 1994 của UBND thành phố Hồ Chí Minh. Công
ty là tổ chức tư vấn kế toán và kiểm toán độc lập có quy mô lớn thuộc khu vực phía
Nam hoạt động trong phạm vi cả nước. Trụ sở chính của công ty đặt tại thành phố Hồ
Chí Minh.
- Tên công ty: Công ty Kiểm toán và dịch vụ tin học
- Tên giao dịch: Auditing & Informatic Service Company
- Tên viết tắt: AISC
- Địa chỉ công ty: 142 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh
- Điện thoại công ty: (84.8) 9305163
- Fax: (84.8) 9304281
- Email:
Ngoài trụ sở chính AISC còn có các chi nhánh ở Hà Nội, Đà Nẵng và một văn
phòng đại diện ở Cần Thơ gồm có năm phòng kiểm toán doanh nghiệp, một phòng
kiểm toán xây dựng cơ bản và một phòng hoạt động dịch vụ tin học. Ngoài ra AISC
còn liên doanh với một công ty quốc tế thành lập Công ty liên doanh Price Waterhouse
Coopers-AISC hoạt động trong lĩnh vực tư vấn kế toán và kiểm toán.
Sau hơn mười bốn năm hình thành phát triển và hoạt động, cùng với kiểm toán
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước chỉ định
và được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước công nhận đủ điều kiện kiểm toán các doanh
nghiệp cổ phần hoá tham gia thị trường chứng khoán. Hiện nay, Công ty AISC có hơn

SVTH: ………………………………………………………………………Trang
23
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
700 khách hàng thường xuyên sử dụng các dịch vụ do công ty cung cấp. Được Ngân
hàng Nhà nước lựa chọn và chỉ định là một trong những công ty kiểm toán độc lập có
đủ điều kiện kiểm toán các doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng. Vì thế,

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
Giám đốc: Là người có quyền hạn cao nhất trong công ty, đại diện cho công ty
điều hành và quản lí công ty theo chế độ một thủ trưởng. Giám đốc là người trực tiếp
chỉ đạo các phòng ban và các bộ phận của công ty. Giám đốc có nhiệm vụ quản lí, xây
dựng chiến lược phát triển, đưa ra phương án đầu tư phát triển doanh nghiệp. Giám đốc
công ty chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty, phụ trách chung toàn bộ hoạt động
của công ty. Cũng là người đưa ra quyết định cuối cùng trong các cuộc họp bàn về việc
đổi mới kỹ thuật công nghệ, việc đề xuất ý kiến đầu tư vào một lĩnh vực kinh doanh.
Có nhiệm vụ báo cáo với cơ quan nhà nước về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty trong kỳ.
Các phòng kiểm toán doanh nghiệp: có nhiệm vụ kiểm toán các báo cáo tài
chính theo yêu cầu của khách hàng.
Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản: kiểm toán dự toán và quyết toán công trình
xây dựng cơ bản,lập báo cáo kiểm toán cho các doanh nghiệp xây lắp.

SVTH: ………………………………………………………………………Trang
25
Giám đốc
Phòng
kiểm
toán
doanh
nghiệp
2
Phòng
kiểm
toán
doanh
nghiệp
3

doanh
nghiệp
1
Chi
nhánh
tại Hà
Nội
Chi
nhánh
tại Đà
Nẵng
Văn
phòng
đại
diện
tại
Cần
Thơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status