Hoàn thiện kiểm toán doanh thu và nợ phải thu tại công ty kiểm toán và dịch vụ tin học (aisc) chi nhánh miền trung tại đà nẵng - Pdf 63

Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 1
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN DOANH THU
VÀ NỢ PHẢI THU
I. BẢN CHẤT CỦA CHU TRÌNH DOANH THU VÀ NỢ PHẢI THU:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bán hàng là khâu cuối cùng,
thông qua bán hàng giá trị và giá trị sử dụng của thành phẩm, hàng hoá được thực hiện,
vốn của doanh nghiệp được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị. Do đó,
doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra, bù đắp chi phí và có nguồn tích luỹ để sản xuất
kinh doanh.
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nhiệp thu hồi đựoc trong kỳ.
Nói cách khác doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được
hoặc sẽ thu được từ hoạt động bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hay bán hàng
hoá doanh nghiệp đã mua vào, nhằm bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Hoạt động bán hàng có ảnh huởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển bền vững
của doanh nghiệp.
Các khoản nợ phải thu là các khoản nợ của khách hàng về tiền bán sản phẩm,
hàng hoá, cung cấp lao vụ dịch vụ…theo phương thức bán chịu hoặc theo phương thức
nhận tiền trước.
1 . Chức năng cơ bản của chu trình Doanh thu và Nợ phải thu
Chu trình doanh thu là quá trình chuyển quyền sở hữu của hàng hoá thông qua
quá trình trao đổi hàng - tiền. Chu trình này là một quá trình có mục đích, song phương
thức thực hiện rất đa dạng. Việc nắm vững các chức năng cơ bản của chu trình này
giúp cho KTV hiểu biết và nghiên cứu quá trình kiểm soát nội bộ và thiết lập các thử
nghiệm cơ bản đối với các khoản mục liên quan.
Các chức năng cơ bản của chu trình này:
Xử lý các đơn đặt hàng của khách hàng: Yêu cầu về hàng hóa là điểm khởi

phần nào của quá trình ghi sổ kế toán cũng có thể gây ra những sai số đáng kể trên báo
cáo tài chính.
Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền: Bốn chức năng trên là cần thiết cho việc
vận chuyển hàng hoá đến khách hàng, các chức năng còn lại liên quan đến quá trình
thu tiền và ghi sổ các khoản phải thu. Trong việc xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền,
vấn đề quan trọng là khả năng các khoản phải thu đã được thu tiền nhưng chưa được
ghi sổ. Vì vậy cần phải có sự quản lý các khoản thu tiền bằng cách tất cả các khoản thu
tiền phải được ghi vào sổ nhật ký thu tiền và sổ cái phụ các khoản phải thu đúng lúc và
đúng số tiền để sau này dễ kiểm tra đối chiếu.
Xử lý và ghi sổ doanh thu bị trả lại và doanh thu giảm giá: Các khoản hàng
bán bị trả lại và giảm giá hàng bán xảy ra khi khách hàng không hài lòng về hàng hoá.
Do đó, khi xảy ra các tình huống này doanh nghiệp thường chấp nhận sự trả lại hàng
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 3
hoá hoặc cho người mua hưởng chiết khấu. Doanh thu hàng bán bị trả lại và doanh thu
giảm giá hàng bán cần phải được ghi sổ nhật ký doanh thu hàng bán bị trả lại và doanh
thu giảm giá hàng bán nhằm đảm bảo các khoản doanh thu này được ghi nhận chính
xác và phản ánh kịp thời. Các thư báo Có thường phát hành đối với các khoản giảm trừ
doanh thu để giúp cho việc duy trì sự kiểm soát và tạo thuận tiện cho việc ghi sổ.
Xoá sổ các khoản nợ không thu hồi được: Trong niên độ kế toán các công ty
thường gặp trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán như bị phá sản, thì công ty
phải lập bảng đề xuất xoá bỏ các khoản nợ đó ra khỏi các khoản phải thu để trình cấp
trên có thẩm quyền phê duyệt.
Dự phòng nợ khó đòi: Vào cuối mỗi niên độ kế toán, trên cơ sở quy chế tài
chính về lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, phân tích thực tiễn về khả năng thanh toán
của khách hàng, bộ phận kế toán thanh toán phải tính toán lập bảng phân tích và trích
lập dự phòng nợ phải thu khó đòi trình BGĐ xét duyệt để làm căn cứ hạch toán dự

lại và những bản ghi chép này được cộng tổng để bằng với tổng doanh thu ghi trên sổ
nhật ký. Các số tổng của các chi tiết trên sổ nhật ký thường được chuyển ghi hàng
tháng vào sổ cái tổng hợp.
Hóa đơn điều chỉnh: loại chứng từ chỉ rõ một khoản giảm trong số tiền
khách hàng nợ vì sự trả lại hàng hoá hay vì mức chiết khấu được hưởng. Hóa đơn điều
chỉnh thường có một mẫu chung như một hoá đơn bán hàng nhưng nó thường dùng để
chứng minh cho các khoản giảm của các khoản phải thu hơn là cho các khoản tăng.
Sổ nhật ký doanh thu bị trả lại và giảm giá: sổ này cơ bản giống như sổ nhật
ký bán hàng dùng để ghi lại doanh thu bị trả lại và doanh thu bị giảm giá.
Thư báo chuyển tiền: loại chứng từ này đính kèm hoá đơn bán hàng được
gửi cho khách mua hàng và sẽ được gửi trả lại cho người bán cùng với số tiền thanh
toán. Nó được dùng để nhận diện tên khách hàng, số của hoá đơn bán hàng, và số tiền
ghi trên hoá đơn khi nhận được thanh toán. Thư báo chuyển tiền được dùng để cho
phép ký gửi ngay tiền mặt và cải tiến quá trình kiểm soát đối với quyền bảo quản tài
sản.
Sổ nhật ký thu tiền: là sổ nhật ký dùng để ghi lại các khoản tiền mặt thu được
từ quá trình thu tiền, doanh số bằng tiền mặt và tất cả khoản thu bằng tiền mặt khác. Nó
chỉ rõ tổng số tiền mặt nhận được.
Các mẫu phê chuẩn các khoản không thu được: loại chứng từ này chỉ sử
dụng nội bộ có tác dụng cho phép xoá sổ một khoản phải thu được xem là khoản không
thu được.
Sổ chi tiết các khoản phải thu: loại sổ này được dùng để ghi sổ các doanh số
cá thể, các khoản thu tiền mặt, doanh số bị trả lại và được chiết khấu của từng khách
hàng. Tổng các số dư các tài khoản cá thể trên sổ cái phụ bằng với tổng số dư của các
khoản phải thu trên sổ cái tổng hợp.
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 5
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 6

TK 531,532 TK511,512 TK 111.112

Kết chuyển doanh thu hàng bán bị trả Doanh thu thu tiền ngay
lại, doanh thu giảm giá hàng bán TK 3387

Doanh thu Doanh thu
kỳ này nhận trước
TK 131,136
Doanh thu bán Thu tiền
hàng trả chậm
TK131
ThuếVAT
phải nộp Doanh thu hàng bán bị trả lại, được giảm trừ vào khoản phải thu

Doanh thu hàng bán bị trả lại, được giảm giá trả lại tiền cho khách hàng

4. Mục tiêu kiểm toán chu trình doanh thu và nợ phải thu
Kiểm toán chu trình doanh thu và thu nợ phải thu là một phần hành cụ thể trong
kiểm toán báo cáo tài chính. Vì vậy nhiệm vụ chung của kiểm toán chu trình này là

Các mục tiêu chung
khác:

- Có thật Hàng bán vận chuyển đến
khách hàng là có thật
Các khoản phải thu ở
khách hàng là có thật
- Trọn vẹn Mọi nghiệp vụ bán hàng đều
được ghi sổ
Mọi khoản phải thu đều
được ghi sổ
- Đánh giá Hàng đã vận chuyển và có
hoá đơn ghi giá bán được
thoả thuận
Các khoản phải thu được
đánh giá đúng
- Phân loại Các nghiệp vụ bán hàng
được phân loại thích hợp
Các khoản phải thu được
phân loại đúng
- Chính xác Các nghiệp vụ ghi vào sổ
tổng hợp chi tiết thích hợp và
khớp đúng các số cộng
Các khoản phải thu được
tính toán đúng
II. Các mục tiêu kiểm
toán nghiệp vụ

- Phê chuẩn Các nghiệp vụ bán hàng, kể
cả bán chịu đều được phê

Câu hỏi về kiểm soát nội bộ

Trả lời
Yếu kém
Ghi
chú
Câu hỏi
Không
áp
dụng
Có Không
Quan
trọng
Thứ
yếu

1. Các khoản bán chịu có được xét
duyệt trước khi gửi hàng hay không?
2. Các chứng từ gửi hàng có được
đánh số liên tục trước khi sử dụng
hay không?
3. Các hoá đơn bán hàng có được
đánh số liên tục trước khi sử dụng
hay không?
4. Có quy định bắt buộc kiểm tra để
bảo đảm rằng mọi hàng hoá gửi đi
đều đã được lập hoá đơn hay không?
5. Có bảng giá được duyệt để làm cơ
sở tính tiền trên hoá đơn hay không?


Các thử nghiệm cụ thể sẽ tuỳ thuộc vào thủ tục kiểm soát hiện hữu tại đơn vị. Để
hình dung được cách thiết kế các thử nghiệm kiểm soát đối với hoạt động này, chúng ta
sẽ xem xét một vài thử nghiệm cụ thể. Thí dụ, KTV thường chọn mẫu trong các hoá
đơn phát hành trong kỳ để:
- Đối chiếu với đơn đặt hàng, lệnh bán hàng, chứng từ chuyển hàng về chủng
loại, quy cách, số lượng, giá cả, ngày gửi hàng, chữ ký…nhằm thu thập bằng chứng
rằng hoá đơn được lập trên cơ sở các nghiệp vụ bán hàng thực sự xảy ra và quá trình
thực hiện nghiệp vụ đã tuân thủ đúng các quy định nội bộ của đơn vị.
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 10
- Kiểm tra chữ ký xét duyệt bán chịu và cơ sở xét duyệt để xem có tuân thủ các
thủ tục xét duyệt bán chịu hay không.
- Xem xét tổng cộng của từng loại hàng, tổng cộng từng hoá đơn, so sánh giá
trên hoá đơn với bảng giá được duyệt tại mỗi thời điểm. Thử nghiệm này nhằm chứng
minh rằng hoá đơn được tính giá chính xác và việc kiểm tra chúng trước khi gửi đi
được thực hiện một cách hữu hiệu.
- Sau khi xem xét về tính chính xác như trên, KTV sẽ lần theo các hoá đơn để
kiểm tra việc ghi chép chúng trên sổ sách kế toán. Trong hình thức nhật ký chung,
KTV sẽ từ hoá đơn để kiểm tra đến nhật ký; sau đó, tiếp tục đối chiếu số tổng cộng trên
nhật ký với tài khoản trên sổ cái. Thử nghiệm này nhằm thu thập bằng chứng về sự hữu
hiệu của các thủ tục kiểm soát liên quan đến việc ghi chép đầy đủ và chính xác các
nghiệp vụ bán hàng trên sổ sách kế toán.
Khi thử nghiệm, KTV còn cần chú ý về các thủ tục kiểm soát đối với các khoản
hàng ký gửi vì chúng có thể được ghi nhầm vào doanh thu bán hàng. Nếu đơn vị đã có
những thủ tục kiểm soát để ngăn chặn sai sót này, thí dụ như sử dụng biểu mẫu chứng
từ riêng để phản ánh các trường hợp hàng gửi bán, KTV sẽ thử nghiệm trên thủ tục
kiểm soát xem chúng có thực sự hiện hữu và vận hành đúng hay không.

Sau khi đã thực hiện các thử nghiệm trên, KTV sẽ đánh giá mức rủi ro kiểm soát
cho mỗi cơ sở dẫn liệu liên quan đến khoản nợ phải thu khách hàng và nghiệp vụ bán
hàng. Khi đánh giá, KTV nên nhận diện những điểm yếu của KSNB để mở rộng các
thử nghiệm cơ bản và những điểm mạnh cho phép giảm thiểu các thử nghiệm cơ bản.
2. Thử nghiệm cơ bản
Mối quan hệ giữa các mục tiêu kiểm toán và các thử nghiệm cơ bản: Doanh thu
và nợ phải thu khách hàng

Mục tiêu kiểm toán Thử nghiệm cơ bản
1. Doanh thu và nợ phải thu đã
được ghi nhận trên sổ là có căn cứ
hợp lý (Tồn tại, Hiện hữu).
1. Kiểm tra các hóa đơn bán hàng tới các đơn
đặt hàng của khách hàng và các hóa đơn vận
chuyển.
2. Xác nhận số dư tài khoản với các khách
hàng.
3. Kiểm tra kết quả thu tiền.
4. Rà soát trên Nhật ký bán hàng để phát hiện
các nghiệp vụ ghi trùng lặp.
5. Thực hiện thủ tục kiểm tra chia cắt kỳ kế
toán.
2. Tất cả các khoản doanh thu đều
được ghi chép đầy đủ (Tính trọn
vẹn).
1. Tìm dấu vết từ các hóa đơn vận chuyển tới
hóa đơn bán hàng và Nhật ký bán hàng.
2. Kiểm tra kết quả ghi chép của những hóa
đơn bán hàng trên Nhật ký bán hàng.
3. Thực hiện các thủ tục phân tích.

bố)
1. Lấy xác nhận từ ngân hàng và những định
chế tài chính.
2. Đánh giá những hợp đồng vay và biên bản
của hội đồng giám đốc.
3. Phỏng vấn ban quản trị.
4. Kiểm tra số dư tài khoản phải thu khách
hàng đối với các bên liên quan.
5. Doanh thu đã được ghi nhận
đúng đắn trong mối liên hệ với
GAAP và chuẩn mực hiện hành
(Trình bày và công bố).
Kiểm tra các chính sách ghi nhận doanh thu về
tính thích hợp và sự tồn tại.

2.1 Đối với kiểm toán Doanh thu
Các thử nghiệm cơ bản và mục tiêu kiểm toán của từng thủ tục đối với doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ được trình bày tóm tắt trong bảng sau :

Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 13
Loại Thủ tục kiểm toán Mục tiêu kiểm toán
Thủ tục
phân tích
Áp dụng các thủ tục phân tích Phát sinh. Đầy đủ.
Đánh giá
Thử

dịch vụ đã được ghi chép
Mục tiêu thử nghiệm là để phát hiện các nghiệp vụ bán hàng họăc cung cấp dịch
vụ không xảy ra nhưng lại được ghi trên sổ nhật ký bán hàng. KTV có thể đạt được
điều này bằng các thủ tục sau:
- Đối chiếu các khoản doanh thu bán hàng được ghi chép trên nhật ký bán hàng
với các chứng từ gốc liên quan, như đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, lệnh bán hàng
hoặc phiếu xuất kho, vận đơn, hoá đơn…Còn đối với doanh thu cung cấp dịch vụ, các
chứng từ gốc chứng minh cho nghiệp vụ phát sinh rất đa dạng vì phụ thuộc vào đặc
điểm kinh doanh của từng đơn vị. Trong trường hợp này, KTV căn cứ vào hiểu biết của
mình về hệ thống kiểm soát nội bộ để lựa chọn thủ tục kiểm toán cho phù hợp.
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 14
- Lấy mẫu các nghiệp vụ bán hàng và xem xét quá trình thu tiền. Đối với các
khoản đã được thanh toán, đó chính là bằng chứng cho biết nghiệp vụ bán hàng đã thực
sự xảy ra.
Ngoài ra KTV cần tìm hiểu việc ghi nhận doanh thu xem có phù hợp với các
điều kiện đã được quy định trong chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không.
Thí dụ, đối với doanh thu bán hàng, KTV cần xem xét phần lớn lợi ích và rủi ro
gắn với quyền sở hữu đã được chuyển giao cho bên mua hay chưa; bên bán đã chuyển
giao quyền quản lý hay chưa; số tiền doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn
và đơn vị đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai hay không; cuối cùng đơn
vị có xác định được những chi phí liên quan đến giao dịch mua bán hay chưa.
2.1.3 Kiểm tra sự ghi chép đầy đủ về các khoản doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ
Mục tiêu của thủ tục này là nhằm phát hiện các nghiệp vụ bán hàng hoặc cung
cấp dịch vụ không được ghi sổ kế toán. Do đó, KTV sẽ xuất phát từ những chứng từ
gốc để kiểm tra việc ghi chép các nghiệp vụ trên nhật ký bán hàng. Còn việc lựa chọn

nhận doanh thu có được xác định phù hợp với các qui định này hay không. Dưới đây là
một số thí dụ minh hoạ:
- Trong hoạt động bán hàng trả chậm, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
chỉ bao gồm giá trị hiện tại của các khoản tiền sẽ thu. Phần chênh lệch sẽ được ghi
nhận là doanh thu hoạt động tài chính.
- Trong hoạt động trao đổi tài sản không tương tự, doanh thu được xác định theo
giá trị hợp lý của tài sản nhận về sau khi điều chỉnh các khoản tiền ( hoặc tương đương
tiền ) trả thêm hoặc nhận thêm. Nếu không xác định được giá trị hợp lý của tài sản
nhận về, đơn vị có thể dùng giá trị hợp lý của tài sản mang đi trao đổi để điều chỉnh các
khoản tiền ( hoặc tương đương tiền ) trả thêm hoặc nhận bù.
- Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ có liên quan đến nhiều niên độ, doanh thu
được ghi nhận theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo đó, doanh thu được ghi nhận
vào kỳ kế toán theo tỷ lệ phần trăm công việc đã hoàn thành.
Trong những trường hợp trên, KTV bắt đầu bằng việc phỏng vấn đơn vị về
phương pháp kế toán sử dụng, xem xét sự phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán
hiện hành và tính nhất quán. Sau đó, KTV cần kiểm tra các dữ liệu sử dụng và việc tính
toán chính xác của đơn vị.
2.1.5 Kiểm tra việc phân loại doanh thu
Thử nghiệm này nhằm tránh những trường hợp không phân loại đúng nên dẫn
đến việc ghi chép, hay trình bày sai về doanh thu. Cụ thể, KTV sẽ xem xét về sự phân
biệt giữa:
Doanh thu bán chịu và doanh thu thu tiền ngay.
Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ và các khoản doanh thu hoạt động tài
chính như cho thuê cơ sở hạ tầng, các khoản lãi phát sinh do bán trả góp…
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 16
Các loại doanh thu là đối tượng của các loại thuế khác nhau ( thuế GTGT,

nghiệm
chi tiết
- Đối chiếu số dư đầu năm của tài khoản Nợ phải thu
khách hàng và Dự phòng phải thu khó đòi với số dư cuối
kỳ năm trước.
- Thu thập bảng số dư chi tiết phân tích theo tuổi nợ để:
+ Kiểm tra số tổng cộng trên bảng và đối chiếu với sổ chi
tiết và sổ Cái của tài khoản Nợ phải thu.
+ Đối chiếu số dư chi tiết của bảng với sổ chi tiết của các
khách hàng có liên quan.

- Gửi thư xác nhận đến khách hàng.

- Kiểm tra việc lập dự phòng nợ khó đòi.

Ghi chép chính xác
Hiện hữu, Quyền Sở
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai


Trình bày
và công bố
2.2.1 Thủ tục phân tích đối với nợ phải thu khách hàng
Kết quả phân tích là yếu tố quan trọng để lựa chọn các thử nghiệm chi tiết. Dưới
đây là một số thủ tục phân tích thường được sử dụng trong kiểm toán nợ phải thu:
a. Tính tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu
KTV thường tính tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu và so sánh với tỷ lệ của nghành
hoặc của năm trước. Sự biến động trong tỷ lệ lãi gộp có thể xuất phát từ hoạt động kinh
doanh của đơn vị, ví dụ sự thay đổi chính sách giá của đơn vị, biến động giá hàng mua
hoặc do thay đổi cơ cấu mặt hàng. Tuy nhiên, sự biến động của tỷ lệ lãi gộp cũng có
thể xuất phát từ các sai sót trong số liệu kế toán. Chẳng hạn việc ghi chép thiếu doanh
thu có thể làm tỷ lệ lãi gộp sụt giảm bất thường.
b. Tính số vòng quay nợ phải thu
Số vòng quay nợ phải thu được tính trên cơ sở đem chia doanh thu bán chịu cho
nợ phải thu bình quân. Việc so sánh tỷ số này với số liệu của ngành hoặc của năm
trước có thể giúp KTV hiểu biết về hoạt động kinh doanh của đơn vị cũng như dự đoán
khả năng có sai lệch trong báo cáo tài chính:
 Do sự thay đổi chính sách bán chịu của đơn vị, ví dụ đơn vị đã mở rộng hoặc
thu hẹp điều kiện, thời gian bán chịu...
 Khả năng tồn đọng nợ phải thu khó đòi trong nợ phải thu của đơn vị. Điều
này sẽ liên quan đến việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi.
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 18
 Sai lệch trong số liệu kế toán, ví dụ do việc ghi chép trùng lắp hay bỏ sót các
khoản phải thu khách hàng.
c. So sánh số dư nợ quá hạn năm nay so với năm trước
Thủ tục này cũng giúp KTV ghi nhận những biến động trong thu hồi nợ và khả


GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 19
Công ty XYZ
Bảng số dư chi tiết phân tích
theo tuổi nợ
Ngày 31/12/2007
Hồ sơ : B-1

Người lập:… Ngày:………
Người kiểm tra:……… Ngày:………

Trong đó
Tên khách
hàng
Số dư nợ
Nợ
trong
hạn
Nợ quá
hạn từ
1-30
ngày
Nợ quá
hạn
từ 31-60
ngày
Nợ quá
hạn

54000
V
V Đã cộng dồn hàng dọc và ngang
^ Đã kiểm tra ngày của các nghiệp vụ bán hàng chưa thanh toán tiền trên sổ chi tiết
C Các khách hàng được chọn để gủi thư xác nhận b. Gửi thư xin xác nhận đến khách hàng
Để xác nhận tính có thực (hiện hữu) của tài khoản Nợ phải thu khách hàng, thử
nghiệm được sử dụng phổ biến nhất là gửi thư xin xác nhận đến khách hàng. Đây là
một thủ tục rất quan trọng trong kiểm toán nợ phải thu như VAS 501: “Bằng chứng
kiểm toán-các chỉ dẫn bổ sung cho một số khoản mục đặc biệt ” đã quy định: “ Trường
hợp các khoản phải thu được xác định là trọng yếu trong báo cáo tài chính và có khả
năng khách nợ sẽ phúc đáp thư yêu cầu xác nhận các khoản nợ thì KTV phải lập kế
hoạch yêu cầu khách nợ xác nhận trực tiếp các khoản phải thu hoặc các số liệu tạo
thành số dư của tài khoản phải thu”.
Có hai phương pháp thu thập xác nhận từ khách hàng là: (i) yêu cầu khách
hàng trả lời trong mọi trường hợp và (ii) chỉ yêu cầu khách hàng trả lời nếu có bất đồng
với thông tin đề nghị xác nhận. Trong cả hai phương pháp, thư xác nhận phải do đơn vị
được kiểm toán đứng tên và đề nghị khách hàng nếu trả lời sẽ gửi trực tiếp cho KTV.
Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 20
Trong hai phương pháp trên, phương pháp thứ nhất đáng tin cậy hơn, vì nếu
không nhận được thư trả lời, nó sẽ là chỉ dẫn để KTV điều tra thêm. Trong khi đó, việc
không trả lời ở phương pháp xác nhận thứ hai là bằng chứng xác nhận rằng số liệu
đúng, dù rằng điều này có thể có không đúng (thí dụ, khi thư bị thất lạc hoặc khách
hàng không muốn trả lời). Do đó, phương pháp xác nhận thứ hai được xem là cung cấp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 21
Mẫu thư xác nhận yêu cầu trả lời trong mọi trường hợp

Công ty XYZ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
23 Đường 3 tháng 2 Độc lập- tư do -hạnh phúc
Quận 10 TPHCM   
Ngày 15 tháng 1 năm 2008

Kính gửi: Công ty Minh Thành
Trích yếu: V/V xác nhận số liệu cho mục đích kiểm toán.
Công ty kiểm toán M&N đang thực hiên kiểm toán báo cáo tài chính của chúng
tôi. Để phục vụ cho việc kiểm toán, đề nghị quý công ty xác nhận vào phần dưới
của thư này về số dư vào ngày 31/12/1007. Theo sổ sách của chúng tôi, số dư nợ
của quý công ty là 200.000.000đ
Xin quý công ty vui lòng xác nhân về số dư này và gửi về cho:
Kiểm toán viên Phan Văn Tâm
Công ty kiểm toán M&N
455 Nguyễn X.Quận Bình Thạnh. TPHCM.
Ngoài ra, nếu có chênh lệch, xin quý công ty vui lòng điền vào và cùng gửi bảng
kê chi tiết đính kèm. Chúng tôi có kèm theo đây một phong bì có dán tem và ghi
sẵn địa chỉ để quý công ty tiện sử dụng.
Xin thành thật cảm ơn
Giám đốc công ty XYZ

Phần xác nhận: Ngày 25/2/2008
Kính gửi : Ô. Phan Văn Tâm kiểm toán viên công ty kiểm toán M&N .
Số dư nợ 200.000.000 đồng vào ngày 31/12/2007 là đúng với sổ sách của chúng
tôi, ngoại trừ trường hợp đặc biệt được thuyết minh theo bảng kê chi tiết đính kèm

Chúng tôi có kèm theo đây một phong bì có dán tem và ghi sẵn địa chỉ để quý
công ty tiện sử dụng.
Xin thành thật cảm ơn
Giám đốc công ty XYZ

Khoản chênh lệch: Ngày 07 tháng 02 năm 2008

Kính gửi : Ô. Phan Văn Tâm kiểm toán viên công ty kiểm toán M&N .

Số dư nợ 200.000.000 đồng vào ngày 31/12/2007 là không phù hợp với sổ sách
của chúng tôi. Theo sổ sách của chúng tôi, số dư nợ phải trả cho công ty XYZ
là …………….

Giám đốc công ty Tân Hưng.

Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

SVTH: Lê Thị Thuỳ Dương Trang 23
PHẦN II
THỰC TẾ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN DOANH THU VÀ NỢ
PHẢI THU TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG ABC DO CÔNG TY
KIỂM TOÁN VÀ DỊCH VỤ TIN HỌC (AISC) CHI NHÁNH
MIỀN TRUNG TẠI ĐÀ NẴNG THỰC HIỆN

I. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ DỊCH VỤ TIN HỌC (AISC)
1. Lịch sử ra đời và phát triển của công ty Kiểm toán và dịch vụ tin học
Công ty Kiểm toán và Dịch vụ tin học (AISC) được thành lập theo thông báo số

kiểm toán hằng năm như Ngân hàng Đệ Nhất, Ngân hàng Tân Vịêt, Ngân hàng Phát
Triển Nhà HCM, Ngân hàng XNK (Eximbank), Sài Gòn Công Thương Ngân hàng…và
hệ thống ngân hàng đầu tư phát triển trên cả nước. Do công ty đã có nhiều nổ lực để
đầu tư phát triển và tạo dựng một dịch vụ chất lượng ổn định, vì thế ngay khi thị
thường chứng khoán ra đời thì công ty đã được UBCK Nhà nước công nhận đủ năng
lực kiểm toán các doanh nghiệp tham gia niêm yết chứng khoán. Năm 2000, công ty đã
tham gia kiểm toán một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này, trong đó có Transimex là
doanh nghiệp đã đưa cổ phiếu ra thị trường và Công ty gạch ngói Long Thành. Ngoài
ra, công ty cũng được mời kiểm toán một số đơn vị cổ phần hoá như: Công ty CP
Phương Nam, Công ty CP Sách và thiết bị trường học Đà Nẵng, Khách Sạn Phan
Thiết…
Với đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực kế
toán và kiểm toán đã đảm bảo chất lượng các dịch vụ mà công ty cung cấp ngày càng
cao. Theo chủ trương, hiện công ty AISC đã có chương trình cử kiểm toán viên của
công ty tham gia các khoá học lấy chứng chỉ CPA (kế toán viên công chứng nhà nước).
Để có những kết quả như vậy kể từ khi mới thành lập AISC đã thường xuyên quan tâm
đến công tác tuyển dụng và đào tạo kiểm toán viên. Đội ngũ cán bộ, Kiểm toán viên
của công ty đa số đều trẻ sau khi đủ điều kiện tuyển dụng, tập sự và thi lấy chứng chỉ
KTV đều được công ty gửi sang công ty liên doanh thực hành tích luỹ kinh nghiệm.
Trong quá trình công tác các KTV tiếp tục được cử đi tu nghiệp tại các nước phát triển
như: Anh, Bỉ,…trong chương trình dự án EURO-Tap Viet nên trình độ của các KTV
đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về kiểm toán cao nhất tại Việt Nam hiện nay.
2. Cơ cấu bộ máy quản lý, chức năng và nhiệm vụ của công ty AISC
2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại công ty AISC

Khoá luận tốt nghiệp


Có nhiệm vụ báo cáo với cơ quan nhà nước về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty trong kỳ.
Các phòng kiểm toán doanh nghiệp: có nhiệm vụ kiểm toán các báo cáo tài
chính theo yêu cầu của khách hàng.
Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản: kiểm toán dự toán và quyết toán công
trình xây dựng cơ bản,lập báo cáo kiểm toán cho các doanh nghiệp xây lắp.
Giám đốc
Phòng
kiểm
toán
doanh
nghiệp
2
Phòng
kiểm
toán
doanh
nghiệp
3
Phòng
kiểm
toán
doanh
nghiệp
4
Phòng
kiểm
toán
doanh
nghiệp

Chi
nhánh
tại Đà
Nẵng

Văn
phòng
đại
diện
tại Cần
Thơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status